Mười Thiên Can lần lượt là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý này, đại diện cho năng lượng, từ trường, tần số, v.v., chỉ là mỗi loại có bẩm phú Âm Dương khác nhau. Mười Thiên Can là năng lượng thiên quang của Thập Đại Thiên Tinh chiếu xuống Trái Đất, bắt nguồn từ năng lượng của Thập Đại Tinh Thể trong Hệ Mặt Trời:
Thái Dương (Mặt Trời) – Bính (Hỏa)
Thủy Tinh (Sao Thủy) – Nhâm (Thủy)
Kim Tinh (Sao Kim) – Canh (Kim)
Địa Cầu (Trái Đất) – Kỷ (Thổ)
Hỏa Tinh (Sao Hỏa) – Đinh (Hỏa)
Mộc Tinh (Sao Mộc) – Giáp (Mộc)
Thổ Tinh (Sao Thổ) – Mậu (Thổ)
Thiên Vương Tinh (Sao Thiên Vương) – Tân (Kim)
Hải Vương Tinh (Sao Hải Vương) – Ất (Mộc)
Diêm Vương Tinh (Sao Diêm Vương) – Quý (Thủy)
Mười Thiên Can và Hệ Mặt Trời tồn tại mối quan hệ loại suy, sao chép, toàn ảnh. Về cơ bản, mọi người nên hiểu là chỉ lấy Hệ Mặt Trời làm tham chiếu để giải thích mối quan hệ của Mười Thiên Can.
Bính Hỏa trong Hệ Mặt Trời chính là Thái Cực. Sao Thủy cũng có thể lập một Thái Cực, Sao Kim cũng vậy. Hay giả như Sao Thổ, vệ tinh của nó trong hệ mặt trời là nhiều nhất. Xung quanh Sao Thổ còn có rất nhiều vệ tinh, bản thân nó chính là một Thái Cực. Trái Đất là Kỷ Thổ, trong Hệ Trái Đất – Mặt Trăng bản thân nó chính là một Thái Cực, vì Trái Đất chúng ta chỉ có một Mặt Trăng quay quanh, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất gọi là công chuyển. Trái Đất quay quanh Mặt Trời cùng gọi là công chuyển, còn Trái Đất tự quay thì gọi là Tự Chuyển. Cho nên mỗi khi Mười Thiên Can lập cực đều có tầng bậc hệ thống, nó không chỉ là một bộ phận trong toàn bộ hệ thống lớn, bản thân cũng là một hệ thống nhỏ. Cứ thế suy ra, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể lập thành một Thái Cực. Mười Thiên Can trong Hệ Mặt Trời là quy luật Thiên đạo, nhân mệnh trên Trái Đất sao chép toàn ảnh quy luật Thiên đạo và một phần năng lượng giữa chúng.
Mỗi Thiên Can khi luận riêng lẻ đều là tự chuyển, chỉ cần một Thiên Can đơn lẻ phát sinh quan hệ tác động với bất kỳ thứ gì, thì đó là công chuyển. Mỗi Thiên Can đơn lẻ mà chúng ta đang nói đến hiện nay, nó chỉ là sự vận hành của khí, không có hình trạng gì. Trên trời có trời, vậy trên trời còn có thể (thể chất) của trời này, tổ hợp lại chính là thiên thể. Nếu chỉ có trời, không có thể, thì không thể gọi là thiên thể. Nói cách khác, chỉ có Vũ (không gian), không có Trụ (thời gian) thì không phải là Vũ trụ. Cho nên trời là Dương, thể là Âm.
Tưởng tượng toàn bộ Hệ Mặt Trời giống như một quả trứng gà, giữa hai Thiên Can tương khắc (Nhâm khắc Bính, Giáp khắc Mậu, Tân khắc Ất) là giới mô (màng ngăn), tổng cộng có ba giới mô. Quý Ất (màu cam) như vỏ trứng, Tân Mậu (màu trắng) như lòng trắng, Giáp Đinh Kỷ Canh Nhâm (màu vàng) như lòng đỏ, Bính Hỏa (màu đỏ) như đĩa phôi hoặc phôi châu cốt lõi nhất trong quả trứng.
Sách «Trích Thiên Tủy» viết: “Ngũ Dương giai Dương Bính vi tối, Ngũ Âm giai Âm Quý vi chí” (Trong ngũ Dương đều là Dương thì Bính là nhất, trong ngũ Âm đều là Âm thì Quý là tột cùng). Do đó, Bính Hỏa trong Hệ Mặt Trời đại diện cho khí Chí Dương, Quý Thủy đại diện cho khí Chí Âm. Dương có năng lực cho đi, Âm có công năng hấp thụ. Trong Hệ Mặt Trời, Bính Hỏa cho năng lượng cho các thiên thể khác, các thiên thể khác hấp thụ năng lượng của Bính Hỏa. Sự sắp xếp và quy luật vận hành của các tinh tú trong Hệ Mặt Trời, tiết lộ cách thức Thiên Đạo viên vực của Mười Thiên Can hình thành mã hóa chương trình, cũng như bản chất tồn tại của Thái Cực Bính Hỏa và tác dụng của giới mô.
Nguyên mẫu sáng tạo của hình chữ Thập tự Thiên Can bắt nguồn từ mô hình “vũ trụ luận” cổ xưa – Thông Thiên Thần Thụ (Cây thần thông trời). Hàm nghĩa nguyên bản của mười chữ này như sau:
- Giáp (甲): Giống như cỏ cây phá đất nảy mầm, Dương ở trong bị Âm bao bọc. Vạn vật phá vỡ lớp vỏ mà ra.
- Ất (乙): Cỏ cây mới sinh, cành lá mềm mại uốn cong. Vạn vật sinh ra, vươn lên khúc khuỷu.
- Bính (丙): Sáng rực, như mặt trời chói chang, ánh lửa rừng rực, vạn vật đều bừng sáng, nhìn thấy rõ ràng.
- Đinh (丁): Cỏ cây trưởng thành khỏe mạnh. Vạn vật cường tráng.
- Mậu (戊): Vạn vật tươi tốt, giai đoạn chín muồi.
- Kỷ (己): Trỗi dậy, ghi lại, vạn vật bị đè nén mà vươn lên, có hình thể có thể ghi lại. Vạn vật có hình thể có thể nhận biết.
- Canh (庚): Thay đổi, thu hoạch mùa thu chờ xuân tới. Vạn vật thu liễm có thực chất.
- Tân (辛): Tân là mới, vạn vật trang nghiêm thay đổi, thành quả tốt đẹp mới hình thành. Vạn vật mới mẻ đều thu hoạch.
- Nhâm (壬): Mang thai, Dương khí ẩn náu trong đất, vạn vật mang thai. Dương khí nuôi dưỡng vạn vật bên dưới.
- Quý (癸): Đo lường, vạn vật đóng kín ẩn tàng, mang thai dưới đất, âm thầm nảy mầm. Vạn vật có thể đo lường, ước định.





Gửi phản hồi cho Mozart – Symphony No. 40: I. Molto allegro – Tử Bình Thuật Hủy trả lời