Ba tác dụng lớn của Tài tinh: Một là sinh trợ Quan tinh, hai là hao tiết Thực Thương, ba là khắc tổn Ấn tinh.
- Sinh trợ Quan tinh: Tài là công cụ để sinh Quan, tác dụng lớn nhất của Tài tinh là có thể sinh Quan tinh, do đó sách mệnh nói “Thân vượng tự năng thắng Tài, Tài vượng tự năng sinh Quan”. Khi Tài tinh sinh Quan, Tài tinh giảm lực, Quan tinh tăng lực. Quan tinh đại diện cho quyền lực, địa vị, danh dự, đường lối, kế hoạch… do đó ở các nước quân chủ chuyên chế như Việt Nam, Trung Hoa, Hàn Quốc, Brunei… nơi tư tưởng “Quan bản vị” (lấy Quan làm gốc) là chủ đạo, Quan là vật cao quý khác biệt mà mọi người đều mơ ước theo đuổi, nên là đẹp nhất. Tài nếu đắc địa, không chỉ Tài phong phú, mà còn có thể vượng Quan, vận hành vượng tướng, phúc lộc đều đến; hễ gặp vận Quan liền có thể phát phúc. Quan tinh tất nhiên cũng phải hữu tình với Nhật chủ, Tài tinh mới có thể trở thành hỷ thần. Con người đều có ham muốn chi phối, đều có vật dục rất mạnh, nên Tài tinh là Thập Thần ai cũng muốn được lợi từ nó trong Bát Tự. Tiền tài có thể mua được quan, mua được quyền, mua được danh dự, mua được sắc đẹp của phụ nữ. Phương pháp vận dụng Tài tinh rất nhiều, vận dụng thỏa đáng, kiểm soát thích hợp, Tài tinh phát huy tác dụng tốt, thì dục vọng của bản thân có thể được thỏa mãn, mục tiêu có thể thực hiện, ngược lại, dục vọng của bản thân không được thỏa mãn, ngược lại trở thành nguồn gốc của đau khổ, đó chính là “nhân vi vật dịch” (người bị vật sai khiến). Nghĩ xem Tài tinh vốn bị tôi khắc chế, là thứ bị tôi sai khiến, nô dịch, cuối cùng lại trở thành thứ sai khiến, nô dịch tôi, thật sự rất đáng buồn, nhưng chuyện đáng buồn như vậy ngày ngày vẫn diễn ra trên thế giới này. Những quan chức bị ngã ngựa, vì sao ngã ngựa, không có ai là không liên quan đến tiền tài và phụ nữ cả. Dùng quan hệ sinh khắc của mệnh lý Tài, Quan, Ấn để suy ngẫm về quan trường, sẽ hiểu ra, quan thanh liêm theo ý nghĩa thực sự là không tồn tại. Dùng Tài sinh Quan Sát, chính là dùng tiền tài sắc đẹp để lấy lòng quan quý, dùng tiền tài sắc đẹp để đổi lấy danh vị. Tài là bạc trắng lấp lánh, là người đẹp mỹ miều, Quan là chức quyền và danh dự, dùng Tài sinh Quan là cầm tiền bạc và mỹ nữ đi nịnh bợ cấp trên, hoặc là cầm bạc đi mua quan. Đấy là chỉ xét phạm vi cá nhân, tất nhiên phạm vi lớn hơn thì người giỏi dùng Tài sinh Quan luôn là người biết làm kinh tế, giỏi làm kinh tế. Nữ mệnh dùng Tài sinh Quan Sát, là hỗ trợ kinh tế cho chồng hoặc tình nhân, nên có câu “vượng phu”. Tài là thân thể, lại là đường tình cảm của phụ nữ, dùng Tài sinh Quan Sát, là động lòng yêu đàn ông đó. Sợ nhất Thân yếu không gánh nổi Tài Quan, lúc này Quan Sát trở thành cái hố không đáy làm hao tổn tiền tài, biểu hiện nữ mệnh sẽ gặp phải người chồng xui xẻo, nam mệnh sẽ gặp phải con cái đến đòi nợ. Đương nhiên, Quan tinh cũng cần Tài tinh tương trợ, Quan tinh không có Tài tinh phụ trợ, gọi là “cô quan vô phụ”, làm quan cũng không làm lớn được, hoặc làm không được lâu.
2. Tài tiết Thực Thương. Nói cách khác là Tài tinh thích được Thực Thương sinh. Tài tinh là tượng của cải vật chất, xe cộ, tiền bạc, vợ, người tình. Thực Thương là bản lĩnh và kỹ năng để mưu cầu tài phú hoặc phụ nữ. Tài là núi vàng trước cửa, Thực Thương là sức lực để đào núi, Tài tiết Thực Thương chính là dựa vào bản lĩnh để đào núi, sáng tạo của cải; Tài là danh lợi, Thực Thương là kỹ thuật, kỹ thuật càng tốt thì danh lợi đạt được mới càng lớn; Tài là công ty, doanh nghiệp, thành tựu quy mô, Thực Thương là văn hóa và triết lý của doanh nghiệp, Tài tiết Thực Thương chính là dùng văn hóa để kinh doanh doanh nghiệp, ý tưởng càng hay, triết lý càng tốt thì doanh nghiệp mới có thể mạnh lên, làm lớn. Tài là danh tiếng, Thực Thương là tài ăn nói, Tài tiết Thực Thương chính là dựa vào tài ăn nói để kiếm cơm, tài ăn nói càng tốt thì thầy giáo mới dạy tốt, bài hát mới hát hay, danh tiếng mới càng lớn. Tài là kinh doanh, Thực Thương là chiến lược kinh doanh, chỉ người biết kinh doanh mới làm được kinh doanh. Tài tinh là đường tình cảm của phụ nữ, Thực Thương là đường tình cảm của đàn ông, muốn phụ nữ hưởng hạnh phúc thì đàn ông phải biết thương vợ. Tài là vật chất, Thực Thương là trí tuệ, chỉ người có trí tuệ mới có thể sáng tạo của cải. Nhưng nếu Thực Thương quá yếu không có khí, Tài lại đến tiết thì là quá độ. Dù có bản lĩnh lớn, trời cũng không thể sáng tạo được bao nhiêu của cải.
3. Tài tinh phá Ấn. Tài tinh là kẻ thù bẩm sinh của Ấn tinh, nên Tài gặp Ấn tất khắc. Ấn là lương tâm, Tài là tiền bạc, Tài khắc Ấn chính là vì tiền bạc mà không màng lương tâm. Ấn là học hành, đọc sách, Tài là của cải vật chất, Tài khắc Ấn chính là trọng vật dục mà nhẹ học hành, trọng theo đuổi vật chất mà nhẹ theo đuổi tinh thần, cho nên người phát tài thì không có văn hóa, người có văn hóa thì không phát tài; làm giáo sư thì không biết bán trứng, làm ông chủ thì đôi khi học thức kém; đây chính là một cặp mâu thuẫn thực tế. Ấn là danh dự, thể diện, Tài là tình cảm, vật dục, Tài khắc Ấn chính là vì trọng tình cảm mà không màng thể diện, vì tư lợi mà không cần mặt mũi. Đối với nam giới Ấn là mẹ, Tài là vợ, Tài khắc Ấn chính là mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu không hòa hợp, đàn ông kẹt ở giữa, vì vợ thì khó lo cho mẹ, trung hiếu không thể vẹn toàn. Ấn ở trước mà Tài ở sau, người thiếu niên khắc mẹ thường về già phát tài lớn. Ấn là quê hương bản quán, Tài là lợi ích kinh tế, Tài khắc Ấn chính là vì cầu tài mà rời xa quê hương. Do đó, Tài khắc Ấn cũng là tín hiệu di chuyển quan trọng, thường có ý tượng chuyển nhà, đổi đơn vị công tác, mua nhà, xe và cửa hàng,… Ấn lại là mẹ, Tài là cha, Tài khắc Ấn thì cũng có ý nghĩa mất mẹ và cha mẹ ly dị. Ấn là chỗ dựa, là quý nhân, Tài khắc Ấn thì có ý tượng mất chỗ dựa và quý nhân mà gặp nạn tai ương. Ấn còn là phúc khí, Tài khắc Ấn cũng sẽ lao lực nhiều, tổn hại thân thể, thậm chí mất mạng.





Gửi phản hồi cho #50. Tác dụng của Tỷ Kiếp – Tử Bình Thuật Hủy trả lời