Hãy nắm vững nền tảng. *Thiên tôn địa ti, dương kỳ âm ngẫu, dương bản âm, âm hữu dương, thiên y hình, địa phụ khí* – đây là những khái niệm được ứng dụng thực tế trong mệnh lý và phong thủy.  

*Thiên tôn*: Chỉ phía trên, là dương, là khí, là sinh, là động, là hồn, là số lẻ, được biểu thị bằng thiên can.  

*Địa ti*: Chỉ phía dưới, là âm, là hình, là thành, là tĩnh, là thời, là vị, là phách, là số chẵn, được biểu thị bằng địa chi.

Ví dụ Càn tạo : Giáp Thìn – Bính Dần – Kỷ Mão – Nhâm Thân 

*Thiên tôn*: Giáp, Bính, Kỷ, Nhâm – toàn là dương khí, nằm trên địa chi, chủ về ngày chủ (Kỷ) và môi trường bên ngoài của bản mệnh và lục thân (những việc ngoài thân), thường được gọi là thuộc tính xã hội.  

 *Địa ti*: Thìn, Dần, Mão, Thân – toàn là âm hình, nằm trong sự bao phủ của thiên can, chủ về phương vị, thời gian, 24 tiết khí, môi trường bên trong của ngày chủ và lục thân (những thứ trong thân), thường được gọi là môi trường tự nhiên.  

*Thiên chủ công dụng, địa chủ bản thể; thiên chủ khí trong, địa chủ hình đục. Thiên tôn địa ti là luận tổng thể, còn các giải thích khác là chi tiết bộ phận. Đây là cách diễn tả trạng thái tồn tại không thay đổi của thiên can địa chi, là quy luật tự nhiên của trời đất, không phải do con người thay đổi được. Đừng đơn giản hóa nhận thức của cổ nhân về trời đất thành chỉ là “trên là trời, dưới là đất”, vì thiên tôn địa ti là tư duy tổng thể, là đại Thái Cực âm dương, không phải vô số tiểu Thái Cực bộ phận.  

Làm sao biến luật Âm Dương không đổi của trời đất thành công năng sinh thành hóa dục theo kiểu “Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”? 

“ Dương bản âm, âm dục dương ” chính là khởi đầu của sinh mệnh vạn vật. Vì vậy, lý của bát tự thiên can địa chi chính là cơ lý này. Cổ nhân quan sát trời đất, tổng kết rằng “ Trên trời thành tượng, dưới đất thành hình ”, tương ứng với vạn sự vạn vật. Dương khí của thiên can là ánh sáng trời chiếu xuống, nhưng nếu không có sự che chở và hóa dục thì không đủ, nên mới có “ Địa đức thượng tải, dương bản âm ”.  

“ Dương bản âm “ : Chỉ âm dương nhị khí mà mỗi tiểu Thái Cực của vạn vật tự sinh tự chứa.  

– Ví dụ: Ngày chủ Kỷ Mão, chân chính “dương bản âm, âm dục dương” là Mùi hoặc Sửu (chứa bản khí âm để dục dương), còn Mão không thể âm dục dương. Để hiểu mỗi thiên can trong tiểu Thái Cực âm dục dương, phải dựa vào bản khí căn.  Chỉ khi có âm dục dương trong sự hóa sinh của vạn vật, mới có lý luận rằng dương khí bắt nguồn từ âm hình. Nhiều người học dịch nhầm tưởng khí bị giới hạn bởi hình, chỉ thấy công dụng của bản khí căn hiển lộ bên ngoài, nhưng thực ra còn có cơ lý sâu hơn ẩn chứa bên trong.  

– Khí của Kỷ có 6 trạng thái phụ thuộc: Kỷ Mão, Kỷ Sửu, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Mùi, Kỷ Tỵ – đều là *Thiên y hình*.  

– Hình của Mão có 5 loại phụ khí: Kỷ Mão, Đinh Mão, Canh Mão, Ất Mão, Tân Mão – đều là *Địa phụ khí*.  

Khi bố trí ‘ Thiên y hình ‘ và ‘ Địa phụ khí ‘ vào bát tự, chắc chắn sẽ có hình khí không đầy đủ. Khi áp dụng vào dương trạch âm trạch, có thể trực tiếp phản ánh sinh tử, cát hung của vạn vật, thậm chí suy ra thời hạn ứng kỳ. Sự hóa sinh của thiên can địa chi còn rất nhiều, đây chỉ là dẫn đường. Ngộ thông tư duy tổng thể của ‘ Thiên y hình địa phụ khí ‘ không khó, khó là phân tích vi mô vô tận trong tổng thể.  

– Mỗi thiên can có 6 loại y hình.  

– Mỗi địa chi có 5 loại phụ khí.  

Nguyên Tác: PN


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

3 bình luận cho “#30. Thảo Luận nguồn gốc nguyên thủy can chi”

  1. […] Ấn Tinh (印星的作用 – Sao Ấn) #43. Loại Tượng của Thập Thần #30. Thảo Luận nguồn gốc nguyên thủy can chi #23. “Lục Thập Hoa Giáp” và “Chân […]

    Thích

  2. […] #30. Thảo Luận nguồn gốc nguyên thủy can chi #32. Ý Nghĩa Mộ và Khố […]

    Thích

  3. […] #31. Nhật can tường giải #30. Thảo Luận nguồn gốc nguyên thủy can chi […]

    Thích

Gửi phản hồi cho #51. Giải độc 12 cung trường sinh – Tử Bình Thuật Hủy trả lời

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc