Trên cùng (Chính giữa): : Vô Cực nhi Thái Cực
Hàng thứ hai: Bên trái (chữ dọc): Dương Động ; Bên phải (chữ dọc):: Âm Tĩnh
Hàng thứ ba (Sơ đồ Ngũ Hành):
Hỏa: Vòng tròn trên cùng bên trái
Thủy: Vòng tròn trên cùng bên phải
Thổ: Vòng tròn ở giữa
Mộc: Vòng tròn dưới cùng bên trái
Kim: Vòng tròn dưới cùng bên phải
Hàng thứ tư:
Bên trái (chữ dọc): Kiền Đạo thành Nam
Bên phải (chữ dọc): Khôn Đạo thành Nữ
Dưới cùng (Chính giữa): Vạn vật hóa sinh

Vô Cực mà lại là Thái Cực.

Thái Cực động mà sinh Dương, động đến cùng cực lại trở về Tĩnh. Tĩnh mà sinh Âm, tĩnh đến cùng cực lại trở về Động. Một Động một Tĩnh, làm gốc rễ cho nhau. Phân ra Âm, Dương, ấy là Lưỡng Nghi được xác lập vậy.

Dương biến, Âm hợp mà sinh ra Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Năm khí (Ngũ Khí) ấy thuận theo đó mà lưu chuyển, bốn mùa (Tứ Thời) vận hành vậy. Ngũ Hành chính là một thể Âm Dương. Âm Dương chính là một thể Thái Cực. Thái Cực vốn là Vô Cực.

Sự sinh thành của Ngũ Hành, mỗi hành đều có một bản tính riêng. Cái Chân của Vô Cực, cùng với tinh hoa của Nhị Khí (Âm Dương) và Ngũ Hành, kết hợp một cách diệu kỳ mà ngưng tụ lại. Đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ. Hai khí giao cảm mà hóa sinh ra vạn vật. Vạn vật sinh sôi không ngừng, mà biến hóa vô cùng vậy.

Duy chỉ có con người là được phần tinh anh nên linh diệu nhất. Hình thể đã sinh ra, thì thần thức phát sinh ra tri giác. Năm tính (Ngũ Tính) cảm động mà phân ra thiện ác, vạn sự từ đó mà ra. Bậc Thánh nhân lấy Trung, Chính, Nhân, Nghĩa mà định lại, lại chủ về Tĩnh, từ đó lập nên cái Cực của con người (Nhân Cực).

Cho nên, bậc Thánh nhân cùng Trời Đất hợp với đức của mình, cùng Mặt Trời Mặt Trăng hợp với sự sáng của mình, cùng bốn mùa hợp với trật tự của mình, cùng Quỷ Thần hợp với sự lành dữ của mình. Người quân tử tu dưỡng theo đó thì được tốt lành, kẻ tiểu nhân làm trái đi thì gặp tai ương.

Vì thế nên nói rằng: Đạo của Trời được lập, gọi là Âm và Dương; Đạo của Đất được lập, gọi là Nhu và Cương; Đạo của Người được lập, gọi là Nhân và Nghĩa. Lại nói rằng: Suy xét từ cái gốc để thấy được cái ngọn, nên mới biết được cái thuyết về sự sống và chết.

Lớn lao thay Kinh Dịch! Đây là chỗ cao siêu tột cùng vậy.

Thông Thư

Thành – Thượng, chương thứ nhất

Thành là cái gốc của Thánh nhân. “Lớn thay đức Nguyên của quẻ Càn, vạn vật nương vào đó mà bắt đầu”, đó là nguồn của Thành vậy. Đạo Càn biến hóa, vạn vật đều được ngay chính cái Tính và Mệnh của mình, Thành từ đó mà được xác lập vậy. Đó là cái thuần túy và tốt lành tột cùng.

Cho nên nói rằng: “Một Âm một Dương ấy là Đạo. Kế thừa Đạo ấy là Thiện, hoàn thành nên Đạo ấy là Tính.” Nguyên và Hanh là sự thông suốt của Thành; Lợi và Trinh là sự trở về (cái gốc) của Thành. Lớn thay Kinh Dịch, đó là nguồn gốc của Tính và Mệnh vậy!

Hạ, chương thứ hai

Bậc Thánh, chỉ là ở chữ Thành mà thôi. Thành là gốc của Ngũ Thường (năm đức thường hằng), là nguồn của trăm nết hạnh (Bách hạnh).

Khi Tĩnh thì không (vô), khi Động thì có (hữu); đó là cái chí chính và sáng suốt thông đạt vậy. Ngũ Thường và Bách hạnh mà không có Thành thì đều sai lầm, ấy là bị cái tà vạy, tối tăm che lấp vậy. Cho nên, hễ có Thành thì không còn việc gì (phải lo) nữa. (Thành) là cái vô cùng dễ mà lại khó thực hành. Nếu quả quyết và xác thực thì không có gì khó cả. Cho nên nói rằng: “một ngày dẹp bỏ lòng riêng mà trở về với Lễ, thì thiên hạ sẽ quy về đức Nhân vậy.”

Thành, Cơ, Đức, chương thứ ba

Thành thì vô vi (không hành động có chủ đích), còn Cơ (sự manh nha của hành động) thì có thiện ác.

Về Đức: Yêu thương gọi là Nhân; hợp lẽ phải gọi là Nghĩa; có trật tự gọi là Lễ; thông suốt gọi là Trí; giữ gìn gọi là Tín.

An nhiên sống với bản tính ấy gọi là Thánh. Quay về và giữ vững lấy bản tính ấy gọi là Hiền. Phát ra ở chỗ vi diệu không thể thấy, nhưng tràn đầy khắp nơi không thể cùng tận, ấy gọi là Thần.

Thánh, chương thứ tư

Cái lặng lẽ không động, ấy là Thành. Cái cảm ứng mà thông suốt vạn vật, ấy là Thần. Cái động mà chưa thành hình, ở khoảng giữa có và không, ấy là Cơ.

Thành thì tinh túy nên sáng suốt; Thần thì ứng biến nên diệu kỳ; Cơ thì vi tế nên sâu kín. Gồm đủ Thành, Thần, Cơ thì gọi là Thánh nhân.

Thận Động (Thận trọng khi hành động), chương thứ năm

Hành động mà ngay chính gọi là Đạo; vận dụng mà hòa hợp gọi là Đức. Không phải Nhân, không phải Nghĩa, không phải Lễ, không phải Trí, không phải Tín, thì đều là tà vạy. Hành động tà vạy thì mang đến nhục nhã; quá hơn nữa thì gây ra tai hại. Cho nên người quân tử thận trọng khi hành động.

Đạo, chương thứ sáu

Đạo của Thánh nhân, chỉ là Nhân, Nghĩa, Trung, Chính mà thôi. Giữ lấy nó thì quý; thực hành nó thì lợi; mở rộng nó ra thì có thể sánh cùng trời đất. Há chẳng phải là giản dị dễ dàng sao? Sao lại cho là khó biết được? Chỉ là (người ta) không giữ, không làm, không mở rộng ra đó thôi.

Chương 7: Thầy

Có người hỏi rằng: Điều gì là tốt đẹp nhất trong thiên hạ? Đáp rằng: Thầy. Hỏi rằng: Vì sao vậy? Đáp rằng: Tính của con người, có cương có nhu, có thiện có ác, chỉ có ở mức trung hòa mà thôi. Vẫn chưa thông.

Đáp rằng: Cương mà thiện thì là nghĩa, là thẳng, là quyết đoán, là nghiêm nghị, là vững vàng; cương mà ác thì là hung Tàn, là hẹp hòi, là ngang ngược. Nhu mà thiện thì là từ bi, là thuận theo, là khiêm tốn; nhu mà ác thì là nhu nhược, là không quyết đoán, là tà nịnh. Duy chỉ có trung, là hòa vậy. Trung là tiết độ vậy, là đạo lớn thông suốt trong thiên hạ, là việc của bậc thánh nhân. Cho nên thánh nhân lập ra giáo hóa, để người ta tự sửa đổi cái ác của mình, tự đạt đến mức trung hòa rồi dừng lại. Cho nên người biết trước dạy cho người biết sau, người u tối cầu học ở người sáng suốt, mà đạo làm thầy được lập vậy. Đạo làm thầy được lập thì người thiện nhiều, người thiện nhiều thì triều đình ngay chính mà thiên hạ được trị.

Chương 8: May Mắn

Người sinh ra không may là không được nghe lời nói về lỗi lầm của mình, rất không may là không biết hổ thẹn. Nếu biết hổ thẹn thì có thể dạy dỗ được, nghe được lỗi lầm của mình thì có thể trở thành người hiền.

Chương 9: Suy Nghĩ

Kinh Thư, thiên Hồng Phạm có nói: Suy nghĩ gọi là sáng suốt, sáng suốt làm nên bậc thánh. Không suy nghĩ là gốc, suy nghĩ mà thông suốt là dụng. Cơ vi động ở bên ngoài, lòng thành ứng ở bên trong, không cần suy nghĩ mà không gì không thông suốt, đó là thánh nhân. Không suy nghĩ thì không thể thông suốt được những điều vi diệu, không sáng suốt thì không thể không gì không thông suốt. Vậy nên, việc không gì không thông suốt sinh ra từ việc thông suốt những điều vi diệu, việc thông suốt những điều vi diệu sinh ra từ suy nghĩ. Cho nên suy nghĩ là cái gốc của công nghiệp thánh nhân, và là cái mấu chốt của tốt xấu, may rủi. Kinh Dịch nói: “Người quân tử thấy mầm mống thì hành động ngay, không đợi đến hết ngày.” Lại nói: “Thấy được mầm mống, thật là thần diệu thay!”

Chương 10: Chí Hướng Học Tập

Thánh nhân noi theo Trời, hiền nhân noi theo thánh nhân, kẻ sĩ noi theo hiền nhân. Y Doãn, Nhan Uyên là bậc đại hiền vậy. Y Doãn lấy làm hổ thẹn vì vua của mình không được như vua Nghiêu, vua Thuấn, một người dân thường không được yên chỗ của mình, thì coi như mình bị đánh giữa chợ. Nhan Uyên không giận cá chém thớt, không lặp lại lỗi lầm, ba tháng không làm trái điều nhân. Lấy cái chí của Y Doãn làm chí của mình, học cái học của Nhan Tử để học. Vượt qua được thì thành thánh nhân, theo kịp được thì thành hiền nhân, không theo kịp được thì cũng không mất đi tiếng tốt.

Chương 11: Thuận Theo Mà Cảm Hóa

Trời dùng dương để sinh ra vạn vật, dùng âm để làm thành vạn vật. Sinh là nhân vậy, thành là nghĩa vậy. Cho nên thánh nhân ở trên ngôi cao, lấy nhân để nuôi dưỡng muôn dân, lấy nghĩa để sửa trị muôn dân. Đạo trời vận hành thì vạn vật thuận theo, đức thánh tu sửa thì muôn dân được cảm hóa. Đại thuận đại hóa, không thấy dấu tích, không biết tại sao lại như vậy, đó gọi là thần. Cho nên vận mệnh của thiên hạ, gốc ở một người. Đạo há có xa đâu? Thuật há có nhiều đâu!

Chương 12: Cai Trị

Một ấp chỉ có mười nhà, mà xách tai từng người để dạy dỗ còn không xuể, huống chi thiên hạ rộng lớn, trăm họ đông đúc thay?

Đáp rằng: Chỉ cần làm cho lòng mình thuần nhất mà thôi. Nhân, nghĩa, lễ, trí bốn điều đó, trong hành động, lúc yên tĩnh, lời nói, dáng vẻ, cái nhìn, cái nghe không có gì trái ngược, ấy gọi là thuần. Lòng thuần nhất thì hiền tài phò tá, hiền tài phò tá thì thiên hạ được trị. Lòng thuần nhất là cốt yếu, dùng người hiền là cấp bách vậy.

Chương 13: Lễ Nhạc

Lễ là lý vậy; nhạc là hòa vậy. Âm dương có trật tự rồi sau mới hòa hợp. Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra vợ, vạn vật đều có được cái lý của nó, rồi sau mới hòa hợp. Cho nên lễ trước mà nhạc sau.

Chương 14: Coi Trọng Thực Chất

Thực chất vượt hơn thì là điều tốt; danh tiếng vượt hơn (thực chất) thì là điều đáng xấu hổ. Cho nên người quân tử trau dồi đạo đức, tu sửa sự nghiệp, chăm chỉ không ngừng, là để cho thực chất vượt hơn vậy. Đạo đức và sự nghiệp có chỗ chưa sáng tỏ, thì lo sợ người khác biết, để tránh xa sự hổ thẹn vậy. Kẻ tiểu nhân thì chỉ giả dối mà thôi. Cho nên người quân tử ngày càng an vui, kẻ tiểu nhân ngày càng lo lắng.

Chương 15: Yêu Mến và Kính Trọng

Thấy người có điều thiện mà mình không bằng, thì nói rằng: “Không bằng thì phải học theo.”

Hỏi rằng: Nếu họ có điều không tốt thì sao?
Đáp: Có điều không tốt thì bảo cho họ biết điều không tốt đó. Lại còn khuyên rằng: “Mong sao anh có thể sửa đổi được chăng?”. Làm như vậy là người quân tử. Nếu họ có một điều thiện, hai điều không thiện, thì học cái một điều thiện của họ, và khuyên họ sửa hai điều không thiện.

Có người nói: “Người này có điều không tốt đó, nhưng không phải là điều ác lớn”. Thì nên nói rằng: “Ai mà không có lỗi lầm?”. Sao biết người đó không thể sửa đổi? Sửa đổi được thì sẽ là người quân tử vậy. Không sửa thì thành kẻ ác, kẻ ác thì Trời ghét. Người đó lẽ nào không biết sợ hay sao? Sao biết họ không thể sửa đổi? Cho nên người quân tử thấy những điều thiện của mọi người, không ai là không yêu mến và kính trọng cả.

Chương 16: Động và Tĩnh

Động mà không có tĩnh, tĩnh mà không có động, đó là vật. Động mà như không động, tĩnh mà như không tĩnh, đó là thần. Động mà như không động, tĩnh mà như không tĩnh, không phải là không động, không tĩnh. Vật thì không thông suốt, thần thì vi diệu với vạn vật. Nước thuộc âm nhưng gốc ở dương, lửa thuộc dương nhưng gốc ở âm. Ngũ hành có âm dương, âm dương có thái cực. Bốn mùa vận hành, vạn vật có bắt đầu có kết thúc. Hỗn độn rồi lại mở ra, thật là vô cùng tận vậy.

Chương 17: Bàn Về Nhạc _ Thượng

Thời xưa, các bậc thánh vương đặt ra lễ pháp, tu sửa giáo hóa, tam cương được ngay chính, cửu trù được sắp đặt có trật tự, trăm họ rất hòa hợp, vạn vật đều thuận theo, bèn làm ra nhạc để tuyên phát khí của tám hướng gió, để làm cho tình cảm của thiên hạ được bình hòa. Cho nên tiếng nhạc (của người xưa) thanh đạm mà không bi thương, hòa hợp mà không dâm dật. Đi vào tai, cảm động đến lòng, không ai là không cảm thấy thanh đạm và hòa hợp. Thanh đạm thì lòng ham muốn được bình lặng, hòa hợp thì lòng nóng nảy được cởi bỏ. An nhàn, mềm mại, bình hòa, trung chính, ấy là sự thịnh của đức. Thiên hạ được cảm hóa trong sự trung hòa, ấy là đỉnh cao của sự cai trị. Đó gọi là đạo sánh cùng trời đất, là đỉnh cao của thời xưa vậy. Đời sau lễ pháp không được tu sửa, chính hình hà khắc rối loạn, buông thả ham muốn làm bại hoại phép tắc, dân chúng khốn khổ, cho rằng nhạc xưa không đáng nghe nữa. Thay đổi thành những tiếng nhạc mới, yêu mị, dâm dật, sầu oán, dẫn dắt ham muốn, làm tăng thêm bi thương, không thể tự dừng lại được. Cho nên mới có kẻ hại vua, bỏ cha, coi nhẹ mạng sống, làm bại hoại luân thường, không thể nào ngăn cấm được. Than ôi! Âm nhạc, xưa dùng để làm cho lòng người bình lặng, nay dùng để trợ giúp ham muốn; xưa dùng để tuyên dương giáo hóa, nay dùng để nuôi lớn oán hận. Không khôi phục lại lễ xưa, không thay đổi nhạc nay, mà muốn đạt đến sự cai trị tốt đẹp nhất thì còn xa vời lắm.

Chương 18: Bàn Về Nhạc – Trung

Nhạc, gốc ở chính sự vậy. Chính sự tốt đẹp, dân được yên ổn, thì lòng người trong thiên hạ hòa hợp. Thánh nhân làm ra nhạc, để tuyên thông cái tâm hòa hợp ấy, cho thấu đến trời đất. Khí của trời đất cảm ứng mà trở nên vô cùng hòa hợp. Trời đất hòa hợp thì vạn vật thuận theo. Cho nên thần linh giáng thế, chim muông thuần phục.

Chương 19: Bàn Về Nhạc – Hạ

Tiếng nhạc thanh đạm thì lòng người nghe bình lặng, lời nhạc tốt đẹp thì người hát ngưỡng mộ, cho nên phong tục được dời đổi, tập quán được thay đổi. Sự cảm hóa của tiếng nhạc yêu mị, lời ca diễm lệ cũng như vậy.

Chương 20: Học Làm Thánh

Bậc thánh có thể học mà thành được không? Đáp: Có thể. Hỏi: Có yếu lĩnh không? Đáp: Có. Xin được nghe. Đáp: “Một” là yếu lĩnh. Một, tức là không có ham muốn. Không ham muốn thì khi tĩnh sẽ hư không, khi động sẽ ngay thẳng. Tĩnh mà hư không thì sẽ sáng suốt, sáng suốt thì sẽ thông đạt. Động mà ngay thẳng thì sẽ công bằng, công bằng thì sẽ bao trùm khắp cả. Sáng suốt, thông đạt, công bằng, bao trùm, (được như vậy thì) gần đạt được bậc thánh rồi vậy.

Chương 21: Công Bằng và Sáng Suốt

Công bằng với mình thì mới công bằng với người. Chưa từng có ai không công bằng với mình mà lại có thể công bằng với người khác. Sáng suốt chưa đạt tới thì lòng nghi ngờ nảy sinh. Sáng suốt thì không có nghi ngờ. Cho rằng có thể nghi ngờ mới là sáng suốt, (quan điểm đó) sai khác biết bao, đâu chỉ ngàn dặm.

Chương 22: Lý, Tính, và Mệnh

Cái rõ rệt và cái vi diệu của nó, nếu không phải là thần linh thì không thể làm cho sáng tỏ được. Cương có thiện ác, nhu cũng như thế, chỉ dừng lại ở mức trung hòa. Hai khí (âm dương) và năm hành, biến hóa sinh ra vạn vật. Năm (hành) tuy khác nhau nhưng thực chất là hai (khí), hai (khí) tuy hai mà gốc là một (Thái cực). Nên vạn vật là một. Một cái thực chất đó chia ra vạn phần, vạn vật và một thể đều có cái chính đáng của nó. Lớn nhỏ đều có sự xác định.

Chương 23: Nhan Tử

Nhan Tử một giỏ cơm, một bầu nước, ở trong ngõ hẻm. Người khác không chịu nổi cái khổ đó, nhưng (Nhan) Hồi không thay đổi niềm vui của mình. Phú quý là cái người ta yêu thích, Nhan Tử không yêu không cầu, mà lại vui với cảnh nghèo, riêng ông có tấm lòng gì vậy? Giữa trời đất có cái vô cùng quý, vô cùng giàu, đáng yêu đáng cầu, mà khác với những thứ kia. Ông đã thấy được cái lớn lao đó mà quên đi cái nhỏ nhặt kia mà thôi. Thấy được cái lớn lao thì lòng thanh thản, lòng thanh thản thì không thấy thiếu thốn gì. Không thấy thiếu thốn thì dù là phú quý hay bần tiện, đều đối xử như một. Đối xử như một, thì có thể chuyển hóa và xem chúng như nhau. Cho nên Nhan Tử được gọi là Á Thánh (bậc thánh thứ hai).

Chương 24: Bàn Về Thầy Bạn – Thượng

Giữa trời đất, tôn quý nhất là Đạo, cao quý nhất là Đức mà thôi, khó có được nhất là người. Trong loài người, người khó có được nhất, là người có đạo đức ở trong mình mà thôi. Muốn cầu người khó có được nhất đó, để có (đạo đức) trong mình, thì nếu không có thầy bạn, không thể nào có được.

Chương 25: Bàn Về Thầy Bạn – Hạ

Đạo và nghĩa, nếu trong người có được, thì sẽ cao quý và được tôn trọng. Người ta sinh ra ngu muội, lớn lên mà không có thầy bạn thì sẽ ngu dại. Ấy là đạo nghĩa do nhờ thầy bạn mà có được, rồi từ đó mà được cao quý và tôn trọng. Cái nghĩa ấy chẳng phải là trọng đại sao? Sự sum họp ấy chẳng phải là vui vẻ sao?

Chương 26: Lỗi Lầm

Trọng Do (Tử Lộ) vui mừng khi nghe người khác chỉ ra lỗi lầm của mình, nên tiếng tốt của ông lưu truyền vô cùng. Người ngày nay có lỗi, lại không thích người khác khuyên răn, giống như kẻ giấu bệnh sợ thầy thuốc. Thà để thân mình bị hủy hoại chứ không chịu tỉnh ngộ. Than ôi!

Chương 27: Thế Lực

Việc thiên hạ chỉ là ở “thế” mà thôi. Thế, tức là nặng nhẹ vậy. Khi đã quá nặng thì không thể đảo ngược được, nhận biết được nó đang nặng dần mà mau chóng đảo ngược lại thì được. Đảo ngược nó, là dùng sức vậy. Nhận biết không sớm, thì dùng sức cũng không dễ dàng. Dùng sức mà không thành công, đó là do Trời; không nhận biết, không dùng sức, đó là do người. Trời ơi, con người có gì để oán trách đâu?

Chương 28: Văn Chương Lời Lẽ

Văn là để chở đạo vậy. Bánh xe và càng xe được trang trí đẹp mà người ta không dùng, thì chỉ là trang trí suông, huống chi là một cỗ xe rỗng? Văn chương lời lẽ là nghệ thuật, đạo đức là thực chất. Làm cho thực chất được dày dặn rồi người có nghệ thuật viết ra, hay đẹp thì người ta yêu thích, yêu thích thì sẽ lưu truyền. Người hiền tài nhờ đó mà học tập và đạt đến được, đó chính là giáo hóa. Cho nên nói: “Lời nói không có văn vẻ, thì không đi được xa.” Tuy nhiên kẻ không hiền, dù có cha anh đốc thúc, thầy dạy khuyến khích, cũng không học; ép uổng cũng không theo. Không biết chăm lo đạo đức, mà chỉ cho văn chương là tài năng, thì đó chỉ là nghệ thuật mà thôi. Than ôi, cái tệ đoan này đã có từ lâu rồi!

Chương 29: Cái Sâu Kín Của Thánh Nhân

(Học trò) không tức giận vì chưa hiểu thì (thầy) không gợi mở cho, không bực tức vì chưa nói ra được thì không bày vẽ cho. Đưa ra một góc mà không tự suy ra ba góc còn lại, thì không dạy lại nữa. Khổng Tử nói: “Ta muốn không nói gì cả”. Trời có nói gì đâu? Bốn mùa vẫn vận hành, trăm vật vẫn sinh sôi. Như vậy thì, để làm sáng tỏ cái sâu kín của thánh nhân, nếu không có Nhan Tử thì e rằng không thể thấy được. Người làm sáng tỏ cái sâu kín của thánh nhân, để giáo hóa muôn đời không dứt, chính là Nhan Tử vậy. Thánh nhân giống như Trời, chẳng phải là sâu sắc lắm sao! Người thường có một chút hiểu biết, liền sợ người khác không mau chóng biết là mình có, vội vã muốn người khác biết để được nổi danh, thật là nông cạn quá lắm.

Chương 30: Tinh Hoa và Sâu Kín

Cái tinh túy của thánh nhân, được vẽ thành quẻ để chỉ bày; cái sâu kín của thánh nhân, nhân các quẻ đó mà làm sáng tỏ. Quẻ không được vẽ ra, thì cái tinh túy của thánh nhân không thể nào thấy được; không có các quẻ, thì cái sâu kín của thánh nhân, e rằng không thể nào nghe hiểu được hết. Kinh Dịch đâu chỉ là nguồn của Ngũ Kinh, nó còn là sự huyền diệu của trời đất, quỷ thần vậy thay?

Chương 31: Kiền, Tổn, Ích, Động

Người quân tử gắng gỏi không ngừng trong sự thành thật, nhưng phải biết dằn nén nóng giận, ngăn chặn ham muốn, hướng về điều thiện, sửa đổi lỗi lầm rồi sau mới đạt được. Công dụng của quẻ Kiền, sự tốt đẹp của nó, là ở chỗ quẻ Tổn và quẻ Ích. Không gì lớn hơn điều đó. Ý chỉ của thánh nhân thật là sâu sắc thay! Tốt, xấu, hối hận, đáng tiếc đều sinh ra từ hành động. Than ôi, tốt lành chỉ có một, vậy hành động có thể không cẩn trọng được sao?

Chương 32: Gia Nhân, Khuê, Phục, Vô Vọng

Cai trị thiên hạ có gốc, đó là bản thân mình. Cai trị thiên hạ có phép tắc, đó là gia đình. Gốc phải ngay thẳng, làm cho gốc ngay thẳng chỉ là thành tâm mà thôi. Phép tắc phải tốt đẹp, làm cho phép tắc tốt đẹp chỉ là hòa thuận yêu thương mà thôi. (Cai trị) nhà thì khó mà thiên hạ thì dễ, vì nhà thì thân thuộc mà thiên hạ thì xa lạ. Gia đình ly tán, ắt hẳn bắt nguồn từ người phụ nữ, cho nên quẻ Khuê (ly tán) đi sau quẻ Gia Nhân. Là vì hai người nữ ở chung nhà mà chí hướng không giống nhau. Vua Nghiêu sở dĩ gả hai người con gái cho Thuấn ở bên sông Quy Nhuế, là để xem Thuấn có thể truyền ngôi cho được không, ta thử xem sao. Ấy là cai trị thiên hạ thì xem ở gia đình, cai trị gia đình thì xem ở bản thân mình mà thôi. Đó gọi là thân ngay thẳng, lòng thành thật vậy. Thành tâm là quay về sửa chữa những hành động không thiện của mình mà thôi. Hành động không thiện, là vọng động. Vọng động mà được sửa chữa thì trở thành không vọng động (vô vọng). Không vọng động thì là thành thật. Cho nên quẻ Vô Vọng đi sau quẻ Phục, và nói rằng: “Bậc vua đời trước nương theo thời thế mà nuôi dưỡng vạn vật”, thật sâu sắc thay!

Chương 33: Giàu Sang

Người quân tử lấy đạo được đủ đầy làm sự cao quý, thân được an ổn làm sự giàu có. Cho nên thường thanh thản không thiếu thốn, mà xem mũ áo sang trọng nhẹ như hạt châu, xem vàng ngọc như bụi đất. Cái quý trọng của những thứ đó không thêm vào (con người) ông được.

Chương 34: Hẹp Hòi

Đạo của thánh nhân, đi vào tai, lưu giữ trong tâm, chứa đựng thành đức hạnh, thực hành thành sự nghiệp. Kẻ chỉ coi trọng văn chương lời lẽ mà thôi, thật là hẹp hòi thay.

Chương 35: Suy Xét và Bàn Bạc

Vô cùng thành thật thì sẽ cảm động, cảm động thì sẽ biến đổi, biến đổi thì sẽ cảm hóa. Cho nên nói: “Suy xét kỹ rồi sau mới nói, bàn bạc kỹ rồi sau mới hành động, suy xét và bàn bạc để làm nên sự biến hóa của mình.”

Chương 36: Hình Phạt

Trời dùng mùa xuân để sinh ra vạn vật, dùng mùa thu để dừng chúng lại. Vạn vật sinh ra, đã trưởng thành rồi, nếu không dừng lại thì sẽ đi quá đà, cho nên phải có mùa thu để hoàn thành. Thánh nhân noi theo Trời, dùng chính sách để nuôi dưỡng muôn dân, dùng hình phạt để làm cho nghiêm túc. Dân chúng khi đông đúc, ham muốn trỗi dậy, tình cảm lấn át, lợi và hại tấn công lẫn nhau, nếu không ngăn chặn thì sẽ tàn hại, diệt vong, không còn luân thường, cho nên phải có hình phạt để cai trị. Tình và giả dối vi diệu, mờ ảo, biến hóa khôn lường, nếu không phải người trung chính, sáng suốt, thông đạt, quyết đoán, thì không thể cai trị được. Quẻ Tụng nói: “Lợi khi gặp bậc đại nhân”, là vì đức cương cường ở ngôi trung chính. Quẻ Phệ Hạp nói: “Lợi cho việc dùng hình ngục”, là vì hành động mà sáng suốt. Than ôi! Thiên hạ rộng lớn, người nắm giữ hình phạt là người quyết định vận mệnh của dân, việc bổ nhiệm người đó có thể không cẩn trọng được sao?

Chương 37: Công Bằng

Đạo của thánh nhân, chỉ là vô cùng công bằng mà thôi. Có người hỏi: “Vì sao vậy?”. Đáp: “Vì trời đất vô cùng công bằng mà thôi.”

Chương 38: Bàn về Khổng Tử – Thượng

Kinh Xuân Thu, làm cho ngay chính đạo của bậc vương, làm sáng tỏ đại pháp vậy. Khổng Tử vì các bậc vua đời sau mà sửa lại kinh này. Đối với loạn thần tặc tử, người đã chết thì bị trừng phạt trước đó, người còn sống thì sợ hãi về sau. Thật đáng để muôn đời không dứt được các bậc vua cúng tế. Đức và công của Phu tử được báo đáp không cùng vậy.

Chương 39: Bàn về Khổng Tử – Hạ

Đạo đức cao dày, giáo hóa vô cùng, thực sự cùng với trời đất mà tham dự, cùng với bốn mùa mà vận hành, người như vậy chỉ có Khổng Tử mà thôi!

Chương 40: Mông, Cấn

Trẻ thơ ngu muội cầu ta, ta ngay thẳng quyết đoán mà làm, giống như việc bói quẻ vậy. Bói là hỏi thần linh, hỏi đi hỏi lại là khinh nhờn, khinh nhờn thì sẽ không cho biết nữa. Dưới núi có suối chảy ra, tĩnh lặng nên trong trẻo. Nước chảy xiết thì loạn, loạn thì không quyết đoán được. Hãy cẩn trọng thay! Chỉ có hợp thời và trung chính mà thôi! “Giữ cho lưng mình yên” (Quẻ Cấn). Lưng là thứ không nhìn thấy. Tĩnh thì dừng lại, dừng lại không phải là cố ý làm vậy. Cố ý làm thì không phải là dừng lại. Đạo của nó thật sâu sắc thay!

Ái Liên Thuyết – Bài nói về yêu hoa sen

Hoa của các loài cỏ cây trên cạn dưới nước, những loài đáng yêu rất nhiều. Đời Tấn, Đào Uyên Minh chỉ yêu hoa cúc. Từ đời nhà Đường trở lại đây, người đời rất yêu hoa mẫu đơn. Ta riêng chỉ yêu sen, mọc từ bùn mà không tanh hôi, tắm trong làn nước trong mà không lẳng lơ, trong rỗng ngoài thẳng, không dây leo không cành nhánh, hương bay xa càng thêm thanh khiết, đứng thẳng thắn trong sạch, có thể ngắm từ xa mà không thể đùa cợt suồng sã. Ta cho rằng, cúc là kẻ ẩn dật trong các loài hoa; mẫu đơn là kẻ giàu sang trong các loài hoa; sen là người quân tử trong các loài hoa. Than ôi! Tình yêu hoa cúc, sau Đào Uyên Minh hiếm thấy ai. Tình yêu hoa sen, cùng với ta có ai đâu? Tình yêu hoa mẫu đơn, thật đáng cho nhiều người yêu thích vậy.

Môn Phi – Cánh Cửa

Có gió về tự đóng, Không việc ngày thường khép. Mở đóng tùy thuận tiện, Đất trời ở trong đây.

Hoa Rụng Cửa Sài Che Ánh Chiều Tà

Hoa rụng, cửa sài che ánh chiều tà, Vài con quạ chiều bay cạnh rừng cây. Ngâm thơ xong, đứng một mình ngoài lan can. Xa trông tiều phu, ngư phủ cùng một đường về.

Kiếm Môn – Cửa ải Kiếm Môn

Kiếm dựng đỉnh khe, tin rằng hiểm sâu, Đại đạo của Hoàng đế ta ngay chính hợp lòng trời. Trăm năm cửa ngoài đều không đóng, Uổng có tên cửa ải để dâng lễ vật.

Tĩnh Tư Thiên – Bài suy nghĩ trong tĩnh lặng

Lặng nghĩ về chốn ở ẩn cũ, Mặt trời lên, nửa núi bừng sáng. Giường say mây bao phủ ẩm ướt, Cửa sổ ngâm thơ thác đổ trong veo. An nhàn mới là bậc đạt sĩ, Bận rộn chỉ là kẻ lao khổ. Ngoài chợ ai đầu đã bạc trắng, Bánh xe chưa sáng đã kêu vang.

Tặng Đàm Ngu Bộ về hưu

Thời thanh bình, ngóng trông ông được chức lang cao quý, Lúc đầu bạc, ông trở về quê cũ. Có con trai đeo dải ấn xanh, Dắt cháu nhỏ mặc áo gấm hoa. Tùng, Kiều ở đạo viện mới, Chim hạc già trên bến câu cũ. Biết dừng lại tự là đức cao, Yên vui làm người ẩn dật mà khỏe khoắn.

Thiên Trì – Ao Trời

Trong khoảnh khắc, mây chiều tụ lại, Mặt trời trắng không còn tia nắng thừa. Sóng vàng từ đất vọt lên, Ánh lửa quý xuyên qua rừng bay. Nhà sư nói lời tự khoe khoang, Người thường kinh hãi không biết nương tựa. Sao biết được đất này vốn linh thiêng, Hiển hiện ra theo thiên cơ.

Du Đại Lâm – Chơi chùa Đại Lâm

Tháng ba, phòng trên núi đã ấm, Hoa rừng chiếu rọi lẫn nhau. Đường quanh co trên đỉnh núi, Người đi như ở giữa không trung. Sắc nước mây ngậm màu trắng, Tiếng chim trong thung lũng vọng lại trong trẻo. Gió trời phả vào vạt áo, Bồng bềnh cảm thấy thân mình nhẹ bẫng.

Túc Sùng Thánh – Ngủ tại chùa Sùng Thánh

Việc công không có ngày rảnh rỗi, Tạm được ngủ lại nơi thanh vắng. Mới hay khách trong cửa thiền, Không sinh nỗi sầu của cõi phù du. Suối nước nóng rộn ràng trong hang cổ, Tiếng chuông chiều vọng qua lầu cao. Suốt sáng đều quên cả ngủ, Lòng nghi ngờ mình đang ở cõi tiên (Ốc Châu).

Hương Lâm biệt Triệu Thanh Hiến – Từ biệt Triệu Thanh Hiến tại chùa Hương Lâm

Lúc rảnh việc công, thường cùng ông dạo chốn ngoài cõi bụi, Lên kinh đô, vẫn được tiễn thuyền ông đi. Xe ngựa cùng nhau vào đến chân núi, Cờ hiệu tạm thời lưu lại bến đò. Tiếng suối trong chùa tinh xảo róc rách, Màu mây trên rừng cao nhàn nhạt xa xôi. Bàn xong đạo lý sâu xa, buồn phải nói lời từ biệt, Ngày mai ngóng trông ông từ trên lầu ở quận.

Đồng Thạch Thú Du – Cùng quan Thái thú họ Thạch đi chơi

Chốn chợ búa ai biết được cuộc du ngoạn ngoài thế tục, Dưới bóng tùng, bóng sam vào chốn ngâm thơ u tịch. Tranh danh đoạt lợi ngàn dây trói buộc, Vượt sông lên núi muôn việc đều thôi. Chim rừng không kinh sợ như gặp được bạn, Mây trắng không lời nói như muốn giữ lại. Người bên cạnh đừng cười ta tựa lan can quá lâu, Vì quyến luyến chốn nghỉ ngơi mà tính kế lui về.

Ràng Khê Thư Đường – Thư phòng ở khe Ràng

Nguyên Tử nói khe này tên là Ràng, thơ ca truyền đến tận ngày nay. Phong tục ở đây thực dễ cảm hóa, không dối trá, lại biết kính trọng nhau. Ta yêu núi Lư từ lâu, mua ruộng ở phía bắc núi. Giữa ruộng có dòng nước trong, trong vắt chảy từ lòng núi ra. Lòng núi không có bụi trần, đá trắng lấp lánh chìm dưới đáy. Nước róc rách chảy qua mấy dặm, đến đây mới bắt đầu trong và sâu. Có rồng không thể lường được, cây cối ven bờ lạnh lẽo rậm rạp. Ta dựng thư phòng ở trên đó, tựa vào bàn ngắm mây trên đỉnh núi. Khi thì tựa cây ngô đồng, khi thì nghiêng gối, gió trăng tràn đầy trong lòng. Khi thì ngâm thơ, khi thì trầm mặc, khi thì uống rượu, khi thì gảy đàn. Mấy chục cuốn sách cũ, cùng hiền thánh bàn luận trong im lặng. Trước cửa sổ là ruộng vườn, ngoài vườn là rừng dâu gai. Rau dưa đủ ăn qua năm, vải lụa đủ may áo chăn. Ăn no mặc ấm là giàu sang lớn, khỏe mạnh yên ổn là vàng vô giá. Niềm vui của ta dễ dàng thỏa mãn, đặt tên là “Liêm” làm lời răn sớm tối. Nguyên Tử và Chu Tử cùng mời nhau tìm đến với gió trăng.

Chuyết Phú – Bài phú về sự Vụng Về

Có người bảo tôi: “Người ta bảo ông vụng về.” Tôi đáp: “Khéo léo là điều ta thầm xấu hổ, và ta lo rằng đời có quá nhiều kẻ khéo léo.” Tôi vui mừng mà làm bài phú này rằng: Kẻ khéo thì nói, người vụng thì im. Kẻ khéo thì lao nhọc, người vụng thì an nhàn. Kẻ khéo là giặc, người vụng có đức. Kẻ khéo gặp dữ, người vụng gặp lành. Than ôi, thiên hạ đều vụng về, thì hình phạt và chính sự sẽ được dẹp bỏ. Trên yên dưới thuận, phong tục trong sạch, tệ đoan dứt hẳn.

Dưỡng Tâm Đình Thuyết – Bài ký về đình Dưỡng Tâm

Mạnh Tử nói: “Dưỡng tâm không gì tốt bằng ít ham muốn. Người mà ít ham muốn, dù có những lúc lòng tốt không còn giữ được, cũng là ít thôi. Người mà nhiều ham muốn, dù có những lúc lòng tốt còn giữ được, cũng là ít thôi.” Ta cho rằng dưỡng tâm không chỉ dừng ở ít ham muốn và giữ lại được lòng tốt, mà phải từ ít ham muốn đến không còn ham muốn (vô dục). Không ham muốn thì lòng thành sẽ được lập, sự sáng suốt sẽ được thông đạt. Lòng thành được lập là bậc hiền; sáng suốt thông đạt là bậc thánh. Ấy là bậc thánh hiền không phải do tính trời sinh ra, mà phải nhờ dưỡng tâm mới đạt được. Cái lợi ích của việc dưỡng tâm lớn lao đến như vậy, là tùy ở mỗi người mà thôi. Trương Tử Tông Phạm, có đức hạnh có văn tài, nhà ông ở lưng tựa núi mặt hướng sông. Dưới chân núi dựng một cái đình, rất thanh tịnh, ta ngẫu nhiên đến mà yêu thích, bèn đề tên là “Dưỡng Tâm”. Sau khi ông cảm ơn, lại xin ta viết bài ký, nên ta viết ra để cùng khích lệ.

Phụ Lục

Biện Luận Về Vô Cực Mà Thái Cực – Trình Di

Chữ “Cực” (極) có tên gọi, lấy rường cột của mái nhà làm ví dụ, nó là chỗ cao nhất ở trung tâm ngôi nhà, là nơi hội tụ của các cây gỗ, được bốn phương tôn kính, và không một cây gỗ nào trong nhà có thể cao hơn nó. Cho nên, nghĩa của chữ “Cực” tuy được giải là “tột cùng” (chí), nhưng thực chất là dùng để chỉ một danh xưng có phương sở, hình trạng. Ví như các từ Bắc Cực, Hoàng Cực, Nhĩ Cực, Dân Cực, đều lấy ý từ đó. Tuy nhiên, tất cả đều là lấy vật có phương sở, hình trạng, gần giống với “cực” mà mang ý nghĩa của “cực”, nên mới dùng chữ “cực” để đặt tên. Lấy vật để ví với vật, vốn không khó hiểu.

Duy chỉ có trong Đại Truyện (của Kinh Dịch), lấy cái lý tột cùng (chí lý) của Dịch ở trong Dịch, là nơi hội tụ của các lý, là cội nguồn của vạn vật biến hóa, và không có lý nào trong thiên hạ có thể hơn được, nghĩa ấy không thể đặt tên, nhưng lại có nét tương tự như “cực”. Vì thế, mới lấy chữ “cực” để đặt tên, rồi thêm chữ “Thái” (太) vào, thì sự tôn quý mà không có gì đối đãi được của nó, lại không phải các loại “cực” khác có thể so bì.

Vậy thì, Thái Cực chẳng qua chỉ là mượn cái vật ấy (rường cột) để đặt tên cho cái Lý này, tuy nhân nơi có phương sở, hình trạng mà đặt tên, nhưng không phải là có phương sở, hình trạng để mà tìm cầu. Tuy ý nghĩa lấy từ chữ “cực” được dùng trong các sách khác có phần tương đồng, nhưng đây là lấy cái thực để ví với cái hư, lấy cái có để ví với cái không, cái được ví von nằm ngoài lời nói, ý nghĩa lại khác.

Chu Tử (Chu Đôn Di) thấy được điều này, sợ người đời sau lấy lệ của các chữ trong sách khác mà tìm hiểu, thì có thể sẽ không tránh khỏi việc bị trói buộc vào phương sở, hình trạng, mà làm mất đi ý của Thánh nhân khi lấy tên. Cho nên ông mới nói rằng: “Vô Cực mà Thái Cực”, phép chỉ sự của lời này, cũng giống như nói “vô hình mà lại là chí hình”, “vô phương mà lại là đại phương”, muốn người ta biết rằng không phải có cái “cực” đó rồi mới gọi là Thái Cực, mà cũng chỉ là nương vào chữ “cực” để làm sáng tỏ cái Lý mà thôi. Lại nói: “Thái Cực vốn là Vô Cực vậy”, ấy là vì nói “cực” thì có phương sở, hình trạng rồi, nên lại nói ngược lại, gọi là “Vô Cực” vậy thôi. Vốn không phải có cái thực thể của “cực”, muốn người ta không dùng phương sở, hình trạng để tìm cầu, mà nên dùng ý để hội được ở đây. Sự phân tích, suy xét ngược xuôi để tìm ra cội nguồn ý của Thánh nhân khi nói về Thái Cực như vậy là sáng tỏ nhất.

Người đọc đời sau, nghĩa chữ không rõ, lại giải chữ “trung” (中) là “cực” (極), đã là sai rồi. Lại không biết chữ “cực” chỉ là để lấy ví von mà lại vội vàng vin vào lời nói, cho nên không chỉ cái Lý không thể hiểu, mà đối với câu “Vô Cực” của Chu Tử cũng thấy khó thông. Vả lại, Thái Cực là chí lý, lời ấy đã đủ, mà thêm vào “Vô Cực”, thì quả thật giống như thừa thãi. Do thấy lời Lục Tượng Sơn trong sách Vô Cực Thư chính là vì không xét được điều này, mà tùy tiện biện luận thô thiển, nên tôi mới than thở, mà viết ra lời bàn này như vậy.

Thuyết Ngũ Hành – Trình Di

Thứ tự của Ngũ Hành, nếu xét về sự sinh ra của chất, thì Thủy (nước) vốn là thấp khí (hơi ẩm) của dương, khi mới động thì bị âm hãm lại mà không thông suốt được, nên ở Thủy thì âm thắng. Hỏa (lửa) vốn là táo khí (hơi khô) của âm, khi mới động thì bị dương che lấp mà không phát ra được, nên ở Hỏa thì dương thắng. Ấy là vì cái sinh ra nó thì nhỏ bé (vi), cái thành tựu nó thì lớn mạnh (thịnh); cái sinh ra nó là khởi đầu của hình, cái thành tựu nó là kết thúc của hình.

Tuy nhiên, mỗi thứ đều do thiên lệch mà thắng, nên tuy có hình mà chưa thành chất, khí bốc lên hạ xuống, Thổ (đất) không thể chế ngự được. Mộc (cây) thì thấp khí của dương dần nhiều lên, cảm ứng với âm mà vươn ra, nên phát thành Mộc, chất của nó mềm, tính của nó ấm. Kim (kim loại) thì táo khí của âm dần nhiều lên, cảm ứng với dương mà co lại, nên kết thành Kim, chất của nó cứng, tính của nó lạnh. Thổ thì khí của Âm Dương đều thịnh, giao hòa, quấn quyện vào nhau, ngưng tụ mà thành chất.

Nếu xét về sự vận hành của khí, thì một Âm một Dương, qua lại thay thế nhau. Nói Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, là nói trong mỗi hành đó lại phân ra già (lão) và trẻ (thiếu) mà thôi, cho nên thứ tự của chúng đều từ trẻ đến già. Thổ thì phân ra ở bốn mùa, mà ở vị trí trung tâm. Năm thứ này thứ tự tuy có vẻ xen kẽ, nhưng thực ra là công cụ để tạo hóa sinh sôi phát triển, chúng cùng tồn tại song song mà không trái ngược nhau.

Ấy là vì, về chất thì Âm Dương giao thoa, ngưng hợp mà thành; về khí thì hai đầu Âm Dương tuần hoàn không dứt. Chất gọi là Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, là nói về sự xen kẽ của Âm Dương, cũng như nói Đông Tây Nam Bắc, gọi là đối đãi nhau vậy. Khí gọi là Mộc, Hỏa, Kim, Thủy, là nói về sự nối tiếp của Âm Dương, cũng như nói Đông Nam Tây Bắc, gọi là lưu hành vậy. Chất tuy cố định không đổi, nhưng khí thì biến hóa vô cùng, đó chính là Dịch vậy.

Tựa Thái Cực Đồ Giải – Trương Thức

Sự truyền thụ đạo học của hai thầy trò Trình (Nhị Trình tiên sinh) bắt nguồn từ Liêm Khê Chu Tử, mà Thái Cực Đồ chính là cái diệu tự mình đắc được của Liêm Khê, do chính tay ngài truyền cho hai thầy trò Trình. Có người nói: Liêm Khê truyền Thái Cực Đồ cho Mục Tu, cái học của Mục Tu lại xuất phát từ Trần Đoàn, sao lại có thể như vậy được? Đây không phải là điều mà các học giả khác có thể biết được. Lời của nó thì ngắn gọn, nghĩa của nó thì sâu xa, từ thời Mạnh Tử đến nay chưa từng có.

Những lời bàn trong Thông Thư phần lớn đều làm sáng tỏ ý này. Cho nên chương đầu nói: “Thành là gốc của Thánh nhân. Lớn thay Càn nguyên, vạn vật nương theo đó mà bắt đầu, đó là nguồn của thành. Đạo Càn biến hóa, mỗi vật đều được chính cái tính mệnh của nó, thành từ đó mà lập.” Lời nói “gốc của Thánh nhân”, “nguồn của thành”, là để làm sáng tỏ sâu sắc nguồn gốc duy nhất của vạn vật biến hóa, để thấy được tinh hoa sâu kín của Thánh nhân, đây chính là cái “mật” (kín đáo) trong Kinh Dịch, cái “vô thanh vô xú” (không tiếng không mùi) trong sách Trung Dung. Đến như “đạo Càn biến hóa, mỗi vật đều được chính cái tính mệnh của nó”, đó là sự lưu hành và biểu hiện ra của bản thể, cho nên nói “thành từ đó mà lập”.

Trong thiên đó có câu: “Ngũ Hành, Âm Dương, Thái Cực, bốn mùa vận hành, vạn vật kết thúc rồi lại bắt đầu, hỗn độn rồi lại phân chia, thật là vô cùng.” Sự truyền thụ đạo học chính là ở đây. Kẻ ngu muội này không tài, xin nêu ra những điểm chính để cùng bàn luận với bạn bè.

Tuy nhiên, Thái Cực há có thể dùng đồ hình mà truyền được sao? Ý của tiên sinh, chỉ là mượn đồ hình để lập nghĩa, khiến người học ngầm hiểu được ý chỉ, cần phải đắc được ở ngoài lời ngoài ý mới được. Nếu không, mà cho rằng có thể dùng phương sở để tìm cầu nó sao?

Hậu Tựa Thái Cực Đồ Giải – Trương Thức

Có người hỏi: Thái Cực Đồ là do Chu tiên sinh tự tay truyền cho hai thầy trò Trình. Nay trong những lời giảng luận, đối đáp của hai thầy trò Trình còn lưu lại trong các sách di cảo, phần lớn đều có thể thấy được, duy chỉ không đề cập đến đồ hình này, tại sao vậy? Nếu cho rằng chưa thể vội vàng chỉ ra, thì những lời vi diệu của Thánh nhân thấy trong Trung Dung, Hệ Từ (của Kinh Dịch), tiên sinh vốn đã làm sáng tỏ nhiều rồi, cớ sao lại chỉ giữ bí mật ở đây?

Thức xin đáp rằng: Hai thầy trò Trình tuy không đề cập đến đồ hình này, nhưng học thuyết của các ngài vốn phần nhiều dựa vào đó. Thử khảo cứu kỹ sẽ tự thấy rõ. Người học nếu thực sự chuyên tâm vào chữ “kính” (kính cẩn, chuyên chú), tích lũy công phu lâu ngày, thì cái cơ vi của động và tĩnh, sẽ cảm nhận sâu sắc được ở chốn ẩn vi, và cái diệu của đồ hình này có thể ngầm đắc được trong lòng. Nếu không, dù cho có biện luận giảng giải chi tiết, cũng vẫn là vô ích.

Than ôi, những luận bàn về “thành thông thành phục” – “ Thành thì thông suốt, thành thì quay về “ của tiên sinh thật là tột cùng! Thánh nhân cùng trời đất có công dụng như nhau, thông rồi lại phục, phục rồi lại thông. Trung Dung dùng hỉ, nộ, ai, lạc lúc chưa phát và đã phát để nói về nó, lại từ trên thân người mà suy tìm. Đến khi thấy được chỗ đại bản đạt đạo, thì gộp lại cũng chỉ là cái Lý này. Cái Lý này từ trên thân người mà suy tìm, nếu không xem xét ở chỗ chưa phát và đã phát, thì làm sao biết được? Ấy là vì từ cội nguồn của trời đất và trên con người mà suy ra, không thể không khác nhau, cho nên ở chỗ “động nhi sinh dương” (động mà sinh ra dương) thì khó khăn.

Dùng hỉ, nộ, ai, lạc đã phát để nói, ở trời đất chỉ là Lý vậy. Nay muốn xem thành hai đoạn, e rằng sẽ sai mất. Quẻ Phục cho thấy cái tâm của trời đất. Các nhà nho xưa cho rằng ở chỗ tĩnh mà thấy được tâm của trời đất, nhưng Y Xuyên tiên sinh (Trình Di) lại cho rằng phải ở chỗ động mới thấy được, điều này có lẽ chính là cái lý “động nhi sinh dương”. Tuy nhiên, từ quẻ Phục mà phát ra đoạn này để chỉ cho người đời, lại ở hào đầu lấy việc Nhan Tử “bất viễn phục” (chẳng xa mà quay lại) để nói, đây chỉ là muốn chỉ cho người ta cái ý không gián đoạn. Người và trời đất cùng một Lý, từ trên cái Lý này mà thu nhiếp lại, thì sẽ hợp đức với trời đất, hợp sự sáng với mặt trời mặt trăng, hợp thứ tự với bốn mùa, hợp sự lành dữ với quỷ thần, tất cả đều nằm trong phạm vi đó mà thôi.

Viết Sau Thái Cực Đồ Giải – Độ Chính

Ban đầu, Chính đọc lời giải Thái Cực Đồ Thuyết của tiên sinh, không hiểu được nghĩa, nhưng thỉnh thoảng vẫn xem và suy ngẫm, không dám bỏ. Hơn mười năm sau, đọc đã lâu, mới bắt đầu biết rằng cái vòng tròn ở trên cùng chính là cái diệu của bản nhiên Thái Cực. Khi động tĩnh đã phân, Âm Dương đã thành hình, thì cái vòng tròn ở trên cùng đó vẫn thường ở trong đó, ấy là vì cái diệu của bản nhiên chưa từng tách rời.

Đến khi Âm Dương biến hợp mà sinh ra Ngũ Hành – Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ mỗi thứ đều có một vòng tròn, đó là nói theo cách phân tích, một vật một Thái Cực. Từ Thủy đến Mộc, từ Mộc đến Hỏa, từ Hỏa đến Thổ, từ Thổ đến Kim, rồi lại hội tụ về một vòng tròn, đó là nói theo cách tổng hợp, Ngũ Hành một Thái Cực. Tuy nhiên, khi chỉ sự hợp lại của Ngũ Hành, chỉ nêu Thủy, Hỏa, Mộc, Kim mà không nói đến Thổ, là vì Thổ vận hành trong bốn khí, nên bốn hành kia là đã bao gồm cả nó, đó là nghĩa của Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng.

Vòng tròn ở dưới là Càn nam Khôn nữ, đó là nói nam nữ một Thái Cực. Lại vòng tròn ở dưới nữa là vạn vật hóa sinh, đó là nói vạn vật một Thái Cực. Để thấy rằng cái diệu của Thái Cực lưu hành trong trời đất, không nơi nào không có, không vật nào không phải vậy.

Tuy nhiên, cái diệu của bản nhiên Thái Cực, vốn không có phương sở để gọi tên, không có tiếng tăm mùi vị để bàn luận. Người học muốn tìm nó, sẽ tìm bằng cách nào? Cũng chỉ là tìm ở trong tâm này mà thôi. Người học nếu thực sự nhận biết được tâm mình, quay lại tìm nó trong sinh hoạt hàng ngày, thì sẽ có thể có được điều để nói. Cái trạng thái tịch nhiên bất động, hỉ nộ ai lạc chưa phát, đó là thể của tâm này, và cái diệu của bản nhiên Thái Cực ở đó vậy. Cảm mà thông suốt, hỉ nộ ai lạc đã phát, đó là dụng của tâm này, và cái diệu của bản nhiên Thái Cực lưu hành ở đó.

Nhưng cái đã phát thì có thể thấy, cái chưa phát thì không thể thấy; cái đã phát có thể nghe, cái chưa phát không thể nghe. Người học ở đây nếu thể nghiệm sâu sắc và ngầm nhận ra, nhân cái có thể thấy mà suy ra cái không thể thấy, nhân cái có thể nghe mà suy ra cái không thể nghe, thì may ra sẽ dung hội quán thông. Cái diệu của bản nhiên Thái Cực có thể tìm được, và tâm cực cũng may ra có thể lập được. Có kẻ không biết dốc sức tra xét ở đây, mà đối với cái gọi là Vô Cực, lại cho rằng thật sự là không có gì, và cho đó là cái lỗi trong lời nói của Chu Tử, thật đã sai lầm quá xa.

Tiên sinh từng bảo Chính rằng: “Vạn vật sinh ra từ Ngũ Hành, Ngũ Hành sinh ra từ Âm Dương. Âm Dương sinh ra từ Thái Cực, cái lý đến đây là tột cùng.” Chính khi đó nghe xong, trong lòng bỗng sáng tỏ, như thấy được tại sao Lý lại như vậy, tên gọi tại sao lại được lập ra như vậy.

Tiên sinh lại nói: “Đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, tại sao vậy? Đây là cái mà Trình Tử gọi là cảnh giới trên biển không có người, mà người bỗng sinh ra ở đó, đây là khởi đầu của việc trời đất sinh vật, là cái đạo ‘cảm sinh’ (cảm ứng mà sinh ra) mà các nhà Lễ học nói đến.” Lại nói: “Sinh trời sinh đất, thành quỷ thành đế, chính là nghĩa của Thái Cực động tĩnh sinh Âm Dương.”

Ấy là vì tiên sinh những năm cuối đời, trong ngoài thông suốt, sự và lý đều dung hợp. Phàm trong trăm nhà chư tử, một lời một hành động nào hợp với đạo, cũng không điều gì không xem xét, huống chi là yếu chỉ của cửa Thánh! Toại Ninh có truyền rằng Kỳ Bá Thành khi chưa đỗ đạt, từng theo Chu Tử ngao du và tiếp nhận lời bàn luận của ngài. Tiên sinh nghe vậy, từng sai Chính đi tìm con cháu của ông ta để tìm lại những văn bản còn sót lại. Khi ở quê nhà, Bá Thành từng có thư cảm ơn về bài Ngộ Thuyết được gửi cho, sau này ở Vĩnh Châu, lại có thư cảm ơn về bài Cải Định Đồng Nhân Thuyết được gửi cho. Nhưng bản thảo của Bá Thành vẫn còn, mà Dịch Thuyết của Chu Tử thì không còn thấy nữa. Nghe tiên sinh nói, sách Thông Thư ngày nay vốn tên là Dịch Thông, vậy thì sáu mươi bốn quẻ nghi là đều có lời giải. Nay xem xét sách, chỉ còn các thuyết về quẻ Càn, Tốn, Ích, Gia Nhân, Khuê, Phục, Vô Vọng, Mông, Cấn, mà cũng không có cái gọi là Ngộ Thuyết, Đồng Nhân Thuyết, vậy thì sách đã thất lạc cũng nhiều rồi, há không đáng tiếc sao!

Thái Cực là để làm sáng tỏ cái diệu dụng của tâm này, Thông Thư lại là để làm sáng tỏ cái diệu dụng của Thái Cực. Nhưng lời lẽ cao sâu, nghĩa lý vi mật, không phải người học đời sau có thể mau chóng mà lĩnh hội được. Nay tiên sinh đã luận bàn qua lại, nghiên cứu đến cùng học thuyết của nó, chương thông câu giải, không còn gì đáng nghi ngờ, sự mong mỏi của ngài đối với người học đời sau thật là lớn lao. Chính này không tự lượng sức mình, đem cả những điều nghe được từ tiên sinh mà phụ vào đây, người học hãy nghiền ngẫm và thưởng thức cho sâu sắc vậy!

Viết Sau Thái Cực Đồ Giải – Cung Cửu Ngôn

Dịch có Thái Cực, Liêm Khê phu tử (Chu Đôn Di) thêm vào Vô Cực, tại sao vậy? Con người là hình ảnh thu nhỏ của trời đất, thử lấy tâm ta mà nghiệm xét: khi tịch nhiên không suy nghĩ, vạn thiện chưa phát, đó là Vô Cực vậy. Tuy nói là chưa phát, nhưng tâm này sáng rõ, nguồn linh không lu mờ, đó là Thái Cực vậy. Muốn biết Thái Cực, trước hãy nhận biết tâm ta, lắng thần giữ ý, quan sát mà thấy nó, mới biết phu tử đã làm sáng tỏ cái sâu kín của tạo hóa, khai mở cho muôn đời, và cá ý chỉ sâu xa của Dịch Phục Hy càng thêm rạng rỡ. Có kẻ cho rằng thêm Vô Cực là bừa bãi, có kẻ lại giải thích theo văn tự, đều đã xa rời ý của phu tử lắm rồi.

Tổng Tựa Thái Cực Đồ Thông Thư – Chu Hy

Bên trên là một tập sách của Chu Tử, nay các bản ở Chung Lăng, Linh Lăng, Cửu Giang đều có, nhưng có những chỗ khác nhau. Bản ở Trường Sa ra đời sau cùng, do Hỷ (tên của Chu Hy) biên soạn và hiệu đính, so với các bản khác thì chi tiết và chặt chẽ nhất, nhưng vẫn có chỗ chưa hoàn thiện.

Ấy là vì, học vấn của tiên sinh, cái diệu của nó nằm trọn trong một đồ hình Thái Cực, ý chỉ của Thông Thư đều là phát huy cái sâu kín của đồ hình này, và khi hai thầy trò Trình bàn về tính mệnh, cũng chưa từng không dựa vào học thuyết của ngài. Xem các chương Thành, Động Tĩnh, Lý Tính Mệnh… trong Thông Thư, cùng các bài như Lý Trọng Thông Minh, Trình Thiệu Công Chí, Nhan Tử Hảo Học Luận… của họ Trình, thì có thể thấy rõ. Cho nên, Phan Thanh Dật khi viết mộ chí cho tiên sinh, kể về các sách ngài viết, đã đặc biệt đề cao việc sáng tạo Thái Cực Đồ lên hàng đầu. Vậy thì, đồ hình này đáng lẽ phải ở đầu sách là điều không còn nghi ngờ gì nữa.

Nhưng tiên sinh đã tự tay truyền cho hai thầy trò Trình, nên nó được chép kèm sau sách… Người truyền lại thấy vậy, liền lầm tưởng đồ hình là chương cuối của sách, không chỉnh lý lại, khiến cho ý chỉ sâu xa “lập tượng tận ý” của tiên sinh bị che khuất không sáng tỏ, mà người mới đọc Thông Thư cũng không biết đâu là cái bao quát tổng thể. Đây là lỗi của tất cả các bản. Bản Thông Thư ở Trường Sa, do các thiên chương được Hồ thị truyền lại không theo thứ tự cũ, lại bỏ đi các tiêu đề của từng chương, mà thêm vào chữ “Chu Tử viết”, đối với đại nghĩa của sách tuy không có hại gì, nhưng vốn không phải bản cũ của tiên sinh, cũng có chỗ bỏ đi tiêu đề mà thành ra không thể hiểu được, như chương Lý Tính Mệnh chẳng hạn. Lại nữa, các bản chép kèm minh họa, thơ văn, nhiều chỗ trùng lặp, hoặc không làm sáng tỏ được đạo của tiên sinh để giúp ích cho người học.

Cho nên, nay tôi đặc biệt dựa vào mộ chí của Phan công mà đặt đồ hình ở đầu sách, để làm nổi bật tinh ý của tiên sinh, từ đó có thể thông suốt được học thuyết của sách. Về phần phân chương và sắp xếp thứ tự của sách, cũng đều khôi phục lại như cũ. Lại lấy những ghi chép xác thực về hành trạng của tiên sinh do Hồ công, Bồ tả thừa, Khổng tư phong, Hoàng thái sử ghi lại, xóa bỏ những chỗ trùng lặp, gộp thành một thiên, để tiện cho người đọc. Ấy là vì các sách vở, lời nói và hành động của tiên sinh được truyền lại ở đời, đều có đủ ở đây.

Phan công trong mộ chí có nói: Dịch Thông nghi là Thông Thư, nhưng Dịch Thuyết lại không còn thấy. Trước đây tôi thấy bạn bè có nhiều sách quý, tự xưng là có bản được truyền lại, vội mượn xem, thì thấy nông cạn đến nực cười. Đều là do các sĩ tử thời đó chắp vá những mẩu vụn, hoàn toàn không giống với Đồ ThuyếtThông Thư, không hỏi cũng biết là giả. Chỉ không biết ở đời liệu còn ai có được bản thật hay không? Cứ theo đồ hình và sách mà suy, biết rằng những điều ngài phát minh ra hẳn phải vô cùng tinh túy, những lời vi diệu bị mai một, thật đáng tiếc thay.

Hy này cũng từng đọc bài biểu dâng sách Dịch Thuyết của Chu Nội Hàn Chấn, nói rằng sự truyền thụ của đồ hình này là từ Trần Đoàn, Chủng Phóng, Mục Tu mà đến. Mà Hồ công Nhân Trọng (Hồ Ngũ Phong) trong bài tựa Thông Thư lại nói tiên sinh không chỉ là người học theo Chủng, Mục, đó chỉ là một trong các thầy của học thuật đó mà thôi, chứ không phải là nơi cao nhất. Học vấn của tiên sinh diệu đến thế, không ngoài đồ hình này, nếu cho rằng nhận được từ người khác, thì quyết không phải là tầm của Chủng, Mục có thể đạt tới; nếu cho rằng đó không phải là chỗ cao nhất, thì học vấn của tiên sinh còn có gì cao hơn đồ hình này nữa? Cho nên tôi đã từng nghi ngờ. Đến khi có được văn mộ chí để khảo cứu, mới biết rằng đó quả thực là do tiên sinh tự mình sáng tạo ra, chứ không phải nhận từ người khác. Có lẽ các vị đó đều chưa thấy mộ chí này nên mới nói như vậy.

Tuy nhiên, lời luận của Hồ công về ý chỉ của Thông Thư rằng: “Người ta thấy sách của ngài ngắn gọn, mà không biết đạo của ngài lớn lao; thấy văn của ngài giản dị, mà không biết nghĩa của ngài tinh vi; thấy lời của ngài thanh đạm, mà không biết vị của ngài đậm đà. Người nào thực sự có thể lập chí của Y Doãn, tu học của Nhan Tử, thì sẽ biết lời trong sách này bao hàm rộng lớn, mà sự nghiệp của cửa Thánh là vô cùng.” Đây quả là lời luận tột cùng không thể thay đổi, người đọc sách này nên biết. Do đó, tôi lại trích lấy để ghi ở sau.

Tựa Lược Thông Thư – Hồ Hoành

Thông Thư có bốn mươi chương, do Chu Tử viết. Chu Tử tên là Đôn Di, tự Mậu Thúc, người Xuân Lăng. Suy về nguồn gốc đạo học của ngài, có người nói: “Truyền Thái Cực Đồ từ Mục Tu.” Lại truyền Tiên Thiên Đồ từ Chủng Phóng, Chủng Phóng truyền từ Trần Đoàn. Đây có lẽ chỉ là một trong các thầy của học thuật đó chăng, chứ không phải là nơi cao nhất. Hy Di tiên sinh (Trần Đoàn) có nguyện vọng với thiên hạ, nhưng cuối cùng lại cùng phường với những người hát khúc Phượng Ca, đội nón lá, đi mãi không về, đối với đạo “không có gì là không thể” của Thánh nhân, dường như cũng có chỗ chưa đạt tới.

Trình Minh Đạo tiên sinh từng bảo các đệ tử rằng: “Xưa ta theo học Chu Tử, ngài bảo ta đi tìm xem Trọng Ni, Nhan Tử vui với điều gì?” Mà Minh Đạo tiên sinh từ sau khi gặp lại Chu Tử, đã ngâm gió vịnh trăng mà trở về. Các bậc sĩ phu về đạo học đều nói rằng họ Trình (Trình Hạo) đã nối tiếp cái học không được truyền của Mạnh Tử, vậy thì Chu Tử há chỉ dừng lại ở học thuật của Chủng, Mục mà thôi sao?

Xét lại chuyện xưa, Khổng Tử thuật lại đạo của Tam Hoàng Ngũ Đế, lập ra phép tắc kinh bang tế thế cho trăm đời vua. Mạnh Kha thì bài xích Dương Chu, Mặc Địch, phát huy ân đức của Khổng Tử, để cho muôn đời không dứt, người ta nói công của Mạnh Tử không dưới vua Vũ. Nay Chu Tử khai mở cho hai anh em họ Trình cái diệu không được truyền, một lần khôi phục lại ánh sáng của muôn đời xưa, như mặt trời rực rỡ trên trời, sẽ trở thành lợi ích cho trăm đời sau, như nước chảy trên đất, công lao của ông có lẽ ở khoảng giữa Khổng Tử và Mạnh Tử.

Người ta thấy sách của ngài ngắn gọn, mà không biết đạo của ngài lớn lao; thấy văn của ngài giản dị, mà không biết nghĩa của ngài tinh vi; thấy lời của ngài thanh đạm, mà không biết vị của ngài đậm đà. Kẻ ngu muội này làm sao đủ biết được. Nhưng đã tâm phục nhiều năm, thử nêu một hai lời để giúp ích cho các bạn đồng chí chăng?

Lo người đời lấy việc thi cử đỗ đạt, làm rạng danh bản thân, vỗ béo gia đình, chạy theo thời thế để được sủng ái làm mục đích, thì ngài nói: “Hãy lập chí như chí của Y Doãn”; lo người đời lấy kiến thức nghe thấy làm đắc ý mà tự giới hạn mình, không đợi giá mà tự rao bán, thì ngài nói: “Hãy học theo cái học của Nhan Tử.” Người nào thực sự có thể lập chí của Y Doãn, tu học của Nhan Tử, thì mới biết lời trong Thông Thư bao hàm rộng lớn, mà sự nghiệp của cửa Thánh là vô cùng. Cho nên, một quyển sách này, đều là khởi đầu để chỉ cho người đời, đáng để vượt lên trên các chư tử, sánh ngang với Dịch, Thư, Thi, Xuân Thu, Luận Ngữ, Mạnh Tử mà lưu hành trong thiên hạ. Vì thế, tôi viết tựa và cất giữ nó. Gặp được bậc thiện sĩ trong thiên hạ, lại muốn bàn luận về người xưa và muốn đọc sách của họ, thì sẽ truyền cho.

Lời Bạt Trước Thông Thư – Chu Hy

Thông Thư là sách do Liêm Khê phu tử sáng tác. Phu tử họ Chu, tên Đôn Di, tự Mậu Thúc. Từ nhỏ đã nổi tiếng trong đời về học hạnh, nhưng không ai biết ngài học từ đâu. Chỉ vì hai thầy trò Trình ở Hà Nam từng theo học ngài, mà đắc được chính thống không truyền của Khổng Mạnh, nên có thể thấy được nguồn gốc sâu xa của ngài. Nhưng cái thú “ngâm gió vịnh trăng” mà ngài dùng để chỉ ra niềm vui của Trọng Ni, Nhan Tử, thì cũng không thể nghe biết được hết. Sách ngài viết lại thất lạc nhiều, duy chỉ có một thiên này, vốn tên là Dịch Thông, cùng với Thái Cực Đồ Thuyết do họ Trình truyền lại cho đời sau, mà học thuyết của chúng thực ra là biểu lý (trong ngoài) cho nhau.

Đại để sách này suy từ sự phân hợp của một Lý, hai Khí, năm Hành, để làm cương lĩnh cho cái tinh vi của đạo thể; quyết định sự lựa chọn giữa đạo nghĩa văn chương và lợi lộc, để vực dậy cái thấp hèn của học thuật thế tục. Đến khi bàn về phương pháp nhập đức, công cụ kinh bang tế thế, lại đều gần gũi, giản dị, không phải lời nói suông. Tuy nhiên, cái cương lĩnh lớn và công dụng rộng của nó, đã không phải các nhà nho từ thời Tần, Hán trở đi có thể sánh kịp, mà cái trật tự chặt chẽ, ý vị sâu xa của nó, lại không phải người học đời nay có thể mau chóng mà lĩnh hội được. Cho nên, sau khi họ Trình qua đời, người truyền lại rất ít, người biết đến nó chẳng qua chỉ cho rằng ý tứ cao xa mà thôi.

Hy này từ thuở nhỏ đã may mắn có được di cảo của ngài, đọc đi đọc lại, ban đầu mờ mịt không hiểu ngài nói gì, thậm chí không thể ngắt câu. Đến tuổi tráng niên, được theo học Diên Bình tiên sinh, mới bắt đầu nghe được một hai phần về học thuyết của ngài. Những năm gần đây, âm thầm nghiền ngẫm đã lâu, dường như mới có chút sở đắc. Tuy cái cương lĩnh lớn và công dụng rộng, không dám tự cho là biết, nhưng giữa các chương câu văn tự, thì thực sự thấy được trật tự ngày càng chặt chẽ, ý vị ngày càng sâu xa, không lừa dối ta vậy. Nhưng từ lúc bắt đầu đọc đến nay, năm tháng bao nhiêu, thoáng chốc đã ba mươi năm. Than cho bậc hiền triết ngày càng xa, sợ rằng ý chỉ sâu xa không còn ai truyền. Kẻ hèn này không tự lượng sức, bèn viết chú giải. Tuy biết rằng nông cạn, không đủ để phát huy cái tinh hoa sâu kín của phu tử, nhưng để mở đầu cho việc thông suốt đại nghĩa, chờ đợi bậc quân tử đời sau, thì may ra cũng có chút hy vọng.

Lời Bạt Sau Thông Thư – Trương Thức

Sách Thông Thư của Liêm Khê Chu tiên sinh, bạn tôi là Chu Hy, tự Nguyên Hối, đã đặt Thái Cực Đồ ở đầu thiên, và đề là Thái Cực Thông Thư. Thức đã cho khắc in ở học cung Nghiêm Lăng, để cho nhiều sĩ tử cùng xem.

Than ôi! Từ khi Thánh học không còn sáng tỏ, người bàn về đạo không thấy được toàn thể, kẻ thấp kém thì chia cắt rời rạc không có hệ thống, kẻ cao siêu thì mông lung mà không tinh tế. Do đó, thuyết tính mệnh không gắn liền với sự vật, mà việc kinh bang tế thế chỉ xuất phát từ tư ý tiểu trí, há không đáng than sao! Duy chỉ có tiên sinh sinh sau hơn nghìn năm, đã siêu nhiên một mình đắc được cái học được truyền của Đại Dịch, cái gọi là Thái Cực Đồ chính là cương lĩnh của nó. Ngài làm sáng tỏ nguồn gốc của động tĩnh, để thấy sự sinh hóa không cùng, thể của thiên mệnh lưu hành không nơi nào không có, văn lý chặt chẽ, gốc ngọn xuyên suốt. Nếu không phải là người có thể làm sáng tỏ cái vi diệu, đạt đến chỗ sâu kín, thì không thể nhận thức được ý chỉ của ngài.

Tuy nhiên, người học làm thế nào để có thể tiến đến đó? Cũng chỉ có một chữ “kính” (kính cẩn, chuyên chú) mà thôi. Nếu thực sự có thể trong sinh hoạt ăn ở đi lại hàng ngày, giữ được sự chuyên nhất không rời, thì cái tri thức về đức tính của mình tất sẽ có chỗ nổi bật không thể che giấu được trong lúc thể nghiệm, quan sát, sau đó mới có thể tìm hiểu đến cùng cái sâu kín của tiên sinh, và Thái Cực mới có thể nhận thức được.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc