Tạng phủ là tên gọi chung của Trung y cho các cơ quan nội tạng, thường được gọi là ngũ tạng lục phủ. Theo 《Tố Vấn – Ngũ Tạng Biệt Luận Thiên》, “Tạng” chỉ năm cơ quan tạng trong cơ thể, tức là: Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận (thêm Tâm bào là sáu tạng), chức năng chính là sinh hóa và tích trữ tinh khí. “Phủ” chỉ sáu cơ quan phủ, tức là: Đảm, Tiểu trường, Vị, Đại trường, Bàng quang, Tam tiêu, chức năng chính là tiếp nhận và chuyển hóa thủy cốc (thức ăn, nước uống) đồng thời tích trữ tinh khí.

Thiên Can có mười, Địa Chi có mười hai, Can và Chi kết hợp lại có sáu mươi cặp, tạo thành một chu kỳ Lục thập hoa giáp. Điều quan trọng nhất là thuộc tính của chúng, chính là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy – thuộc tính của Ngũ Hành. Giáp, Ất là Mộc; Bính, Đinh là Hỏa; Mậu, Kỷ là Thổ; Canh, Tân thuộc Kim. Chúng ta sẽ dùng phương pháp “Nạp Thiên Can”, tức là lấy thuộc tính Ngũ Hành của chúng. Lý thuyết Ngũ Hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy của Trung y chính là điều khiến người khác khó hiểu. Dùng phương pháp Bát cương biện chứng, hay các phương pháp khác cũng không được, vẫn phải dùng Âm Dương Ngũ Hành: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy. Trong mỗi hành, chúng ta lại chia ra Âm và Dương. Có Dương Mộc, Âm Mộc; Dương Hỏa, Âm Hỏa; Dương Thổ, Âm Thổ. Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy đều được chia thành Âm và Dương. Vì vậy có mười Thiên Can, đại diện cho mười thuộc tính. Mộc đại diện cho Can, Tâm tạng là Hỏa, Tỳ tạng là Thổ, Phế tạng là Kim, Thủy là Thận tạng. Tương tự, Thủy lại chia Âm Dương, Ngũ Hành đều có hiện tượng Âm Dương.

Bài ca Địa Chi, nói một cách đơn giản, là Giờ Dần khai Phế, mọi người đều biết giờ Dần là từ 3 đến 5 giờ sáng. Giờ Mão từ 5 đến 7 giờ, là lúc Đại trường hoạt động. Giờ Thìn từ 7 đến 9 giờ, là Vị (dạ dày). Giờ Tỵ từ 9 đến 11 giờ sáng, là Tỳ tạng. Giờ Ngọ từ 11 giờ trưa đến 1 giờ chiều, là Tâm (tim). Giờ Mùi từ 1 đến 3 giờ chiều, là Tiểu trường (ruột non). Tiếp theo là giờ Thân từ 3 đến 5 giờ chiều, là Bàng quang. Kế đến là giờ Dậu từ 5 đến 7 giờ tối, là Thận tạng. Giờ Tuất từ 7 đến 9 giờ tối, là kinh Tâm bào. Từ 9 đến 11 giờ đêm là giờ Hợi kinh Tam tiêu. Từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng là giờ Tý quay về kinh Đảm (mật). Cuối cùng là giờ Sửu từ 1 đến 3 giờ sáng, quay về kinh Can.

Tại sao cần biết những điều này? Thứ nhất, nó giúp chúng ta chẩn đoán. Ví dụ, một bệnh nhân đến gặp bạn, người này sắc mặt vàng vọt, xem lòng bàn tay lại thấy màu đỏ sẫm. Bạn hỏi một câu: “Buổi tối ngủ có ngon không?” Họ trả lời: “Ngày nào cũng hơn một giờ sáng là tôi tỉnh giấc.” Từ đầu đến cuối không cần hỏi câu thứ hai. Lần hỏi bệnh đầu tiên, chỉ hỏi về giấc ngủ là kết thúc.

Trong Ngũ Hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy lại có thể chia thành các màu sắc Thanh (xanh), Xích (đỏ), Hoàng (vàng), Bạch (trắng), Hắc (đen). Phế (Phổi) có màu trắng, màu nguyên bản của kim loại là màu trắng, vàng nguyên chất thực sự là bạch kim. Phế có màu trắng. Còn Tâm (Tim)? Là Hỏa mà! Màu đỏ. Phổi lớn hơn tim rất nhiều, rất nhiều màu trắng cộng thêm một chút màu đỏ, sẽ ra màu hồng phấn của lòng bàn tay. Lòng bàn tay thể hiện màu sắc của các cơ quan từ rốn trở lên. Can (Gan) là mẹ của Tâm, nguồn máu trong tim đến từ gan, gan là nhà cung cấp. Khi bạn ngủ, đó là lúc gan bận rộn nhất, nó chuyển hóa tất cả độc tố trong cơ thể. Nếu máu này bình thường, cả lượng và chất đều tốt, kết hợp với màu trắng của Phế, thì sắc diện sẽ là tốt nhất.

“Tạng” mà chúng ta nói, giống như chữ “tàng” trong “cất giữ”. Năm tạng có chức năng cất giữ, thuộc về Âm. “Phủ” là hệ tiêu hóa, thuộc về Dương. Trong đó, Âm Mộc là Can, Dương Mộc là Đảm; Âm Hỏa là Tâm, Dương Hỏa là Tiểu trường. Hỏa có hai cơ quan, một là Tâm, hai là Tiểu trường. Tỳ thuộc Thổ là Âm, Tỳ là nội tạng, tương ứng với Dương Thổ là Vị (dạ dày). Phế là tạng Âm, vì vậy Phế tạng là Âm, còn Dương là Đại trường. Thủy thì có Dương Thủy và Âm Thủy. Nếu chúng ta nói “tạng”, đó là Âm; nói “phủ”, đó là Dương. Vì vậy, Thận tạng là Âm, còn Dương Thủy là Bàng quang.

Tại sao Trung y định nghĩa Tâm (tim) là Hỏa? Vì tim đập liên tục tạo ra nhiệt. Tây y thì không như vậy. Họ nhìn vào và nói: bạn bị hở van tim, bạn bị rối loạn nhịp tim, bạn bị nhồi máu cơ tim, xơ cứng động mạch. Tây y đều nhìn thấy các vấn đề về cấu trúc, tức là chỉ thấy hình dạng bên ngoài. Vì vậy, các tên bệnh mà Tây y đặt ra đều là “hình”, họ không có “thần”. Nghe có vẻ rất chi tiết, nhưng chỉ có “hình”, không có “thần”. Chính vì tim không ngừng co bóp, một ngày khoảng hơn mười vạn lần, bạn thử nghĩ xem tim đập liên tục như vậy có nóng không? Đã là nóng, chúng ta không biết diễn tả thế nào, đành phải dùng chữ “Hỏa” để thay thế, đúng không? Vì vậy, nguồn gốc của thân nhiệt đến từ tim, vì tim không ngừng co bóp. Toàn bộ cơ thể, chính là nhờ tim không ngừng đập. Tây y chỉ biết phần sau mà không biết phần trước, biết thân nhiệt là 98.6°F (37°C) nhưng không biết thân nhiệt từ đâu mà có. Nó đến từ tim.

Con người có một cái cổ, có thể làm mát luồng khí nóng. Đây là Tiểu trường (ruột non). Tiểu trường là Tướng hỏa, Thận nằm phía sau tiểu trường, Thận tạng là Thủy, vì vậy hạ tiêu là nơi “Thủy Hỏa đồng nguyên” (nước và lửa cùng một nguồn). Ngọn lửa của tiểu trường có nguồn gốc từ tim. Đây là Phế (phổi), tim không ngừng hoạt động tạo ra nhiệt, chúng ta dùng Kim (Phế) để kiểm soát nó. Phế chủ về túc giáng, đưa luồng nhiệt của tim xuống tiểu trường. Giữa tim và tiểu trường có một động mạch lớn, Tây y gọi là động mạch chủ. Quan niệm của Tây y rất đơn giản, máu này đi xuống tiểu trường, đến các chi. Trung y nói rằng như vậy vẫn chưa đủ, chỉ có dòng máu chảy thôi là chưa đủ, vì nhiệt cũng đi theo xuống dưới.

Tâm và Tiểu trường có quan hệ biểu lý. Nhìn vào mặt cắt của cơ thể người, ngực và lưng, tim ở đây, trung tâm của con người có một mạch máu lớn, mạch máu này đưa máu vào tiểu trường. Khi ngọn lửa của bạn ở trong tiểu trường, hai ngọn lửa này có cùng nhiệt độ, tốc độ và áp suất. Vì vậy, tim quản lý trọng lượng cơ thể, quản lý vòng eo của con người. Tây y không biết là tim quản lý điều này, do đó béo phì là vấn đề của tim. Giúp bệnh nhân giảm cân chính là làm mạnh tim của họ.

Tiểu trường là Dương Hỏa, vì nó là hệ tiêu hóa, thức ăn vào dạ dày rồi đến tiểu trường, tiểu trường sẽ tiêu hóa thức ăn. Tại sao lại định nghĩa tiểu trường cũng là Hỏa? Vì tim và tiểu trường là biểu lý, mối quan hệ như vậy chúng ta gọi là quan hệ biểu lý. Trung y nói “biểu” là nói đến phủ, nói “lý” là nói đến tạng. Tim và tiểu trường đều được định nghĩa là Hỏa. Tiểu trường là trái tim thứ hai. Nhiệt do tim tạo ra, theo lý thì nhiệt phải đi lên. Bạn chưa bao giờ nghe nói về “khí cầu lạnh”, chỉ nghe nói về “khinh khí cầu nóng” bay lên thôi, đúng không? Vì vậy, bản tính của nhiệt là đi lên. Nhưng nếu chỉ đi lên thì không được, ngày nào cũng sẽ bị quá nhiệt, cứ sốt cao là đi đời! Não sẽ bị cháy hỏng! Vì vậy, tạo hóa đã tạo ra Phế (phổi), Phế là Kim. Trong Âm Dương Ngũ Hành, Hỏa khắc Kim, và cả hai cùng kiềm chế lẫn nhau.

Tỳ tạng của Trung y được gộp chung với tụy tạng. Tức là Trung y gộp Tỳ tạng và một miếng “thịt ngọt” bên dưới (chính là tụy tạng) làm một. Tỳ tạng và Vị (dạ dày) có quan hệ biểu lý. Vị là biểu, Tỳ là lý. Vì vậy chúng ta chỉ thấy được vị khí, không thấy được Tỳ tạng, đây là “tạng”, nội tạng. Vị là “phủ”, định nghĩa của phủ là bài tiết, tiêu hóa. Do đó, phủ sẽ có lối vào ra; còn “tạng” giống như chữ “tàng” trong cất giữ.

Tỳ và Vị có quan hệ biểu lý. Trung y cho rằng “Dinh” là huyết, “Vệ” là khí. Vì vậy, Tỳ tạng chứa rất nhiều huyết, còn Vị chứa rất nhiều khí. Khí và huyết ở trong trạng thái cân bằng. Khi chúng ta hít thở, cơ hoành lên xuống, đây là do khí đang thúc đẩy. Ngoài việc đẩy Can (gan), nó còn đẩy Tỳ tạng, Tỳ được đẩy thì Vị bị ép lại. Vị, Tỳ khi sung huyết, Vị bị ép nhỏ lại. Lúc thì anh lớn tôi nhỏ, lúc thì anh nhỏ tôi lớn, cả hai thể hiện một mối quan hệ tương tác.

Tây y không nhìn thấy Tỳ tạng, chỉ thấy Vị (dạ dày) đang co bóp thức ăn, không thấy được sự tương tác giữa Tỳ và Vị ở phía sau. Đồng thời, trong Đại trường, do lửa của Tiểu trường ở dưới đốt, nước của Đại trường đi ở trên. Khi Tiểu trường đốt, tân dịch của Tiểu trường và Đại trường đều sẽ đi lên vào Phế, tân dịch của Phế khi ra khỏi miệng chính là nước bọt, nước miếng của chúng ta chảy ra từ Tỳ và Vị. Hai thứ này có gì khác nhau? Nói một cách đơn giản, nước miếng của bệnh nhân đột quỵ (trúng phong), đó là “tiên”. Nhưng thứ này chảy ra không có vị chua, vì nó đến từ Tỳ tạng, có vị ngọt. Còn tân dịch trong dạ dày thì rất chua.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc