Hỏi: Hợp có giải được Xung không? Hợp có giải được Tam Hình không? Hợp có giải được Lục Hại không?

Đáp: Thực ra, Ngũ Hành vốn là một phản ứng tổng hợp với các tính chất và quy luật vận hành đa chiều. Đây không phải là một vấn đề đơn giản có thể trả lời bằng “có thể giải” hay “không thể giải”. Trong Bát Tự, chỉ cần sai một chữ cũng có thể tạo ra ngàn vạn biến hóa. Điều cần nhất là làm rõ ngọn ngành, hiểu được chân tướng thực sự . Vấn đề phức tạp cần được luận giải và giải quyết một cách phức tạp, chứ không thể kết luận qua loa bằng một câu đơn giản rằng hợp có thể giải được hình xung hại, hay hợp không thể giải được hình xung hại.

Do đó, đối với các mối quan hệ phức tạp của Hình, Hợp, Xung, Hội, Hại; khi luận đoán Bát Tự, bắt buộc phải phân tích riêng rẽ từng yếu tố, đại kỵ nhất là luận chung chung, vơ đũa cả nắm. Khi luận về sự thành bại cao thấp của Cách cục, hãy tuân theo nguyên lý thành bại cao thấp của Cách cục; khi luận đoán cát hung, hãy dùng phương pháp luận đoán cát hung; khi luận về lục thân, hãy dùng phương pháp luận đoán lục thân.

I. Tại sao vợ lại có dã tâm và ngoại tình?

Ví dụ, mệnh nam 1956: Bính Thân – Tân Mão – Giáp Tuất – Mậu Thìn
Đại Vận: Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất

Tình hình thực tế: Khi đang trong Đại Vận Giáp Ngọ, vào lưu niên Bính Dần, vợ của người này không an phận, tư thông với người ngoài.

Luận tình cảm, hôn nhân: Đối với mệnh nam, cung Thê và sao Thê gặp Xung, vốn là dấu hiệu không tốt cho tình cảm và hôn nhân. Lòng vợ không yên, dễ sinh dã tâm, tình cảm hướng ra ngoài. Nếu theo lý thuyết “Hợp có thể giải Xung”, thì Mão Tuất hợp, Thân Thìn bán hợp, đã có thể giải được cái Xung này. Hơn nữa, vào Đại Vận Giáp Ngọ, năm Bính Dần, lại có Dần Ngọ Tuất tam hợp Hỏa cục, thì cái Xung này lẽ ra phải được giải quyết triệt để. Nhưng tại sao vợ người này vẫn hướng lòng ra ngoài và ngoại tình? Có thể thấy rằng Hợp không thể giải được Xung.

Thực tế, Bát Tự này có quá nhiều Hợp. Thiên Can có Bính Tân hợp, Địa Chi lại có Mão Thân ám hợp. Vì vậy, đối với những Bát Tự có Xung và Hợp phức tạp như thế này, không thể dùng tư duy đơn tuyến để phán đoán. Mà phải dùng tính đa chiều của Ngũ Hành để phán đoán tổng hợp. Khi các lực lượng tương đối cân bằng, thì cả tính chất Xung và Hợp đều tồn tại, không bên nào giải được bên nào. Năm Bính Dần còn có Dần Mão Thìn tam hội Mộc, nên càng phức tạp hơn. Càng phức tạp, các thông tin về Xung, Hợp, rồi lại Hợp, lại Hội đều xuất hiện. Đây chính là biểu hiện cho thấy dã tâm của người vợ cứ lặp đi lặp lại, có cả yếu tố bị người khác quyến rũ, và cũng có yếu tố bản thân mệnh chủ đã lơ là, không quan tâm đến vợ. Đây chính là nguyên nhân của những phản ứng Ngũ Hành phức tạp trong năm đó.

Tuy nhiên, trong một mớ thông tin phức tạp và tổng hợp từ lưu niên như vậy, nếu muốn luyện được khả năng “phán như đinh đóng cột”, phương pháp đơn giản nhất là biến phức tạp thành đơn giản. Cần phải tìm ra hình tượng then chốt, vấn đề mệnh lý cốt lõi, thì có thể đưa ra kết luận chắc chắn. Bát Tự này tuy là cách Dương Nhận, nhưng Dương Nhận ở hai bên đều bị kiềm chế (Thân ám hợp Mão, Tuất hợp Mão, chính là Dương Nhận bị kiềm chế). Tài tinh nặng, lại có Thực Thần và Quan Sát, tức là vừa bị khắc, vừa bị tiết, vừa bị hao. Lại đi vào vận Giáp Ngọ (Hỏa), Hỏa tiết khí Mộc của Nhật chủ, thân thể của mệnh chủ tất sẽ yếu đi, không thể đáp ứng được nhu cầu sinh lý của vợ.

Tài vượng, Tài tinh vừa bị Xung vừa bị Hợp ngay tại cung Thê, Quan tinh lại bị hợp mất không có chỗ để tiết khí, tất sẽ tiết khí cho Thất Sát. Đây chính là biểu tượng cho thấy người vợ có dục vọng mạnh mẽ, cũng là dấu hiệu của người có dã tâm. Mệnh chủ không thể thỏa mãn ham muốn của vợ, dục vọng của vợ không thể kìm nén, gan lớn do ham muốn mà sinh ra, nên mới có chuyện ngoại tình. Luận theo cách này vừa có lý lẽ để suy luận, vừa hợp tình hợp lý, lại có thể tránh được các vấn đề phức tạp của Xung, Hợp, Hội. Nếu cứ luận vòng vo hợp qua hợp lại, xung qua xung lại, thì ngược lại sẽ trở nên phức tạp, rất khó đoán đúng sự việc.


II. Bản thân phong lưu phóng đãng, tại sao vợ lại vẫn giữ phận?

Ví dụ, mệnh nam 1969: Kỷ Dậu – Mậu Thìn – Giáp Tuất – Đinh Mão

Đại Vận: Đinh Mão, Bính Dần, Ất Sửu, Giáp Tý, Quý Hợi, Nhâm Tuất, Tân Dậu, Canh Thân

Kết cấu Địa Chi của mệnh này cực kỳ phức tạp: Thìn Tuất xung ngay tại cung Thê, Thìn Dậu lại hợp, Mão Tuất lại hợp ngay tại cung Thê, còn có cả Lục Hại chéo nhau: Dậu Tuất hại, Mão Thìn hại. Dậu Mão còn xung từ xa, có thể nói là vô cùng rối rắm. Tài cũng vượng, cung Thê lại là sao Thê. Thân có Dương Nhận ở trụ giờ, nhưng không được tính là vượng. Tại sao vợ không có chuyện gì, mà bản thân lại phong lưu bên ngoài? Mệnh lý này có gì khác với mệnh trên?

Để luận đoán sự việc này từ một kết cấu phức tạp như vậy, cực kỳ khó tìm ra manh mối. Nếu luận theo phương pháp về hôn nhân, tình cảm thì có thể biến phức tạp thành đơn giản. Vốn là cách Thiên Tài, Thiên Tài thấu Can, nhưng Chính Tài cũng thấu Can, Nhật chủ lại ngồi trên Thiên Tài. Cách Tài tinh nặng, Chính Thiên Tài đều thấu lại sinh Quan, thân nhược có Mão làm Dương Nhận, cộng thêm vận trình trợ giúp cho thân nên có thể gánh được Tài Quan. Do đó, tinh lực của người này tất nhiên sẽ旺盛, Tài nhiều mà thân vượng thì sẽ háo sắc. Thêm vào đó là các mối quan hệ Xung Hợp phức tạp, quan hệ nam nữ sẽ rối loạn, chuyện phong lưu bên ngoài là điều chắc chắn.

Thế nhưng, bản thân thì lăng nhăng bên ngoài, tại sao vợ lại “trung trinh” đến vậy? Thiên Tài đương lệnh nắm quyền, Chính Tài Kỷ Thổ không có quyền, bản thân lại quá yếu, nên người này gan nhỏ, sợ chuyện. Thêm vào đó, Chính Tài ngồi dưới là Chính Quan ở đất Trường Sinh, tâm tính đoan chính, vị trí cũng chính. Vì vậy, mặc dù chồng bị Thiên Tài chiếm giữ, nhưng người vợ không làm bậy, lại không thể quản được chồng, cũng không nỡ bỏ gia đình ly hôn, nên đành phải nhắm một mắt mở một mắt mà sống.

Tóm lại, vợ ở vị trí của bậc trưởng bối (trụ năm) mà không ở đúng cung Thê, nếu đặt vào thời xưa, đây chính là mệnh của người vợ cả có danh phận mà không được sủng ái, chồng yêu vợ lẽ không yêu vợ cả.


III. Dương Nhận gặp Xung, Xung Hình cùng lúc, vận Bính Ngọ phải đi ăn xin, luận thế nào?

Trong sách “Mệnh Lý Côi Bảo” của Đoạn Kiến Nghiệp có một ví dụ:

Càn Tạo: Nhâm Tý – Quý Mão – Nhâm Tý – Bính Ngọ
Đại Vận: Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi

Khi đến vận Bính Ngọ thì phải đi ăn xin, sách giải thích là “đều do Mão Mộc ở lệnh tháng bị hai Tý Thủy hình hại, không thể tiết Thủy sinh Hỏa, Tài tinh có nguồn sinh nhưng không được sinh, nên Tài tinh trở thành đại họa trong cục”.

Thực ra Bát Tự này, cũng không phải là hai Tý hình hỏng Mão. Ngũ Hành có tính chất đa chiều, không phải là vấn đề đơn lẻ. Hơn nữa, sức mạnh quyết định tất cả, lệnh tháng là gì, điều này không thể xem nhẹ. Thực tế, Mão đương lệnh thì sức mạnh rất lớn, hai Tý kẹp một Mão cũng không thể hình hỏng được Mão. Vấn đề nằm ở chỗ một Mão đối một Tý, một Ngọ đối một Tý, Mão Mộc đương lệnh, nên Mộc Hỏa đã xung hình làm hỏng Tý Thủy. Vì vậy, khi đến vận Bính Ngọ, hai Ngọ xung Tý, Dương Nhận bị Tài đến xung, Thương Quan cũng hình Dương Nhận, Nhật chủ không thể chịu nổi. Do đó, vận Bính Ngọ xảy ra chuyện lớn, Tài đến gây họa nên phải đi ăn xin. Tài là nguồn nuôi sống, Tài gây họa thì không có cơm ăn, phải đi ăn xin.

Xét từ góc độ thành bại của Cách cục, cách Thương Quan sinh Tài, Can không thấu Thực Thần hay Thương Quan, Kiếp Tài và Tỷ Kiên lại đang đoạt Tài, Địa Chi có Dương Nhận và Thương Quan, Tài tinh tương xung tương hình, đã phá cách. Lại đi vào vận Bính Ngọ là vận Tài, Tài đến hình xung Dương Nhận, nên phải ăn xin chịu đói khổ.


IV. Trụ ngày giờ Thìn Thìn tự hình là khắc chồng khắc con?

Ví dụ, mệnh nữ 1953:Quý Tỵ – Kỷ Mùi – Canh Thìn – Canh Thìn
Đại Vận: Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão

Tình hình thực tế : Vận Nhâm Tuất năm Mậu Ngọ, chồng bị bệnh qua đời. Vận Quý Hợi, con gái lại bị tai nạn xe qua đời.

Thìn Thìn tự hình ở cung Phu (chồng) và cung Tử Tức (con cái), chỉ có thể nói là đã có thông tin bất lợi cho chồng và con. Nhưng có chắc chắn là như vậy không? Không thể khẳng định, cần phải kết hợp toàn bộ Bát Tự và vận trình để luận đoán.

  1. Thân vượng Ấn nặng, sao Phu là Tỵ Hỏa bị Thìn Thổ làm cho u ám, cung Phu là Thìn Thổ lại tự hình, lại đi vào vận Thổ hoặc vận Mộ của Hỏa thì sẽ khắc chồng. Vận Nhâm Tuất vừa hay là vận Thổ, cũng là vận Mộ của sao Phu, Tuất Thìn một khi xung nhau, sao Phu tất sẽ nhập Mộ, chồng tất chết.
  2. Mệnh nữ có Thương Quan, thì Thương Quan được xem là sao con cái. Thương Quan Quý Thủy có gốc tại cung Tử Tức trong Thìn, hai Thìn tự hình, Chính Ấn Kỷ Thổ lại ở gần Thương Quan Quý Thủy, âm khắc âm không nể nang. Hai yếu tố này không có gì cứu giải, tất là tượng sao con cái nhập Mộ, do đó khắc con gái. Vận Quý Hợi là vận chính của Thương Quan, Thủy không địch lại Hỏa Thổ, ngược lại cấu thành Thổ khắc Thủy, Thủy nhập Mộ, chính là vận trình mất con gái.

Vì vậy, hai Thìn tự hình chỉ là một điểm thông tin, nhưng chỉ dựa vào điểm này không thể định tính là khắc chồng con, cần phải kết hợp với trạng thái của sao chồng, sao con và vận trình mới có thể kết luận.

Với Bát Tự này, giả sử Can tháng Kỷ Thổ đổi thành một Quý, một Đinh, hoặc một Ất, thì con gái có thể được cứu. Có thể thấy, chỉ dựa vào một dấu hiệu Thìn tự hình ở cung Tử Tức mà định đoạt một sự việc, chắc chắn đã phạm phải sai lầm lấy điểm thay cho diện.


V. Tự hình và Lục Hại cùng xuất hiện, luận đoán lục thân và bản thân thế nào?

Mệnh nữ 1975: Ất Mão – Canh Thìn – Giáp Thìn – Mậu Thìn
Đại Vận: Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý

A. Luận về thành bại cao thấp của Cách cục Ba Thìn đứng liền kề tự hình, tính chất của Hình rất mạnh. Ba Thìn còn cùng một Mão tạo thành Lục Hại. Nhưng khi luận về thành bại Cách cục, chỉ xem như Thổ nhiều và nặng, Mão Mộc là thứ khắc Thìn Thổ.

Cách Tài, Tài nặng mà thấu Can, trụ năm có Ất Mão Kiếp Tài giúp thân, thân tất vượng. Trụ tháng có Thất Sát, cách Tài gặp Sát tất phá cách, may mắn là Kiếp Tài hợp Sát nên có thể thành cách. Nhưng trong Chi không có Thực Thần hoặc Thương Quan cũng sẽ làm giảm cấp độ của Cách cục. Do đó nếu có vận tốt trợ giúp, chỉ có thể thành tựu nhỏ, sống cuộc sống sung túc, đạt mức trung lưu khá giả. Nếu không có vận tốt, chỉ là tầng lớp bình dân trung bình. Nhưng Bát Tự này vận trình không phối hợp tốt, suy đoán theo vận trình, hẳn chỉ là người làm công ăn lương bình thường. Thực tế đúng như vậy.

B. Luận về những mặt không tốt do Hình và Hại mang lại

  1. Trong Thìn có tàng Quý Thủy là Ấn tinh, ba Thìn tự hình tất là tượng bất lợi cho mẹ. Vận mà Ấn tinh xuất hiện thì mẹ tất mất. Vận Quý Mùi, Ấn tinh vừa thấu Can, mẹ tất qua đời. Thực tế, mẹ mất vào năm Bính Tuất 2006 trong vận Quý Mùi.
  2. Ba Thìn hại một Mão, là dưới phạm trên, tức là nhỏ phạm lớn. Thời kỳ trưởng thành, bản thân nghịch ngợm, học hành kém, dễ gây chuyện, làm khổ cha mẹ không ít. Lớn lên lại không hợp tính với mẹ.
  3. Thiên Tài vượng lại hại cung vị của mẹ (chi năm), cha và mẹ không hợp tính, cả đời tuy không ly hôn nhưng tình cảm lạnh nhạt, thường xuyên cãi vã.
  4. Ba Thìn tự hình tại cung Phu, tình duyên hôn nhân nhiều biến động không tốt, cũng là mệnh nhiều đời chồng. Thực tế đã có hai lần kết hôn. Cung Phu hại trụ năm, chồng và gia đình nhà mẹ đẻ của bản thân thường không hòa thuận.
  5. Ba Thìn tự hình tại cung Tử Tức, sinh con không dễ dàng, thường có chuyện phá thai. Thực tế vì vấn đề hôn nhân mà đã phá thai nhiều lần. Nhưng Tài tuy tự hình ở cung Tử Tức, trong trụ có Kiếp Tài hợp Sát, nên Tài tự hình không gây ra đại họa về phương diện con cái, sẽ có con. Trên đây, thực tế đều đúng như vậy.

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc