Người xưa khi tiến hành quan sát thiên văn hoặc trong đời sống hàng ngày đều cần phải phân biệt phương hướng, coi đó như một dạng tham chiếu, điều này cũng tương đương với việc thiết lập một loại tọa độ, thuận tiện cho việc sử dụng và giao tiếp.

Địa bàn phương vị (Phương vị trên mặt đất)

Sách “Thuyết Văn Giải Tự” ghi: “Thập, là công cụ của số đếm, một nét là Đông Tây, một nét là Nam Bắc, thế là bốn phương và trung tâm đã đủ.” Ở đây, Hứa Thận cho rằng chữ “Thập” đại diện cho hình ảnh giao nhau của đường Tý Ngọ (kinh tuyến) và đường Mão Dậu (vĩ tuyến) trên bản đồ. Người bình thường cho rằng có “bốn phương Đông Tây Nam Bắc” là đã đủ dùng. Ranh giới ruộng đất gọi là “tứ chí”, xung quanh nhà ở gọi là “tứ lân”, chí làm trai ở “tứ phương”, Trung Quốc ở trong “tứ hải”, những từ “tứ” này đều chỉ bốn phương vị Đông Tây Nam Bắc.

Xung quanh một địa điểm, phân ra “trước, sau, trái, phải”. Người xưa coi phương Nam là tôn quý, vì Mặt Trời di chuyển ở phương Nam, nên người phải quay mặt về Nam, lưng về Bắc, nhà cửa phải tọa Bắc triều Nam. Khi người quay mặt về phương Nam, thì Nam ở phía trước, Bắc ở phía sau, bên trái là Đông, bên phải là Tây. Sách “Thi Tử” liên kết Đông Tây Nam Bắc với bốn mùa. Sách “Quản Tử” nói: “Xuân (Đông) sinh ở bên trái, Thu (Tây) sát ở bên phải, Hạ (Nam) trưởng ở phía trước, Đông (Bắc) tàng ở phía sau.”

Đối với bản đồ treo trên tường cũng chia thành “trên, dưới, trái, phải”. Thói quen của người xưa là trên Nam dưới Bắc, trái Đông phải Tây.

Người xưa cho rằng trời tròn như ngọc bích, đất vuông như ngọc tông. Vì vậy đất có tám phương, tức là bốn phương chính cộng với bốn phương góc (tứ ngung), thường gọi là bốn mặt tám hướng (tứ diện bát phương). Sau này kết hợp với Bát Quái, tương ứng với tám phương vị. Khi xác định phương vị, lấy lúc Mặt Trời lên cao nhất, chính phía dưới nó là chính Nam, lúc này bóng của cọc đo nắng (khuê biểu) trên mặt đất là ngắn nhất. Vào lúc Xuân Phân và Thu Phân, hướng Mặt Trời mọc và lặn là chính Đông và chính Tây.

Người xưa có nhiều phương pháp đo phương vị trên mặt đất, dưới đây liệt kê một số:

Một, Phương pháp ghi trong “Khảo Công Ký”: Trên mặt đất bằng phẳng, vẽ một vòng tròn, tại tâm vòng tròn dựng một cây cọc thẳng đứng. Dựa vào hai vị trí bóng cọc lúc Mặt Trời mọc và lặn, vẽ hai đường thẳng trên mặt đất. Hai giao điểm của hai đường thẳng này với vòng tròn, nối hai giao điểm đó lại thành đường thẳng chính Đông-Tây, đường vuông góc với nó là đường chính Nam-Bắc. Phương pháp xác định này gọi là “Chính Triêu Tịch”.

Hai, Phương pháp ghi trong “Hoài Nam Tử”: Trên mặt đất bằng phẳng, dựng một cây cọc đo cố định (gọi là định biểu), lấy mười bước làm bán kính, lấy cọc đo làm tâm vẽ vòng tròn. Đặt một cây cọc đo di động (gọi là du biểu) trên chu vi vòng tròn. Lúc Mặt Trời mọc, từ định biểu nhìn về Mặt Trời ở phía Đông, đồng thời di chuyển du biểu vào giữa định biểu và Mặt Trời, sao cho định biểu, du biểu, Mặt Trời thẳng hàng, ghi lại vị trí của du biểu trên vòng tròn lúc này. Đến lúc Mặt Trời lặn, lại di chuyển du biểu, sao cho ba điểm thẳng hàng, ghi lại vị trí của du biểu lúc này. Hai điểm ghi trên vòng tròn, nối thành đường thẳng chính là đường chính Nam-Bắc, đường vuông góc với nó là đường chính Đông-Tây. Phương pháp này gọi là “Lập Triêu Tịch”.

Ba, Phương pháp Chính phương: Quách Thủ Kính đời Nguyên dùng một tấm bảng vuông đặt phẳng, mỗi cạnh bốn thước, trên mặt bảng vẽ mười chín vòng tròn đồng tâm, tại tâm dựng một cây cọc đo. Đầu bóng của cọc, lúc Mặt Trời mọc và lặn ở ngoài rìa phía Tây của bảng, dần di chuyển vào vòng ngoài cùng trong bảng; Mặt Trời dần về phía Nam, bóng cọc dần ngắn lại, lúc Mặt Trời ở chính Nam thì bóng ngắn nhất; sau đó bóng dần dài ra, đầu bóng dần di chuyển về phía Đông, từ vòng ngoài cùng di chuyển ra khỏi rìa phía Đông của bảng. Đánh dấu vị trí các giao điểm khi quỹ đạo đầu bóng đi qua các vòng tròn, bất kỳ hai giao điểm nào trên cùng một vòng tròn nối lại đều là đường chính Đông-Tây. Chỉ cần trong mười chín vòng tròn, có bất kỳ vòng nào có đủ hai giao điểm là có thể đo được đường chính Đông-Tây.

Bốn, Phương pháp quan sát sao Bắc Cực ban đêm: Sách “Khảo Công Ký” cho rằng đường Nam-Bắc xác định bằng bóng cọc ban ngày, ban đêm cần đối chiếu lại với sao Bắc Cực để kiểm chứng.

Năm, Phương pháp kim nam châm: Lấy cây kim dài có từ tính, treo lơ lửng trong không trung, hoặc đặt trên miếng gỗ nhỏ nổi trên mặt nước, hoặc khoét một lỗ lõm ở giữa thân kim, lồng vào đầu một cây cọc dựng đứng, đều có thể tự do chỉ hướng Nam-Bắc.

Sáu, Phương pháp xe chỉ Nam: Tương truyền Hoàng Đế chế tạo xe chỉ Nam, trên xe có người gỗ, dù xe đi về hướng nào, người gỗ luôn chỉ về phương Nam. Chiếc xe này ngày nay xem ra là một cơ cấu cơ khí, các đời sau đều có người nghiên cứu chế tạo lại.

Bốn mùa, bốn phương và học thuyết Can Chi Ngũ Hành

Người xưa trong các hoạt động đã phát hiện sự khác biệt khí hậu ở các nơi, từ đó tổng kết ra quy luật phương Bắc lạnh, phương Nam ấm. Người xưa cho rằng mọi thứ trên đời đều chịu sự chi phối của vòng vận hành Ngũ Hành, các mùa ở bốn phương cũng vậy. Phương Bắc lạnh thuộc Thủy, mà Thiên Can Nhâm, Quý, Địa Chi Hợi, Tí, Sửu, và mùa Đông cũng đều thuộc Thủy. Phương Nam ấm thuộc Hỏa, Thiên Can Bính, Đinh, Địa Chi Tị, Ngọ, Mùi, và mùa Hạ cũng đều thuộc Hỏa. Phương Đông sinh sôi thuộc Mộc, Thiên Can Giáp, Ất, Địa Chi Dần, Mão, Thìn, và mùa Xuân cũng thuộc Mộc. Phương Tây thu liễm thuộc Kim, Thiên Can Canh, Tân, Địa Chi Thân, Dậu, Tuất, và mùa Thu cũng thuộc Kim. Các Thiên Can còn lại Mậu, Kỷ ở trung ương thuộc Thổ, và ký sinh vào các Địa Chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cùng mười tám ngày cuối của mỗi mùa. Xem xét sự thay đổi trong một ngày, ban đêm âm hàn nên thuộc Thủy, ban ngày dương sáng nên thuộc Hỏa, buổi sáng từ lạnh chuyển ấm thuộc Mộc, hoàng hôn từ ấm chuyển lạnh thuộc Kim. Lại phối hợp với Âm Dương và Bát Quái, từ đó cấu thành nên bộ khung của học phái Âm Dương Ngũ Hành. Ở thời cổ đại, các nhà Âm Dương gia thường cũng chính là các nhà thiên văn học, kể cả phương Tây cũng vậy, Kepler, người phát hiện ba định luật về chuyển động của hành tinh, cũng từng kiếm sống bằng chiêm tinh (tinh chiếm).

Nhị thập tứ sơn, Lục thập long, Thất thập nhị long

Theo thuyết trời tròn đất bằng, xung quanh vòng chân trời có thể thấy các dãy núi không liên tục, nên người xưa cũng dùng núi để chỉ phương vị. Phổ biến nhất là “Nhị thập tứ sơn” (24 Sơn vị), tức là sự kết hợp của tám Can (trong Thiên Can), bốn Duy (Tứ Duy, tức bốn hướng góc) và mười hai Thần (Thập nhị thần, tức 12 Địa Chi), gọi tắt là “Duy Thần”. Chia chu vi thành hai mươi bốn phần bằng nhau. Trong hồn nghi do Khổng Đĩnh chế tạo, vòng chân trời của nó “ghi các Duy Thần”. Hồn nghi của Khổng Đĩnh được chế tạo theo hồn nghi cổ, hồn nghi cổ ở đây chỉ hồn nghi của Trương Hành, vì vậy Nhị thập tứ sơn đã xuất hiện từ thời Tây Hán.

Thẩm Quát gọi Nhị thập tứ sơn là “Nhị thập tứ chí”. La kinh (la bàn phong thủy) đời Tống chia ô, giữa hai Sơn vị lại chia nhỏ thành mười ô nhỏ, tổng cộng 240 ô nhỏ. Hiện nay, chiếc hồn nghi đời Minh tại Đài thiên văn Tử Kim Sơn mô phỏng theo hồn nghi của Quách Thủ Kính, các ô nhỏ của Nhị thập tứ sơn khắc trên vòng chân trời cũng được chia thành mười ô. Người xưa khi đi biển dùng la bàn để định hướng, trên la bàn cũng sử dụng phương vị Nhị thập tứ sơn.

Vào đời Đường, các thuật sĩ đã sáng tạo ra hệ thống phương vị “Lục thập phân long” (60 Phân Long), tức là chia toàn bộ vòng tròn thành mười hai Thần (12 Địa Chi), sau đó mỗi Thần lại chia nhỏ thành năm ô. Sáu Địa Chi dương, năm ô của mỗi chi được phối hợp với các Thiên Can dương theo thứ tự Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm, ví dụ như Giáp Tí, Bính Tí… Sáu Địa Chi âm, năm ô của mỗi chi được phối hợp với các Thiên Can âm. Tổng cộng gọi là “Thai cốt lục thập long” hoặc “Thấu địa lục thập long”. Nhưng Nhị thập tứ sơn không chia hết cho Lục thập long, vì vậy một số thuật sĩ lại sáng tạo ra hệ thống phương vị “Xuyên sơn thất thập nhị long” (72 Xuyên Sơn Long), tức là Lục thập long cộng thêm tám Can và bốn Duy (60 + 8 + 4 = 72), như vậy Nhị thập tứ sơn có thể chia hết cho Thất thập nhị long. Câu nói “một sơn quản ba long” chính là nói về điều này.

Tuy nhiên, Lục thập long và Thất thập nhị long chỉ liên quan đến phong thủy âm trạch (tàng địa phong thủy), thuộc về thuật số, không còn liên quan đến thiên văn học.

Đo độ cao xuất địa (Độ cao so với đường chân trời)

“Nhật cao tam trượng”, “Nhật thượng tam can”, “Nguyệt thượng liễu sao đầu”, đây đều là những câu nói thường gặp, nhưng những mô tả này khá mơ hồ. Sách “Khai Nguyên Chiêm Kinh” dẫn “Thạch Thị Tinh Đồ” thời Xuân Thu Chiến Quốc đã có ghi chép về độ số của các tinh quan (nhóm sao), có thể cho thấy thời đó đã có dụng cụ hoặc phương pháp đo góc. Các cuộc “Tứ hải trắc nghiệm” (đo đạc bốn biển) qua các đời đều đo độ cao xuất địa của Bắc Cực, tức là độ cao của sao Bắc Cực. Hàng hải cổ đại có câu nói “Khiên tinh quá dương” (Dẫn sao vượt biển), các phương pháp đo chủ yếu có mấy loại sau:

Phương pháp Khiên tinh xích (dùng thước đo sao): Dùng đơn vị thước (xích), tấc (thốn), phân để biểu thị độ cao xuất địa của sao. Thuyền đội huyện Văn Xương khi dùng thước đo độ cao xuất địa của sao thì dựng thẳng thước, đầu dưới thước ngang với mặt biển xa, ước lượng sao cần đo cao hơn mặt biển mấy thước mấy tấc, ví dụ ở Lữ Tống (Luzon), sao Tí Ngọ (tức sao Bắc Cực) cao 5 tấc 6 phân. Hiện đã phát hiện hiện vật thước đo sao bằng tre đời Tống.

Phương pháp Khiên tinh bản (dùng tấm đo sao): Dùng đơn vị chỉ (ngón tay), giác (góc, hoặc làm cước – chân) để biểu thị độ cao xuất địa của sao. Nguyên lý tương tự thước Lục phân nghi (sextant) ngày nay. Bộ Khiên tinh bản gồm mười hai tấm gỗ vuông lớn nhỏ, có một sợi dây xuyên qua tâm. Khi quan sát, một tay cầm tấm bảng, cánh tay duỗi thẳng. Tay kia cầm đầu dây ở trước mắt, cạnh dưới tấm bảng ngang với đường chân trời, dựa vào việc cạnh trên trùng với thiên thể cần đo, sau đó căn cứ vào tấm bảng sử dụng thuộc “chỉ” thứ mấy mà ra độ cao.

Phương pháp Thủ chưởng (dùng bàn tay): Duỗi thẳng cánh tay phải, năm ngón tay phải khép lại chỉ sang bên trái, ngón cái phải hướng xuống ngang với mặt biển xa, ngón út phải hướng lên. Từ ngón cái đến ngón trỏ là một “chỉ”, đến ngón giữa là nửa “chưởng” (bàn tay), đến ngón áp út là ba “chỉ”, đến ngón út là một “chưởng”. Như vậy có thể ước lượng độ cao của sao.

Tọa độ Hoàng đạo trên mặt cầu (tọa độ hoàng đạo)

Người xưa thích dùng các dụng cụ thuộc hệ tọa độ xích đạo để đo vị trí thiên thể, nhưng khi tính toán “Nhật triền” (đường đi biểu kiến của Mặt Trời), “Nguyệt ly” (đường đi của Mặt Trăng), “Giao thực” (thiên thực) và hành độ của ngũ tinh (năm hành tinh) thì dùng tọa độ hoàng đạo tiện lợi hơn. Trên vòng hoàng đạo, người xưa chia thành độ của mười hai cung (Thập nhị cung) và độ của hai mươi tám tú (Nhị thập bát tú). Đồng thời, dựa theo hình ảnh các tinh quan của mỗi tú mà định ra “Tứ Tượng”, còn gọi là “Tứ thú”, “Tứ linh”, “Tứ lục”.

Người xưa gắn cố định mười hai thứ (Thập nhị thứ) và mười hai Thần (Thập nhị thần) với Nhị thập bát tú, trong khi các điểm tiết khí (tiết khí điểm), bao gồm cả điểm khởi đầu của Thập nhị thứ, lại do hiện tượng tuế sai (precession) mà dần dịch chuyển sang trái. Khi sự sai khác ngày càng rõ rệt đã gây ra nhiều khó khăn cho hậu thế. Đến thời Tùy Đường, hệ thống Hoàng đạo thập nhị cung của Tây Vực được du nhập vào, nhưng mười hai cung này cũng di chuyển theo điểm Xuân Phân trên hoàng đạo do tuế sai, nên cũng xuất hiện sai khác. Để tránh phiền phức do tuế sai gây ra, cả tọa độ xích đạo và tọa độ hoàng đạo đều nên chỉ lấy các điểm tiết khí làm chuẩn, không gắn với các chòm sao, như vậy mới có thể giữ không đổi. Tức là điều Thiệu Ung nói: “Đông chí Tí chi bán, thiên tâm vô cải di” (Đông Chí ở giữa cung Tí, tâm trời không đổi dời). Ngoài ra, Toàn cơ ngọc hành của Đới Chấn, là một dụng cụ có cả hai loại tọa độ hoàng đạo và xích đạo, cũng thể hiện điều này.

Người xưa chia đơn vị nhỏ của độ thành mười hai phần (có thể là cách nói khác hoặc hệ thống cổ, thông thường là 100 phân). Từ thời Nam Cung Duyệt, dưới độ cũng dùng hệ thập phân trăm vị. Phương pháp chia đơn vị nhỏ của mỗi độ trong các loại lịch pháp khác nhau, gọi là “Độ pháp”, cũng có sự khác biệt.

Trên đây là một số hệ thống phương vị thiên văn cổ đại ghi chép bên Trung Quốc.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

3 bình luận cho “#14. Hệ thống phương vị thiên văn cổ đại”

  1. […] 05/10/2025 1 phút #14. Hệ thống phương vị thiên văn cổ đại #13. Thập Thiên Can và sự toàn ảnh của Hệ […]

    Thích

  2. […] #14. Hệ thống phương vị thiên văn cổ đại #13. Thập Thiên Can và sự toàn ảnh của Hệ Mặt Trời […]

    Thích

  3. Ảnh đại diện Bát Tự Toán Mệnh
    Bát Tự Toán Mệnh

    tác giả viết hay đấy

    Thích

Gửi phản hồi cho #22. Lục Thập hoa giáp – Tử Bình Thuật Hủy trả lời

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc