Trời có tinh khí, đất có hình thể. Trời có tám tiết khí, đất có năm phương vị. Vì vậy, trời đất có thể trở thành gốc rễ cho sự sinh trưởng của vạn vật. Dương khí trong nhẹ mà bay lên trời, Âm khí đục nặng mà giáng xuống đất. Sự vận động và tĩnh lặng của trời đất bắt nguồn từ sự biến đổi không ngừng của Âm Dương, từ đó quyết định sự sinh trưởng, thu tàng, tuần hoàn lặp đi lặp lại của vạn vật, không bao giờ ngừng nghỉ. Chỉ khi thông hiểu những đạo lý này, mới có thể ở trên thì thuận theo thời tiết để bảo dưỡng đầu, ở dưới thì thuận theo khí đất để bảo dưỡng đôi chân, ở giữa thì dựa vào việc đời để bảo dưỡng ngũ tạng. Khí của trời thông với Phế, khí của đất thông với yết hầu (cổ họng, thực quản), khí của gió (Mộc) thông với Can, khí của sấm (Hỏa) thông với Tâm, khí của hang núi (Thổ) thông với Tỳ, khí của mưa thông với Thận. Sáu kinh mạch giống như sông lớn, ruột và dạ dày giống như biển cả, chín khiếu giống như nơi dòng nước đổ về. Giả như lấy Âm Dương của trời đất để ví với Âm Dương của cơ thể người, thì mồ hôi của cơ thể giống như mưa từ trời rơi xuống, khí của cơ thể giống như gió thổi trên mặt đất. Cơn giận dữ của con người giống như sấm sét, khí nghịch lên giống như trời nắng gắt không mưa. Cho nên, nếu không noi theo đạo trời, không dùng phép đất, tai họa sẽ ập đến.
Người xưa xem khí tượng, vật hậu (sự thay đổi của sinh vật theo mùa) và thiên tượng đều là đạo trời, cho rằng giữa trời và người, cũng như giữa người với các vật khác, vật với vật, người với người, do tác dụng của khí Âm Dương mà tự nhiên phát sinh mối quan hệ đồng loại tương cảm. Vì vậy, kết quả hành vi của con người dù đúng hay sai, đều được xem là sự phản ánh của trời đối với người, đó chính là “thiên nhân cảm ứng”, “thiên nhân tương thông”. Sách “Lã Thị Xuân Thu – Thập Nhị Kỷ” đã quy định chi tiết những việc con người nên làm và không nên làm trong 12 tháng của một năm, để tránh “người oán trời giận”. Con người trong thực tiễn đã phát hiện ra mối quan hệ nhất định giữa các mùa, thiên tượng và vật hậu, lấy đó làm cơ sở để sắp xếp sản xuất và sinh hoạt. Sức khỏe và mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quy luật tự nhiên, làm việc theo quy tắc tự nhiên của ngũ vị, ngũ sắc, ngũ thanh, đó chính là “đắc đạo”.
Sách “Hoàng Đế Nội Kinh – Tố Vấn – Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận” cho rằng, sự biến đổi của năm mùa Xuân, Hạ, Trường Hạ, Thu, Đông trong trời đất, cùng sự thay đổi của năm khí hậu Hàn, Thử, Táo, Thấp, Phong, ảnh hưởng đến sự thay đổi của năm loại khí trong ngũ tạng của con người, hình thành nên các loại tình chí khác nhau: mừng, giận, buồn, lo, sợ. Trời có ngũ âm, người có ngũ tạng; trời có sáu luật (âm luật), người có lục phủ. Đó là sự tương ứng giữa người và trời. Hàn và thử (lạnh và nóng) xâm nhập sẽ làm tổn thương hình thể; tình chí mất cân bằng sẽ làm tổn thương khí. Giận dữ quá mức làm tổn thương Âm khí, vui mừng quá độ làm tổn thương Dương khí. Đáng sợ hơn là khí nghịch xông lên, huyết mạch tắc nghẽn, hình sắc đột nhiên thay đổi. Vui giận không tiết chế, nóng lạnh không theo quy luật, sẽ có nguy cơ tổn hại đến tính mạng.
Sách “Hoàng Đế Nội Kinh – Sinh Khí Thông Thiên Luận”, Hoàng Đế nói: Từ xưa đến nay, hoạt động sống luôn tương thông với sự thay đổi của giới tự nhiên, đây là căn bản của sinh mệnh. Trong khoảng trời đất, bên trong lục hợp, bất kể là đất đai của chín châu thiên hạ, hay chín khiếu, ngũ tạng, mười hai khớp của con người, đều tương thông với khí của tự nhiên. Âm Dương của trời hóa sinh ra Ngũ Hành của đất, khí Âm Dương lại dựa vào sự thịnh suy tiêu trưởng mà phân thành tam âm tam dương. Người thường xuyên đi ngược lại quy luật biến đổi của Âm Dương sẽ bị tà khí gây hại. Thích ứng với quy luật biến đổi của Âm Dương là gốc rễ của tuổi thọ. Khí của trời trong sạch, thì tình chí và tinh thần của con người cũng tương ứng thuận lợi và bình hòa; thuận theo khí trời như vậy, Dương khí của con người có thể được củng cố. Dù có tặc phong tà khí, cũng không thể xâm phạm cơ thể.
Khí là cội nguồn cấu thành nên vạn vật trong vũ trụ, bất kể là vật thể hữu hình tồn tại trong vũ trụ, hay là vật chất vô hình cực kỳ vi tế vận động giữa các vật thể hữu hình, đều là hình thức tồn tại của khí. Còn tinh, là phần tinh túy trong khí, là cội nguồn sản sinh ra sinh mệnh, cho nên sách “Quản Tử – Nội Nghiệp” nói: “Tinh, chính là phần tinh túy của khí.” Thần, là chỉ những biến hóa của tự nhiên và quy luật nội tại của nó. Vì vậy, người có thể thông đạt quy luật biến đổi của Âm Dương, sẽ có thể “tụ tinh hội thần”, hít thở tinh khí của trời đất. Nếu đi ngược lại quy luật biến đổi của Âm Dương, sẽ khiến chín khiếu bên trong cơ thể không thông, cơ bắp bên ngoài cơ thể bị tắc nghẽn, vệ khí tán loạn mà không thể giữ vững. Điều này gọi là “tự thương”, làm cho Dương khí của chính mình bị suy yếu.
“Thiên nhân tương ứng” còn nhấn mạnh ảnh hưởng của bốn mùa, môi trường địa lý đối với sự lưu hành của bệnh tật và cơ thể con người, yêu cầu người thầy thuốc ngoài việc nắm vững kiến thức chuyên môn, còn phải hiểu biết về thiên văn, địa lý, nhân văn và các kiến thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội khác. Đây vừa là vấn đề chuyên môn, vừa là vấn đề y đức. Sách “Tố Vấn – Trứ Chí Giáo Luận” nói: Người làm đạo, ở trên biết thiên văn, ở dưới tường địa lý, ở giữa thấu nhân sự, có thể được lâu dài. “Hoàng Đế Nội Kinh” lại đề xuất, phải “xem khắp các học thuật, so sánh các loại, thông hợp đạo lý”. Điều này yêu cầu trong khi đọc nhiều sách vở, phải giỏi vận dụng kiến thức mình có để suy ngẫm và phân tích, vận dụng linh hoạt. Hiểu biết y thuật và giỏi vận dụng, đây là nền tảng tri thức để giữ gìn y đức tốt. Vì vậy, “Linh Khu – Sư Truyền Thiên” đề xuất: “Ở trên để trị dân, ở dưới để trị thân, khiến cho trăm họ không có bệnh tật.”
Thái Cực và Bát Quái là một nhà, sự biến hóa của Âm Dương cùng một đạo lý
Tám pháp của Thái Cực có thể tương ứng với Bát Quái là dựa trên duyên cớ bản thân cơ thể con người vốn đã tương ứng với Bát Quái. Bên trong và bên ngoài của cơ thể người, toàn bộ đều là một thể tổ hợp của Bát Quái. Cơ thể người lấy eo làm Thái Cực, hai quả thận bên trong (cật) có hình dạng như hạt đậu tằm, quả bên trái cao hơn quả bên phải, khi đặt cạnh nhau rất giống hình Thái Cực Đồ với hai con cá trái Dương phải Âm. “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi”, Lưỡng Nghi chính là hai gân lớn hai bên cột sống. “Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng”, Tứ Tượng chính là tứ chi. Gân của Lưỡng Nghi ở trên thông với gân lớn ở hai nách, phát ra cánh tay; ở dưới thông với gân sau hai bên háng, phát ra hai chân. “Tứ Tượng sinh Bát Quái”, Bát Quái chính là tám khớp lớn của tứ chi. Tám lần tám sinh ra sáu mươi bốn quẻ, tức là 56 đốt ngón tay, ngón chân cộng với 8 khớp lớn của tay chân hợp thành sáu mươi bốn quẻ. Kình lực của Nội gia quyền từ eo phát ra hai gân Lưỡng Nghi, rồi từ hai gân Lưỡng Nghi phát ra tứ chi, đây là tâm pháp; từ tám khớp của tứ chi phát ra các đốt ngón tay, ngón chân, đây là dụng pháp của tay (chân), tức là dùng thân pháp để thể hiện ra tứ chi, điều này khác biệt với các môn phái bên ngoài (bàng môn).
Mỗi quẻ trong Bát Quái đều được biểu thị bằng ba vạch ngắn, mà toàn thân cơ thể người đều giống như các quẻ. Ví dụ, cơ thể người chia làm thượng, trung, hạ tam bàn; tứ chi có ba đốt là gốc, giữa, ngọn (tay có vai, khuỷu, cổ tay; chân có háng, gối, cổ chân); kinh mạch ở tay và chân đều có ba kinh Âm, ba kinh Dương, vừa vặn giống như ba vạch hay ba đoạn của Bát Quái. Lại nói về đan điền và “lục cầu” (sáu quả cầu), đan điền có thượng, trung, hạ tam điền, lục cầu có thượng cầu (hai nhãn cầu), trung cầu (hai quả thận), hạ cầu (hai tinh hoàn hoặc buồng trứng). Tam điền là “Càn tam liên” (☰), lục cầu là “Khôn lục đoạn” (☷). Phía sau cơ thể người còn có “hậu tam quan”, tức là Vĩ Lư, Giáp Tích, và Ngọc Chẩm. Trên khuôn mặt người, giữa miệng và mũi, cũng chia làm ba tầng, mũi thông với trời (hít thở không khí), miệng thông với đất (mọi thức ăn đều từ đất mà ra), giữa mũi và miệng có một huyệt vị ở rãnh môi trên gọi là “Nhân Trung”, tức là trời ở trên, đất ở dưới, người ở giữa, gọi là Thiên, Địa, Nhân tam tài, vừa vặn khớp với hình tượng quẻ. Phần trên rốn của cơ thể là trời, phần dưới rốn là đất, rốn ở giữa được gọi là cửa sinh mệnh của con người, cũng tương đồng với hình tượng quẻ.
Mỗi một vạch cấu thành nên Bát Quái được gọi là “hào”. Trong đó, vạch liền „—‟ được gọi là “hào Dương”; vạch đứt thành hai đoạn nhỏ (–) được gọi là “hào Âm”. Bất kể là ba hào của một quẻ đơn hay sáu hào của một quẻ kép (hai quẻ đơn chồng lên nhau), đều do hai hào Âm (–) và Dương (—) tạo thành. Mà bên trong và bên ngoài của cơ thể người cũng đều là thể tổ hợp của các hào Âm Dương. Ví dụ: phải Âm trái Dương, dưới Âm trên Dương, trong Âm ngoài Dương, ngũ tạng là Âm, lục phủ là Dương, tĩnh mạch là Âm, động mạch là Dương, huyết là Âm, khí là Dương, v.v.
Vì vậy, cơ thể người chính là hình tượng quẻ, hình tượng quẻ cũng giống như cơ thể người, không gì khác ngoài thể tổ hợp của Âm Dương. Thường có câu: “Đứng có tướng đứng, ngồi có tướng ngồi”, tướng gì? Tướng của quẻ. Ví dụ một người ngồi trên ghế sofa, phần giữa của người đó là thực (ngồi vững), đầu và chân hai đầu là hư, rõ ràng là một “quẻ Khảm” (☵). Trước khi giao đấu với người khác, đầu tiên nên “lượng địch”, tức đánh giá trạng thái hư thực của thượng, trung, hạ tam bàn của đối phương. Tục ngữ có câu: “Người trong nghề liếc mắt một cái, liền biết nông sâu.” Tức là nhìn thấu hư thực của đối phương để “tị thực kích hư” (tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu). Các động tác và tư thế của tám pháp cơ bản trong Thái Cực Quyền đều không giống nhau, chính là vì hình tượng quẻ mà chúng thể hiện là khác nhau. Sự biến hóa này là sự phối hợp hài hòa giữa tâm pháp và thân pháp (bao gồm thủ pháp, nhãn pháp, bộ pháp), có thể nói, đánh quyền chính là “biến quái”, thôi thủ (đẩy tay) cũng là “biến quái”.
Mười hai kinh mạch chính của cơ thể người cũng là sự tuần hoàn giao lưu của một Âm một Dương (một tay một chân, một tạng một phủ). Mười hai kinh mạch nối tiếp nhau, từ Âm vào Dương, từ Dương vào Âm (từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên), Âm Dương đi cùng nhau, trong ngoài thông suốt. Ba kinh Âm ở tay đi từ ngực đến tay, ba kinh Dương ở tay đi từ tay đến đầu, ba kinh Dương ở chân đi từ đầu đến chân, ba kinh Âm ở chân đi từ chân đến bụng, chính là một vòng đại tuần hoàn. Ba kinh Âm ở tay (☷) và ba kinh Dương ở tay (☰) chồng lên nhau tạo thành một quẻ kép, đó là quẻ “Thái” (Địa Thiên Thái). Còn ba kinh Dương ở chân (☰) và ba kinh Âm ở chân (☷) chồng lên nhau tạo thành quẻ kép, đó là quẻ “Bĩ” (Thiên Địa Bĩ).
Nói đi nói lại, cơ thể người cũng là một bộ “thiên thư” (sách trời), cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng. Võ thuật không chỉ là ba đấm hai đá, nhảy nhót tung tăng, nó là văn hóa, hơn nữa còn là một nền văn hóa rất sâu sắc. Cần phải nâng võ thuật lên tầm cao của văn hóa để nhìn nhận, mới có hy vọng đạt đến đỉnh cao.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.