“Tam Mệnh Thông Hội” luận: “Dần Tị Thân tại sao gọi là vô ân? Bởi trong Dần có Giáp Mộc hình Mậu Thổ trong Tị, Mậu cần hợp với Quý Thủy, mà Quý Thủy là mẹ của Giáp Mộc; Mậu Thổ đã là chồng của Quý Thủy, tức là cha của Giáp, cha của mình mà mình lại hình, ơn nghĩa đã quên. Bính trong Tị hình Canh trong Thân, Canh trong Thân hình Giáp trong Dần, cũng cùng một nghĩa. Lại nói: Dần có Hỏa sinh ra để hình Kim sinh ra trên Tị, Thổ ký sinh trên Tị hình Thủy trường sinh trên Thân, Thủy sinh ra trong Thân hình Hỏa sinh ra trong Dần. Không đoái hoài đến cái mình sinh ra, mà từ xa khắc chế lẫn nhau, nên gọi là vô ân.”

I. Hai chữ có thể luận Tam Hình, hay phải đủ ba chữ mới luận Tam Hình?

Đối với ba chữ Dần Thân Tị, rốt cuộc là hai chữ một nhóm luận Tam Hình, hay phải đủ ba chữ mới luận Tam Hình, từ xưa đến nay cũng giống như Sửu Mùi Tuất, không có định luận. Ngày nay có người cũng luận hai chữ là Tam Hình, nhưng đa số vẫn cho rằng phải đủ ba chữ mới xem là Tam Hình. Rốt cuộc loại nào đúng, hay cả hai đều đúng?

Nếu hai chữ đã luận Tam Hình, thì sẽ có chỗ trùng lặp với Lục Hợp, Lục Xung, Lục Hại. Như Dần Tị là Lục Hại; Tị Thân là Lục Hợp; Thân Dần là Lục Xung.

Thực ra, dựa trên cách hiểu trong “Tam Mệnh Thông Hội”, cộng thêm kiểm chứng thực tiễn ứng dụng, Tam Hình Dần Thân Tị chính là khi đủ ba chữ mới tương hình lẫn nhau, cũng cùng một đạo lý với Sửu Mùi Tuất.

Do đó, các Bát Tự được xem, nếu có hai chữ, đa số đều xảy ra tai nạn hoặc những việc không may vào vận hoặc năm có đủ ba chữ.

Ví dụ 1: Mệnh nam 1946: Bính Tuất, Canh Dần, Quý Hợi, Đinh Tị

Mệnh cục có Dần Tị không có Thân. Tình hình thực tế, vận Quý Tị năm 1980 Canh Thân. Khi Tam Hình đầy đủ, bị kết án tù vì chụp ảnh khiêu dâm.

Ví dụ 2: Mệnh nam 1962: Nhâm Dần , Ất Tị , Ất Mão , Ất Dậu

Mệnh cục có Dần Tị không có Thân. Tình hình thực tế, vận Mậu Thân, khi Tam Hình Dần Thân Tị đầy đủ, vào năm 1996 Bính Tý, chết vì ung thư gan.

Ví dụ 3: Mệnh nam 1949: Kỷ Sửu, Giáp Tuất, Giáp Thân, Bính Dần

Mệnh cục có Dần Thân không có Tị. Tình hình thực tế, trong vận Kỷ Tị khi đủ ba chữ Dần Thân Tị, năm 1997 Đinh Sửu gặp tai nạn lật xe, người tuy không sao nhưng bị hoảng sợ, tốn kém không ít.

Ví dụ 4: Mệnh nữ 1966: Bính Ngọ, Bính Thân, Kỷ Mùi, Bính Dần

Mệnh cục có Thân Dần không có Tị. Tình hình thực tế, vận đến Quý Tị, khi đủ ba chữ Dần Thân Tị, vào năm 1996 Bính Tý, bị liên lụy trong một vụ án lớn mà mất việc.

Ví dụ 5: Mệnh nam 1966: Đinh Mùi, Ất Tị, Bính Thân, Tân Mão

Mệnh cục có Tị Thân không có Dần. Tình hình thực tế, khi đại vận hoặc lưu niên gặp chữ Dần, đủ ba chữ Dần Thân Tị, sẽ có chuyện. Năm 2010 Canh Dần tháng Mậu Dần mẹ mất, tháng Canh Thìn đi đường bị ngã gãy tay. Vận Nhâm Dần đủ ba chữ, trong thời gian đó xảy ra ẩu đả lớn, suýt gây thương tích chết người, dính vào kiện tụng.

Điều kiện cấu thành Tam Hình Dần Thân Tị

Đủ ba chữ mới là Tam Hình, hai chữ không luận Tam Hình. Mệnh cục có một hoặc hai chữ, khi trong vận hoặc năm đủ ba chữ có thể luận Tam Hình. Bất kể ba chữ liền kề hay cách nhau, chỉ cần đủ ba chữ là luận Tam Hình.

II. Bát Tự có đủ ba chữ Dần Tị Thân, luận đoán như thế nào?

(I) Khi luận đoán thành bại cao thấp của cách cục, không cần đề cập đến tầng ý nghĩa của “hình”. Chỉ cần xem xét ba chữ này theo phương pháp sinh khắc Ngũ hành thông thường, phân biệt là Chính Cách hay Tòng Cách để luận giải là được.

(II) Nếu là mệnh phú quý đã thành cách cục, Tam Hình Dần Thân Tị là một dấu hiệu cho thấy thiên hướng võ quý. Nếu là mệnh của người bình thường, điều này thể hiện tính cách hiếu động, yêu thích võ thuật, hoặc các công việc, ngành nghề mang tính chất võ nghiệp. Tóm lại, Tam Hình Dần Thân Tị là một tổ hợp có tính “động”, là dấu hiệu của thiên hướng võ nghiệp.

(III) Khi xét đến cát hung, tai ách, bệnh tật và lục thân, cần phân biệt cẩn thận nguồn gốc của Tam Hình, sau đó mới luận đoán các tai ương do ý nghĩa của “hình” mang lại.

Ví dụ 1: Mệnh Thượng thư Đồ Đại Sơn trong “Tam Mệnh Thông Hội” : Canh Thân, Tân Tị, Giáp Dần, Đinh Mão

Thông tin: Đồ Đại Sơn (1500-1579), tự Quốc Vọng, hiệu Trúc Khư, là một nhân vật chính trị quân sự thời nhà Minh, người huyện Ninh Ba, Chiết Giang. Giữ chức Thượng thư.

A. Luận thành bại cách cục Nguyệt lệnh là Tị có Canh thấu can, đây là cách Thất Sát. Tháng có Quan tinh thấu, nhưng Quan Sát cùng xuất hiện ở trụ năm và tháng thì không luận là Quan Sát hỗn tạp, mà thống nhất xem là Thất Sát. Cách Thất Sát mà thân vượng, vốn có thể lấy Thất Sát làm dụng thần, nhưng vì có Thương Quan nên có thể luận là cách “Thương Quan chế Sát”. Lực lượng của Thân, Thương, Sát về cơ bản cân bằng, do đó cách cục thành công. Người có cách cục thành công thì không giàu cũng quý, cách Thất Sát có Thương Quan chế ngự chủ về quý.

B. Luận về cao thấp của cách cục Thân, Thương, Sát về cơ bản cân bằng, tạo nên cách cục cao. Vận trình xuyên suốt không phá cách, không làm tổn hại cách cục. Do đó, đương số thuộc đẳng cấp đại quý (cấp tỉnh, bộ đã được xem là đại quý).

C. Luận về ngành nghề, sự nghiệp Như đã nói ở trên, Dần Thân Tị là một dấu hiệu của thiên hướng võ nghiệp. Mệnh quý có Tam Hình này, có thể là mệnh võ quý. Tam Hình này vốn còn chứa đựng nhiều thông tin khác có thể đoán định, nhưng ngoài những thông tin trên, không còn dữ kiện nào khác, do đó không cần luận đoán thêm. Là một nhân vật quân sự, tính chất sự nghiệp thuộc về võ.

Ví dụ 2: Mệnh nam sinh năm 1944: Giáp Thân, Bính Dần, Bính Thìn, Quý Tị

Thông tin: Cấp Phó sư đoàn. Tính cách nóng nảy, bộc trực, nhưng phương diện văn chương cũng không tồi.

A. Luận thành bại cách cục Nguyệt lệnh là Dần có Giáp thấu can, đây là cách Thiên Ấn. Cách Ấn mà thân vượng, có Quan tinh thì có thể lấy Quan làm dụng thần. Quan tinh Quý Thủy có gốc thông trong Thìn, Quan và Ấn không cản trở nhau. Ba chữ Dần Thân Tị tác động lẫn nhau nhưng gốc của Ấn không bị tổn thương, do đó cách cục có thể thành công. Cách Ấn dụng Quan tất sẽ quý.

B. Luận về cao thấp của cách cục Lực lượng của Quan tinh không đủ mạnh, Tài tinh ở địa chi ít nhiều bị tổn hại (vì Dần được lệnh tháng nên Thân bị tổn thương). Thêm vào đó, vận đầu đi về hướng đông nam Mộc Hỏa (trong khi mệnh này vốn hợp với vận Kim Thủy), do đó cách cục chỉ thuộc hàng tiểu quý hoặc trung quý, không đạt đến mức đại quý.

C. Luận về ngành nghề, sự nghiệp Cách Ấn dụng Quan, Quan và Ấn đều thấu can, vốn thiên về văn nghiệp. Tuy nhiên, địa chi lại có Tam Hình Dần Thân Tị, lại thiên về võ nghiệp. Tổng hợp lại, đây là mệnh “trong võ có văn, trong văn có võ”. Nhưng vì lực lượng của Tam Hình ở địa chi rất mạnh mẽ, chắc chắn là mệnh quý theo đường võ. Tuy có tài văn chương, nhưng không thể đạt quý hiển bằng con đường văn nghiệp.

Ví dụ 3: Mệnh nam sinh năm 1968: Mậu Thân, Đinh Tị, Mậu Dần, Tân Dậu

A. Luận thành bại cách cục Đây là cách Ấn, thân vượng vốn có thể dụng Quan. Nhưng Quan không thấu can, dưới địa chi lại có Thân Dậu Kim khắc Dần Mộc, cộng thêm Tam Hình Dần Thân Tị, Quan tinh ắt bị phá hoại. Thương Quan lâm vượng, Ấn bị Tỷ Kiên hóa giải, Thương Quan không bị chế ngự, đây ắt là mệnh phá cách. Chỉ là người dân bình thường.

B. Luận về cát hung Địa chi có Tam Hình Dần Thân Tị, Quan tinh bị phá, Thương Quan là hung thần ở trụ giờ mà không bị chế ngự, đây là mệnh không tốt, hay nói đúng hơn là mệnh hung. “Quỷ Cốc Di Văn” viết: “Quân tử bất hình định bất phát, nhược cư sĩ lộ đa đằng đạt; tiểu nhân đáo thử tất vi tai, bất nhiên dã bị quan tiên thát.” (Tạm dịch: Người quân tử không gặp hình thì không phất, nếu là người có chức vị thì càng thăng tiến; kẻ tiểu nhân gặp phải ắt có tai ương, nếu không cũng bị quan lại đánh đập). Từ đó có thể đoán, Thương Quan là hung thần không bị chế ngự, lại gặp Tam Hình, ắt là mệnh có số tù tội.

Tình hình thực tế: 16-17 tuổi đã vào tù. Không có con cái. Đến vận Canh Thân lại vào tù, lần này bị kết án tù chung thân. Đây là một mệnh hoàn toàn hung, ắt sẽ chết trong tù và không có con nối dõi, vì Canh Thân và Tân Dậu đều là vận hung.

III. Cuối cùng ai bị hình, do lực lượng quyết định

Chúng ta đã biết, ba chữ Dần Tị Thân có quan hệ tương hình. Trong một số Bát Tự, vì có Tam Hình Dần Tị Thân, sự mạnh yếu của ba chữ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thành bại của cách cục. Hơn nữa, để phân biệt hỷ kỵ Ngũ hành của Bát Tự, luận đoán đại vận và lưu niên một cách sâu sắc hơn, phải xác định được trong ba chữ của Tam Hình, chữ nào bị tổn thương nhiều nhất. Bởi vì Ngũ hành bị tổn thương nhiều nhất đại diện cho thông tin không tốt. Đó là Thập Thần nào, ở vị trí nào, sẽ tương ứng với các thông tin cụ thể về phương diện hoặc lục thân đó. Điều này rất quan trọng khi định tính cát hung và luận đoán lưu niên.

Phương pháp xem chữ nào trong ba chữ Dần Tị Thân bị tổn thương nhiều nhất là xem chữ nào có lực lượng yếu nhất, chữ đó sẽ bị tổn thương nhiều nhất. Điều này liên quan đến sự phân bố lực lượng tổng thể của Bát Tự. Ví dụ:

  • Trong Bát Tự Kim nhiều, Kim vượng, chữ bị tổn thương nhiều nhất là Dần Mộc.
  • Nếu Mộc nhiều, Mộc vượng, chữ bị tổn thương nhiều nhất là Thân Kim.
  • Nếu Hỏa nhiều, Hỏa vượng, chữ bị tổn thương nhiều nhất cũng là Thân Kim.
  • Nếu Kim Thủy vượng, chữ bị tổn thương nhiều nhất là Tị Hỏa.
  • Nếu Mộc Hỏa tương đối cường vượng, chữ bị tổn thương cũng là Thân Kim.

Dĩ nhiên, sự sắp xếp và vị trí của ba chữ Dần Tị Thân cũng khá quan trọng. Ví dụ, khi lực lượng ba chữ về cơ bản tương đương, nếu Thân được lệnh tháng, Dần ở trụ năm, Tị ở trụ giờ, Dần và Tị cách xa nhau, Thân và Tị cũng cách xa, chữ bị tổn thương nhiều nhất là Dần Mộc.

Ví dụ 1: Mệnh nam 1968 : Mậu Thân, Đinh Tị, Mậu Dần, Tân Dậu

Trong toàn bộ Bát Tự, Tị Hỏa được lệnh tháng, nhưng phe Kim đông đảo, Kim lại được Trường Sinh tại Tị, do đó chữ bị tổn thương nhiều nhất là Dần Mộc. Vì vậy, Quan tinh là cát thần cần thiết nhất lại bị tổn thương nặng nề nhất, trong khi Thương Quan là kỵ thần, hung thần lại vượng nhất và không bị chế ngự. Điều này tạo thành một dấu hiệu thông tin rất hung. Cát thần của chính khí bị phá hoại, còn hung thần thì cường vượng không bị chế hóa, người này ắt sẽ tà ác, đi vào con đường phạm pháp, trở thành tù nhân là điều khó tránh khỏi.

Ví dụ 2: Mệnh nam 1944: Giáp Thân, Bính Dần, Bính Thìn, Quý Tị

Với mệnh này, Tị Hỏa và Thân Kim ở xa nhau, Tị Hỏa lại có Thìn Thổ hóa giải bớt lực, nên Tị Hỏa không tổn thương được Thân Kim. Nhưng Dần Mộc được lệnh tháng, lại liền kề với Thân Kim, nên Thân Kim bị tổn thương nhiều nhất. Do đó, người dụng Quan mà Quan không đủ vượng thì ưa Tài tinh sinh trợ, nhưng ở đây Tài tinh (Thân Kim) lại bị tổn thương. Cách cục tuy thành nhưng sẽ vì điểm này mà có thiếu sót, đẳng cấp của cách cục vì thế mà không được xem là cao, hoặc bị giảm giá trị.

Khi xét đến gia cảnh trước và sau khi sinh, cũng như lục thân, Tài tinh ở chi năm rất quan trọng. Tài tinh ở chi năm bị tổn thương đáng kể, cho thấy hai điều: một là sinh ra trong gia đình bình dân, tuổi thơ nghèo khó; hai là cũng bất lợi cho tuổi thọ của người cha.

Mệnh cục đã có dấu hiệu bất lợi cho tuổi thọ của cha, cần xem một hai vận đầu là vận trình gì. Nếu là vận tốt, tuổi thọ của người thân có thể cao hơn một chút; nếu vận không tốt thì người cha khó qua khỏi. Vận đầu là Đinh Mão, Mộc vượng sinh Hỏa, Mộc Hỏa cùng nhau đối phó với Thân Kim, chính là vận hạn về tuổi thọ của cha. Năm 1950 Canh Dần, Dần xung Thân, Thiên Tài bị khắc, người cha bắt đầu bị bệnh. Đến năm 1953 Quý Tị, Mộc Hỏa cùng vượng, kích hoạt Tam Hình Dần Tị Thân, và mục tiêu bị “hình” chính là Thân Kim (Thiên Tài). Do đó, năm này người cha đã qua đời vì bệnh.

Tác Giả: Ngụy Đa Lượng


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc