Cái gọi là vật chủng trong giới tự nhiên được chia thành năm loại lớn: Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ. Gọi là Ngũ Hành, cũng gọi là Năm Nguyên Tố (Ngũ Nguyên Tố), hay còn gọi là Gen Vật Chủng Ngũ Hành. Ví dụ, thực vật nói chung gọi là Mộc vật chủng, khoáng sản kim loại là Kim vật chủng, và tất cả cấu thành vật chất đất đai là Thổ vật chủng. Ba vật chủng này có hình thể nhìn thấy được và có chất lượng quan sát được. Còn vật chủng Thủy, Hỏa thì ngược lại, phải dựa vào hình thể hoặc tồn tại nhờ vào đâu đó mới có thể hoàn thành sự hóa thành vật chủng, vì Hỏa ở thể khí, Thủy ở thể lỏng cố định (ý chỉ trạng thái lỏng cơ bản). Những vật chủng này có ba phương pháp tồn tại: Bất Dịch (không thay đổi), Giản Dịch (đơn giản, dễ thay đổi), và Biến Dịch (biến hóa, phức tạp thay đổi).
Mỗi vật chủng có cấu thành “Thái Lượng” (có thể hiểu là bản chất/tinh túy/đại lượng cơ bản) với gen Bất Dịch, gen cấu thành trực tiếp Giản Dịch, và càng có gen Biến Dịch phức tạp nhất tạo hóa thành vật chủng. Vật chủng Thái Lượng có tính Biến Dịch phức tạp nhất là Thủy và Hỏa. Vì vậy, Thánh nhân xưa đã lấy Ngũ Hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ làm Thái Lượng vật chủng nền tảng (tông cơ vật chủng thái lượng), có thể lớn vô hạn và nhỏ vô cùng để vật chủng thành tượng thành hình. Sau đó mới phân chia thuộc tính Âm Dương, đực cái, trống mái, sinh sản đơn tính và song tính diễn dịch, cũng gọi là sự tụ-tách tiêu-trưởng của Âm Dương nhị khí Ngũ Hành.
Mỗi vật chủng có cá tính và bản tính trời phú (thiên phú cá tính dữ bẩm tính), càng có sự hài hòa của tính chung (cộng tính chi hòa hài). Ví dụ, cây thuộc Mộc vật chủng, thuần túy Mộc tính. Còn sợi hóa học từ quần áo thì là sự tổ hợp cộng tính của Biến Dịch.
Bản tính vật chủng của mỗi người là:
- Thuần Thanh: Như Giáp Dần, Ất Mão, Canh Thân, Tân Dậu (khí thế như một – Can Chi cùng hành, tương trợ).
- Thanh Trọc Nhất Thể: Như Mậu Thìn, Mậu Tuất, Kỷ Sửu, Kỷ Mùi (Can Chi cùng hành Thổ).
- Trọc: Như Bính Ngọ, Đinh Tỵ, Nhâm Tý, Quý Hợi (Can Chi cùng hành Hỏa/Thủy).
Từ trên có thể nghiên cứu, hình thể tồn tại của Ngũ Hành vật chủng có ba loại: Thanh, Trọc, Thanh Trọc. Tương ứng: Âm, Dương, Âm Dương.
- Vật chủng Âm tính là Bất Dịch.
- Vật chủng Dương tính là Giản Dịch.
- Vật chủng Âm Dương là Biến Dịch.
Mô thức vận hóa Thái Lượng Ngũ Hành vật chủng của bất kỳ mô hình huyền học nào chính là: Âm, Dương, Âm Dương. Gồm ba loại: Âm Âm, Dương Dương, Âm Dương và Dương Âm. Tất cả vật chủng trong vũ trụ đều tồn tại và sinh sống như vậy.
Ví dụ, mệnh người thuộc Mộc chủng, gen Thái Lượng Giáp Dương Ất Âm. Thuần Thanh là Giáp Dần, Ất Mão. Hỗn Trọc là Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, và Ất Hợi, Ất Dậu, Ất Mùi, Ất Tỵ, Ất Sửu.
Sự độc lập tự chủ và sự dựa dẫm vào thế lực khác của những vật chủng này đã cấu thành nên vạn nghìn sự tiêu trưởng biến hóa vô cùng của Thái Lượng vật chủng mệnh người. Không có một Thái Cực vật chủng nào tuyệt đối giống với một vật chủng khác. Chỉ có sự tồn tại cộng tính qua sao chép loại suy toàn tức (toàn tức loại tỉ phục chế). Mà những vật chủng muôn hình vạn trạng vô cùng vô hạn này chỉ là nguồn gen của vật chủng, chứ không phải quá trình sinh trưởng của vật chủng.
Sự ấp ủ sinh thành của mỗi vật chủng đều không thể tách rời sự công chuyển thuộc tính xã hội (năng lượng Dương và năng lượng Âm), chỉ có công chuyển mới có thể tồn tại. Sự tồn tại của mỗi vật chủng cũng bị chi phối và tạo thành bởi sự kiểm soát của năng lượng Âm Dương không thời gian. Đây chính là Dương là Trời là Mặt Trời, Âm là Đất là Mặt Trăng, một bên sinh trợ (sinh phù), một bên bảo vệ (hộ vệ).
Tất cả vạn vật trong Hệ Địa-Nguyệt (Trái Đất – Mặt Trăng) đều chịu sự chi phối của sự tiêu trưởng Thần Quang Nhật Nguyệt (Ánh sáng Trời, Đức của Đất). Vì Hệ Mặt Trời bao gồm Hệ Địa-Nguyệt, Mặt Trăng bao quanh Trái Đất, Mặt Trời ví như tất cả Thiên Quang vũ trụ giáng xuống, Mặt Trăng chỉ ấp ủ vật chất sinh mệnh của Trái Đất, nắm giữ quy luật tự nhiên sinh tử của vật chủng Trái Đất.
Địa Đức Mặt Trăng chủ về sinh tử, Thiên Quang Mặt Trời chủ về danh chủng (tên loài, loại hình vật chủng). “Một Âm một Dương gọi là Đạo” chính là chỉ sự tiêu trưởng Nhật Nguyệt này, sự biến thiên Động Tĩnh hình thành nên nhân quả vận hóa Ngũ Hành.
Còn về vật chủng nào là Cục Thái Âm, Cách Thái Dương, đó chỉ là vật chủng tự nhiên bản tính Tiên Thiên, cái gọi là “Rồng sinh rồng, phượng sinh phượng, chuột sinh ra đã biết đào hang”. Đây là sự hạn chế tự nhiên của vật chủng và chức năng vật chủng hình thành từ chuỗi sinh học xã hội, được lập trình để duy trì sự cân bằng của một chuỗi sinh học cá thể nào đó trong vũ trụ. Vì vậy Cục Cách của mỗi vật chủng chỉ quyết định sự hóa biến gen Thái Lượng Tiên Thiên của vật chủng đó, chứ không phải (quá trình) Hậu Thiên từ sinh đến tử của vật chủng này.
Nhận thức được những điều giải thích ở trên, thì có thể biết Cục cát và Cách cát, Cục hung và Cách hung của Thiên Mệnh Bát Tự, không phải là nhân quả cát hung do năng lượng vũ trụ cốt lõi quyết định quá trình sinh tử của vật chủng. Thiếu Âm Thiếu Dương trong Bát Tự mới là mấu chốt cát hung biến thiên của đời người. Vì vậy, Dụng Thần Nhật Nguyệt là đấng nắm quyền tối cao chi phối hành trình từ lúc sinh ra đến lúc chết đi của vật chủng nguyên thủy, quyết định độ dài ngắn sinh tồn và tầng lớp cao thấp chất lượng cuộc sống của mỗi vật chủng.
Phong thủy của bất kỳ Âm Trạch Dương Trạch nào, đều là nhân quả không thời gian do Thần Công Nhật Nguyệt vào một thời kỳ nào đó thành tựu nên một vật chủng nào đó. Phong thủy là chương trình cấu hình phục vụ cho Thiên Mệnh. Học về Bát Tự, gen vật chủng mệnh người thanh trọc, bản tính di truyền, chỉ là tín tượng của phần Tiên Thiên. Còn về việc quyết định sinh tử và tầng lớp công danh lợi lộc của con người, tất yếu phải xem xét sự tiêu trưởng của Nhật Nguyệt.
Ngũ Hành (Can Chi) đại diện Thuộc tính Tự Nhiên (Bản Thể) -> Liên quan đến Thiên Đạo.
Thập Thần đại diện Thuộc tính Xã Hội (Công Dụng) -> Liên quan đến Địa Đạo / Nhân Đạo.
Nhật Nguyệt là đấng nắm giữ tất cả sinh mệnh vật chủng. Thiếu Âm Thiếu Dương của Hình Khí Pháp chính là sao chép toàn tức Thần Công tiêu trưởng của Nhật Nguyệt. Người mới học rất khó phân biệt Cát Hung của Cục Ngũ Hành Thái Âm và Cát Hung của Cách Thập Thần Thái Dương đại diện cho điều gì? Cần ghi nhớ: đó là sự tổ hợp Tiên Thiên bất động của vật chủng ấp ủ thành Mệnh, chứ không phải là Vận quyết định sinh tử. Trời tạo Đất đặt, là hai khái niệm.
Bản Thể (Ngũ Hành) Thể hiện qua các Can tàng đại diện cho Thế Lực của vật chủng. Ví dụ: Thân -> Mậu Nhâm Canh; Hợi -> Mậu Giáp Nhâm
Công dụng thập Thần đại diện cho Quan Hệ Tác Dụng của Thế Lực. Ví dụ Tuất: Tân Đinh Mậu -> Chính Quan Thương Quan Thiên Tài – Nếu Mậu là Lệnh thì thành Cách Thiên Tài.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.