Ba tác dụng lớn của Ấn tinh: Một là sinh trợ Mệnh chủ, hai là hóa tiết Quan Sát, ba là khắc chế Thực Thương.
- Sinh trợ Mệnh chủ: Ấn là vật sinh Thân, có được nó là có phúc khí, nên gọi là “Phúc Thần”. Ấn tinh đương lệnh là Phúc Thần trị thế, khiến người ngồi hưởng phúc ấm, ít bệnh tật sống lâu, lại nhiều văn tài. Ấn là mẹ, Thân là bản thân, Ấn sinh Mệnh chủ và Tỷ Kiếp, là mẹ che chở mình và anh chị em. Ấn là cho đi, Thân là nhận lấy, Ấn sinh Mệnh chủ là sữa của mẹ cho mình bú, tiền của mẹ cho mình tiêu, tình yêu của mẹ cho mình hưởng, lo lắng cho bản thân mình, thêm áo nấu cơm, nuôi dưỡng mình. Các cách cục khác đa phần thích Thân mạnh, chỉ có cách Ấn đa phần thích Thân yếu, nhưng Mệnh chủ phải có chút gốc rễ (căn khí), mới có thể nhận được Ấn sinh. Nếu Thân mạnh thì không cần Ấn sinh, Tỷ Kiếp còn phân đoạt phúc khí do Ấn tinh mang lại, gọi là “Tỷ Kiếp phân phúc”, phúc khí sẽ giảm bớt. Mẹ như con bò vàng già, ăn cỏ mà cho ra sữa, nên cách Ấn khi thuận dụng thì rất thích có Quan Sát tương trợ, để dinh dưỡng của mẹ cũng theo kịp, bản thân mới có nhiều sữa bú hơn, do đó quý khí càng tăng. Tuy nhiên, cách Ấn dù không có Quan Sát, nhưng chỉ cần Ấn tinh không bị tổn hại, thường cũng không thiếu quý khí. Ấn tinh được dụng, mẹ giáo dục đúng cách, bản thân sẽ tâm từ ham học, kỹ năng thành tựu. Hễ thấy Tài phá Ấn, có tượng không được mẹ chăm sóc, cung cấp chi phí ăn học, thì vừa tổn phúc khí vừa tổn học nghiệp, nếu Đại Vận đi vào đất Tài, Tài quá nhiều ắt tổn thân. Bát Tự Tài nhiều, bất lợi cho mẹ, nhưng được Tỷ Kiếp bảo vệ Ấn, liền có thể phát tài. Nếu Ấn vượng Thân mạnh, nhưng được Thực Thương tiết thân tú, cũng có thể có thành tựu về nghệ thuật. Chỉ sợ Ấn tinh quá nhiều, không có Tài phá Ấn, dù có Thực Thương cũng bị Kiêu Ấn (Thiên Ấn) khắc đoạt, như vậy là mẹ nuông chiều mình quá mức, nuông chiều sinh hư, phương pháp sai lầm, khiến mình quen thói dựa dẫm, lười biếng, thì dù có kỹ năng, cũng đa phần cô đơn nghèo khó.
- Hóa tiết Quan Sát: Quan Sát sinh Ấn, Ấn thì có thể ngược lại tiết khí của nó. Cách Ấn rất thích Quan Sát đến sinh. Trong trụ nếu Quan Sát quá vượng, thì Ấn có thể hóa tiết Quan Sát, bảo vệ Nhật chủ, khiến nó không công khắc Mệnh Nguyên. Khi Mệnh chủ yếu, Ấn tinh bằng cách cần được thuận dụng có thể thông qua việc lấy sức của Quan tinh để tăng cường sức mạnh cho Mệnh chủ. Ấn tinh là dùng học vấn để đạt công danh, dùng học vấn để giành danh lợi. Ấn là học hành, học giỏi thì làm quan, học hành là con đường hàng đầu để người ta giành lấy công danh. Quan là chính phủ, là tổ chức, bản thân học hành tốt rồi, có bản lĩnh, mới có thể được quan phủ công nhận, trao cho chức vụ và danh dự. Đương nhiên, Ấn không nên quá nhiều, quá nhiều sẽ tiết Quan quá nặng, sẽ khiến người ta lười biếng, thiếu đi ý chí tiến thủ, tương ứng sẽ giảm bớt quý khí. Nữ mệnh Quan tinh yếu, chồng sẽ không có thành tựu lớn. Quan Sát càng nhiều thì áp lực càng lớn, buộc người ta không ngừng nỗ lực, liều mạng phấn đấu, thành tựu đạt được cũng tương ứng sẽ lớn hơn.
- Ấn khắc Thực Thương: Ấn tinh là hấp thụ, Thực Thương là phát tiết. Hấp thụ quá nhiều thì phải phát tiết, phát tiết quá nhiều thì phải hấp thụ, thu chi cân bằng mới có lợi. Do đó dùng Ấn chế Thực Thương, khi Thực Thương quá nặng, là dùng hấp thụ để bù đắp tiêu hao, là bổ máu cấp oxy, là bổ sung kiến thức. Ấn tinh là truyền thống, chính thống; Thực Thương là thời thượng, mới lạ. Dùng Ấn chế Thực Thương là dùng truyền thống để kìm hãm thời thượng, không để bản thân ảo tưởng quá xa vời. Ấn tinh là thuận tòng và ổn định; Thực Thương là phản nghịch và biến động. Dùng Ấn chế Thực Thương là dùng thuận tòng để điều hòa phản nghịch, dùng ổn định để dẹp yên biến động. Thực Thương là sự biểu đạt tư tưởng và tài trí, Ấn tinh là trưởng bối. Dùng Ấn chế Thực Thương là trưởng bối ràng buộc tư tưởng và lời nói hành động của mình, bậc lão thành đàn áp sức sáng tạo của người trẻ. Ngoài ra, Thực Thương là thức ăn, là con cái, là vốn liếng. Dùng Ấn chế Thực Thương cũng có nghĩa tượng thiếu sữa thiếu ăn, con cái gặp tai ương, vì thức ăn mà sinh bệnh và đầu tư hao tài.
- Trường hợp đặc biệt: Thiên Ấn gặp Thực Thần thông qua tác dụng của địa chi hình thành tổ hợp gọi là “Kiêu Thần đoạt Thực” ; Ví dụ, Giáp gặp Nhâm là Kiêu Thần, Nhâm vượng sẽ khắc chế Thực Thần Bính Hỏa, Bính bị khắc mất, không thể sinh Thổ (Tài), Giáp Mộc sẽ không có Tài. Nhâm hợp mất Đinh (Thương Quan), khắc Tân (Chính Quan) của Giáp, Giáp Mộc sẽ không có Quan. Nhâm khắc mất Bính, Canh Sát được yên ổn, đến hại Giáp Mộc, Giáp Mộc sẽ sinh tai ương; Vì vậy, Kiêu Thần đoạt Thực vừa bất lợi cho con cái mà còn có thể gây ra phản ứng dây chuyền, khiến Tài Quan mất hết, phú quý không đến, rước Sát công thân. Do đó phàm mệnh mang Kiêu Thần, tổ hợp hình thành thì phúc mỏng yểu mệnh. Kiêu Thần với nam giới là mẹ kế, Thực Thần là con cái của mẹ, Kiêu Thần đoạt Thực thì bị mẹ kế bắt nạt, không cho con được tự do làm việc, kìm hãm, kiểm soát có điều kiện. Do đó, sách mệnh nói, người Kiêu Thần đoạt Thực, “tiến thoái hối lại, hữu thủy vô chung, tài nguyên lũ thành lũ bại, dung mạo nghiêng lệch, thân hình nhỏ bé, nhút nhát lòng hư, phàm sự vô thành, khắc hại lục thân, nhỏ khắc mẹ, lớn hại vợ con”. Nếu Kiêu Thần có chế phục, thì sẽ hóa hung thành cát. Cách chế phục Kiêu Thần là dùng Tài tinh chế hợp. Ví dụ, Nhật Giáp gặp Nhâm Thìn, Nhâm Tuất, trong Thìn Tuất có Mậu; Nhật Ất gặp Quý Mùi, Quý Sửu, trong Sửu Mùi có Kỷ… Kiêu Thần gặp Tài liền bị chế phục. Do đó sách mệnh nói: “Ấn tinh thiên giả thị Kiêu Thần, trụ nội tối hỷ kiến Tài tinh. Thân vượng ngộ thử phương vi phúc, Thân suy Kiêu vượng canh vô tình.”
Còn tiếp…





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.