6. Nghĩa Tượng Ấn khắc Thực Thương :
- Ấn tinh là hấp thụ, Thực Thương là phát tiết. Hấp thụ quá nhiều thì phải phát tiết, phát tiết quá nhiều thì phải hấp thụ, thu chi cân bằng mới có lợi cho người.
- Do đó dùng Ấn chế Thực Thương, khi Thực Thương quá nặng, là dùng hấp thụ để bù đắp tiêu hao, là bổ máu cấp oxy, là bổ sung kiến thức. Khi Ấn tinh quá nặng, dùng Ấn chế Thực Thương là dinh dưỡng dư thừa, ăn không hết phải mang về.
- Ấn tinh là truyền thống, chính thống; Thực Thương là thời thượng, mới lạ. Dùng Ấn chế Thực Thương là dùng truyền thống để kìm hãm thời thượng, dùng chính thống để pha loãng cái mới lạ.
- Ấn tinh là thuận tòng và ổn định; Thực Thương là phản nghịch và biến động. Dùng Ấn chế Thực Thương là dùng thuận tòng để điều hòa phản nghịch, dùng ổn định để dẹp yên biến động.
- Thực Thương là sự biểu đạt tư tưởng và tài trí, Ấn tinh là trưởng bối. Dùng Ấn chế Thực Thương là trưởng bối ràng buộc tư tưởng và lời nói hành động của mình.
- Ngoài ra, Thực Thương là thức ăn, là con cái, là vốn liếng. Dùng Ấn chế Thực Thương cũng có nghĩa tượng thiếu sữa thiếu ăn, con cái gặp tai ương, vì thức ăn mà sinh bệnh và đầu tư hao tài.
7. Nghĩa Tượng Thực Thương sinh Tài :
- Thực Thương là xu hướng sở thích của con người. Dùng Thực Thương chế Sát là ý ở công danh. Dùng Thực Thương sinh Tài là đặt tâm tư vào kinh tế và phụ nữ, cố gắng thỏa mãn vật dục của mình.
- Vì vậy người Bát Tự có Thực Thương mà không có Tài Quan, là người hành động tùy hứng, sở thích của họ không trực tiếp liên quan đến lợi ích kinh tế, hoặc nói trong lòng họ không mấy nghĩ đến tiền.
- Thông thường, người Thực Thần sinh Tài đều tương đối thực tế, thường vì đạt mục đích kinh tế mà hao tổn tâm trí, thậm chí không từ thủ đoạn. Do loại mệnh cách này rất thực tế, nên cũng rất thích ứng với trào lưu xã hội, sẽ nắm bắt cơ hội kiếm tiền. Loại mệnh cách này rất dễ phát tài.
- Do đó sách mệnh nói: “Thực Thương sinh Tài, phú quý tự thiên bài” (Phú quý do trời sắp đặt); “Thực Thần sinh vượng hỷ sinh Tài, Nhật chủ cương cường phúc lộc lai” ( Thực Thần sinh vượng thích sinh Tài, Nhật chủ cứng mạnh phúc lộc đến); “Thương Quan bội Ấn Tài vi dụng, văn chương kỹ nghệ tất siêu quần” (Thương Quan đeo Ấn lấy Tài làm dụng, văn chương kỹ nghệ ắt hơn người); “Thương Quan thương tận phục sinh Tài, Tài vượng sinh Quan hỗ hoán lai” Thương Quan thương tận lại sinh Tài, Tài vượng sinh Quan thay đổi cho nhau); “Thương Quan vô Tài khả thị, tuy xảo tất bần” ( Thương Quan không Tài để dựa, dù khéo cũng tất nghèo); “Thương Quan đa nhi vô y, tăng đạo kỹ nghệ” ( Thương Quan nhiều mà không nơi nương tựa, làm tăng đạo hoặc nghề kỹ thuật)…
8. Nghĩa Tượng Kiếp khắc Tài :
- Nghĩa tượng dùng Kiếp khắc Tài là dùng thân thể, quan hệ xã hội và nhân khí (sự ủng hộ) để trực tiếp cầu tài, vì Tỷ Kiếp đại diện cho thân thể, bạn bè và nhân khí.
- Dùng thân thể là dùng các cách như bán thân, bán sức, bán máu, bán nội tạng… để kiếm tiền. Dùng bạn bè và nhân khí là dùng các cách như hợp tác, liên kết, tranh cử công khai, bán hàng đa cấp… để cầu tài.
- Do đó người mệnh lý喜 (thích) Tỷ Kiếp, rất giỏi tạo dựng không khí và thanh thế, động thì tụ tập bè đảng, mưu tính thì rủ rê bạn bè, thích đầu cơ, tham gia cờ bạc, mua vé số… các hoạt động tương tự. Tính trực tiếp của họ rất mạnh, nói năng làm việc không thích vòng vo. Người mệnh cách không tốt, dễ nảy sinh ý đồ xấu như trộm cắp, cướp giật, tống tiền người khác.
- Tài tinh đại diện cho vợ, tình nhân của nam mệnh. Dùng Kiếp khắc Tài cũng có nghĩa tượng lấy vợ, ngoại tình.
- Nữ mệnh dùng Kiếp khắc Tài, là đóng van tình cảm của mình, không yêu chồng hoặc tình nhân.
- Sợ nhất mệnh cục kỵ Tỷ Kiếp, mà lại gặp Tỷ Kiếp trùng trùng khắc Tài tinh, đó chính là mệnh khắc cha khắc vợ, hôn nhân khó thành dễ tan, tiền tài hao tổn không tụ, lại không được sức của anh chị em, hay bị bạn bè đồng nghiệp làm liên lụy.
9. Nghĩa Tượng Quan Sát khắc Tỷ Kiếp:
- Quan Sát là công danh, pháp luật, áp lực cuộc sống và công việc; Tỷ Kiếp là bản thân mệnh nguyên. Dùng Quan Sát khắc Tỷ Kiếp là dùng công danh để ràng buộc bản thân, buộc mình nỗ lực phấn đấu.
- Đương nhiên, đối phó với Quan Sát nên dùng Ấn hóa hoặc Thực chế, không nên dùng Tỷ Kiếp trực tiếp chống lại Quan Sát, đó gọi là “lấy thân thử pháp”, lấy mạng tranh đấu, uy vũ thì có uy vũ, cứng rắn thì có cứng rắn, nhưng sẽ không có kết quả tốt đẹp, đa số chỉ trở thành liệt sĩ chống bạo lực.
- Nếu Sát nặng Thân nhẹ, sẽ “chung thân hữu tổn” (cả đời có tổn hại). Dù Thân mạnh Sát nông, cũng sẽ kiện tụng không yên.
- Tỷ Kiếp còn đại diện cho nhân khí, bị Quan Sát khắc ngã xuống, sẽ bị đám đông kỳ thị, giống như người ta kỳ thị người từng ngồi tù vậy.
- Tỷ Kiếp lại đại diện cho anh em bạn bè, khi bị Quan Sát khắc chế quá độ, anh em bạn bè của bạn sẽ gặp tai họa.
- Thông thường người có Thất Sát vượng ở Nguyệt Lệnh, đa phần là người “thượng đỉnh hạ đoan” ( trên khắc anh chị, dưới khắc em trai/gái), đôi khi còn họa lây đến bạn bè thân thiết.
- Nói thêm, Quan Sát là Phu tinh (sao chồng) của nữ mệnh. Quan Sát nhiều thì số lần kết hôn nhiều (không tính nếu không có gốc). Nếu Kiếp nặng Quan nhẹ, thì quan hệ vợ chồng sẽ rất kém. Ngược lại Quan nặng Thân nhẹ, thì hay bị chồng làm liên lụy hoặc bị chồng bắt nạt.
10. Nghĩa Tượng Thực Thương tiết Tỷ Kiếp :
- Thực Thương là suy nghĩ, là hành động, là trí mưu, là tài hoa; Tỷ Kiếp là thân thể. Dùng Thực Thương tiết Tỷ Kiếp là dùng tài trí thông minh của mình để giành lấy sự tán thưởng của người khác.
- Thực Thương tiết thân cũng có thể làm động thân thể, nên Thực Thương là sao Dịch Mã (驿马星) trong Thập Thần. Thân mạnh gặp Thực Thương tiết một cái, sẽ hoạt động nhiều, thích nói chuyện, thích lo chuyện bao đồng, nhiệt tình giúp đỡ người khác, thường xuyên còn đi xa.
- Nói thêm, Quan tinh đại diện cho công việc chức vụ, gặp Thực Thương khắc một cái, sẽ có sự thay đổi công việc chức vụ. Còn là thay đổi tốt hay xấu, thì phải xem Quan tinh là Hỷ hay Kỵ. Là Kỵ thì là thay đổi tốt, là Hỷ tự nhiên sẽ có họa đến đầu.
- Đương nhiên, nếu Tỷ Kiếp quá yếu mà Thực Thương quá vượng, Tỷ Kiếp như mắc bệnh tiêu chảy nặng, cũng không có sức lực để động đậy. Lúc này chỉ khi đi vào vận Tỷ Kiếp giúp thân mới hoạt động trở lại.
- Thông thường mệnh chủ bị Thực Thương tiết yếu đi, đa phần không thích nói chuyện, không muốn ra mặt, không thích đọc sách chính quy, sẽ có bệnh thường xuyên chóng mặt.
Nguồn: Tổng Hợp





Gửi phản hồi cho #57, Thuộc tính mười thiên can – Tử Bình Thuật Hủy trả lời