Ngũ Hành chỉ năm loại Vận hành Thái Lượng là Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ, không chỉ có thứ tự Hỏa một, Thủy hai, Mộc ba, Kim bốn, Thổ năm, mà còn có vận hành tuần hoàn thuận nghịch Âm Dương, càng có trạng thái tồn tại Hỏa là hạt nhân ion, Thủy là hạt nhân phân tử, Mộc và Kim là hạt nhân nguyên tử, Thổ là hạt nhân hạt. Vạn sự vạn vật không tách rời khỏi sự tập hợp khí thế của chúng thành bản thể, cũng như sự biến đổi entropy ( entropy thường được mô tả là thước đo của sự “mất trật tự”, “hỗn loạn”, “ngẫu nhiên” hoặc mức độ “phân tán năng lượng” của một hệ thống).
Hỏa là năng lượng lớn nhất, Thủy là tốc độ lớn nhất, Mộc là khối lượng lớn nhất, Kim là lực và trường lớn nhất, Thổ là hạt có mật độ lớn và ổn định nhất.
(1) Mộc
Ngũ Hành Mộc biểu hiện là trạng thái rắn thứ cấp (kém rắn chắc) có tính đàn hồi và dẻo dai, năng lượng của nó biểu hiện có đặc tính ôn hòa, sinh phát, điều đạt (vươn thẳng), gọi là “Khúc trực” (co duỗi).
(2) Hỏa
Ngũ Hành Hỏa biểu hiện là thể khí, năng lượng của nó biểu hiện có đặc tính mãnh liệt, tản phát, hướng lên, hướng ra ngoài, nóng và động, sáng sủa và khí hóa, gọi là “Viêm thượng” (bốc cháy lên trên).
(3) Thổ
Ngũ Hành Thổ biểu hiện là trạng thái rắn kém nhất, dễ biến dạng, năng lượng của nó biểu hiện có đặc tính bao dung, uẩn tàng, phong bế, thổ phát (phát ra từ trong), trường dưỡng hóa dục (nuôi dưỡng, chuyển hóa), gọi là “Giá sắc” (gieo trồng).
(4) Kim
Ngũ Hành Kim biểu hiện là hình thái rắn chắc thiếu tính đàn hồi và dẻo dai, năng lượng của nó biểu hiện có đặc tính ổn trọng, túc sát (nghiêm và mạnh), cấm chỉ, thu liễm (thu vào), gọi là “Tòng cách” (thay đổi theo).
(5) Thủy
Ngũ Hành Thủy biểu hiện là thể lỏng, năng lượng của nó biểu hiện có đặc tính hư hàn, ứng biến, thẩm thấu, lưu động, nhuận hạ (thấm xuống dưới), gọi là “Nhuận hạ”.
Ý Tượng Ngũ Hành
| Ngũ Hành | Ý Tượng (Ngũ Thường) | Ý Tượng (Ngũ Sắc) | Ý Tượng (Ngũ Vị) | Ý Tượng (Ngũ Tình) | Ý Tượng (Ngũ Phương) | Ý Tượng (Ngũ Khí) |
| Mộc | Nhân | Thanh | Toan | Nộ | Đông | Phong |
| Kim | Nghĩa | Bạch | Lạt | Bi | Tây | Táo |
| Hỏa | Lễ | Hồng | Khổ | Hỷ | Nam | Thử |
| Thủy | Trí | Hắc | Hàm | Khủng | Bắc | Hàn |
| Thổ | Tín | Hoàng | Cam | Tư | Trung | Thấp |
| Ngũ hành | Mộc | Hỏa | Thổ | Kim | Thủy |
|---|---|---|---|---|---|
| Tạng phủ | Gan | Tim | Lá lách | Phổi | Thận |
| Giác quan | Mắt | Lưỡi | Miệng | Mũi | Tai |
| Thân Thể | Gân | Mạch | Thịt | Da, lông | Xương |
| Âm thanh | Gọi | Cười | Hát | Khóc | Rên |
| Tình cảm | Giận | Vui | Suy nghĩ | Buồn | Sợ |
| Bệnh vị | Đau cổ | Đau bụng | Xương sống | Vai lưng | Eo, đùi |
Ngũ Hành Sinh Khắc
Bắt đầu từ Thái Cực chuyển sinh năng lượng hóa thành Âm Dương nhị khí, Âm Dương nhị khí tiếp tục hóa sinh Tứ Tượng hóa cơ (cơ chế biến hóa), Tứ Tượng tiếp tục hóa thành Ngũ Hành, toàn bộ cội nguồn tạo hóa năng lượng vận hành tuần hoàn của vũ trụ đều được sinh ra.
Khi năng lượng vũ trụ thuận hành tương sinh tả tuyền (quay trái), đã sản sinh ra Hắc động (lỗ đen) năng lượng vũ trụ từ Lão Dương đến Thiếu Âm. Khi năng lượng vũ trụ nghịch hành tương khắc hữu tuyền (quay phải), đã sản sinh ra Bạch động (lỗ trắng) năng lượng vũ trụ từ Lão Âm đến Thiếu Dương. Từ chỗ hở được hình thành trong quá trình vận hành tuần hoàn tương sinh tương khắc của năng lượng Ngũ Hành có thể thấy rất rõ cơ chế tiến hóa vận động vũ trụ Âm tiến Dương xuất (Âm vào, Dương ra).
- Âm Dương Lão Thiếu tả tuyền thuận sinh: Lão Dương Hỏa chuyển sinh thành Thái Cực Thổ, thái cực Thổ chuyển sinh Thiếu Âm Kim, cứ thế tiếp tục Kim chuyển hóa thành Lão Âm Thủy, Thủy hóa thành Thiếu Dương Mộc, Mộc lại sinh Lão Dương Hỏa.
- Âm Dương Lão Thiếu hữu tuyền nghịch khắc: Lão Âm Thủy hình thành cơ chế khắc Lão Dương Hỏa, Hỏa khắc Thiếu Âm Kim, Kim khắc Thiếu Dương Mộc, Mộc khắc Thái Cực Thổ, Thổ lại khắc Lão Âm Thủy, cứ vậy một vòng tuần hoàn.





Gửi phản hồi cho #14. Hệ thống phương vị thiên văn cổ đại – Tử Bình Thuật Hủy trả lời