“Tam Mệnh Thông Hội” luận: “Sửu Tuất Mùi tại sao gọi là thị thế? Bởi trong Sửu có Thủy vượng, Sửu là Thổ trong nước, trong Tuất có Hỏa trong mộ, Sửu ỷ vào Thủy vượng để hình Hỏa trong mộ của Tuất; Tuất là tôn của Lục Giáp, Mùi là ty (thấp hèn) của Lục Quý, Tuất ỷ vào sự tôn quý của Lục Giáp để hình sự thấp hèn của Mùi; Mùi có Thổ vượng, lại ỷ thế hình Thủy vượng trong Sửu. Lại nói: Mùi ỷ thế của Đinh Hỏa để hình Kim trong Sửu, Sửu ỷ thế của Thủy vượng để hình Hỏa trong Tuất, Tuất ỷ thế của Tân Kim để hình Mộc trong Mùi, nên gọi là thị thế.”
I. Giải thích nguyên lý cấu thành Tam Hình Sửu Mùi Tuất
Vì ghi chép về Tam Hình Sửu Mùi Tuất trong “Tam Mệnh Thông Hội” chỉ giải thích đại khái về nguồn gốc của Tam Hình, nhưng không nói rõ là phải đủ ba chữ Sửu Mùi Tuất mới luận là Tam Hình, hay là Tuất hình Mùi, Mùi hình Sửu, Sửu hình Tuất, chỉ cần một cặp hai chữ là có thể luận Hình? Vấn đề này, người đời sau cũng không có luận giải rõ ràng. Dẫn đến ngày nay cách dùng Tam Hình này khá khác nhau, có người chủ trương đủ ba chữ mới luận Tam Hình, nhưng một số sách hiện đại, bài viết trên blog cũng có người luận hai chữ là Tam Hình. Rốt cục cách dùng nào đúng? Chúng ta hãy bắt đầu từ thuộc tính và tàng can của ba chữ Sửu Mùi Tuất.
(I) Sửu là Mộ Khố của Kim, Mùi là Mộ Khố của Mộc, Tuất là Mộ Khố của Hỏa. Xét từ góc độ Mộ Khố, ba chữ này đều là Mộ Khố của các Ngũ hành khác, và bản thân ba chữ này đều thuộc Thổ. Rõ ràng, từ góc độ Mộ Khố không thể giải thích được mối quan hệ của ba chữ này với Tam Hình.
(II) Xét từ tàng can của từng cặp hai chữ, nếu nói hai chữ đối nhau có thể luận Tam Hình. Nếu nói Kim trong Tuất có thể ỷ thế hình Ất Mộc trong Mùi, vậy Hỏa trong Mùi mạnh hơn Hỏa trong Tuất, Hỏa trong Mùi không thể khắc Kim trong Tuất sao? Mùi là mùa hè khí Hỏa đang thịnh, Tuất chính vì là mộ Hỏa, là vì Hỏa đến tháng Tuất đã suy yếu mới nhập mộ. Do đó, xét về độ mạnh yếu của Hỏa, Hỏa trong Mùi chắc chắn mạnh hơn Hỏa trong Tuất.
(III) Nếu nói Mùi có thể hình Sửu, Hỏa trong Mùi ỷ thế có thể hình Kim trong Sửu. Vậy Thủy trong Sửu cũng có thể khắc Hỏa trong Mùi chứ? Hơn nữa tháng Sửu là lạnh ẩm nhất, Sửu dập tắt Hỏa trong Mùi, Hỏa trong Mùi làm sao có thể hình khắc Kim trong Sửu? Còn một vấn đề mâu thuẫn nữa, Sửu và Mùi rốt cục luận là Lục Xung, hay là Tam Hình cặp đôi? Hay là mang tính chất song trùng của cả hình và xung?
(IV) Nếu nói Sửu có thể hình Tuất, là Kim Thủy trong Sửu có thể hình khắc mộ Hỏa trong Tuất, xem ra cũng có chút lý. Nhưng Tuất vốn là Thổ khô, Hỏa Thổ sao lại không thể hình khắc Kim Thủy trong Sửu?
Do đó, dựa trên suy luận đơn giản ở trên, việc luận hai chữ một cặp là Tam Hình rõ ràng là không đứng vững.
Dựa trên tính chất của ba chữ Sửu Mùi Tuất, chỉ khi có đủ ba chữ mới luận là Tam Hình Sửu Mùi Tuất, điều này là có lý nhất. Bởi vì khi chúng tụ tập lại một chỗ, mới có thể ỷ thế vào nhau mà hình, không ai nhường ai, mới xảy ra tính chất hình không ngừng. Dựa trên nghiên cứu và thực tiễn ứng dụng của Ngụy Đa Lượng, thực tế việc luận đủ ba chữ Sửu Mùi Tuất mới là Tam Hình là chính xác. Không đủ ba chữ, từng cặp hai chữ không thể xem là Tam Hình. Hơn nữa, nếu ba chữ Sửu Mùi Tuất đều liền kề nhau, tính chất hình là mạnh nhất, nếu có chữ ngăn cách ở giữa, tính chất hình sẽ suy yếu đi.
Vì vậy, trong Bát Tự không đủ ba chữ thì không phải Tam Hình, khi trong vận hoặc năm đủ ba chữ mới là Tam Hình và có thể luận là Tam Hình.
II. Bát Tự có đủ ba chữ Sửu Mùi Tuất, luận đoán như thế nào?
Vì có đủ ba chữ, trong Bát Tự, chỉ riêng lực lượng của Thổ đã rất mạnh mẽ. Do đó, không thể xem nhẹ Tam Hình này. Nhưng ứng dụng cụ thể cần phải phân ra để luận, không thể vơ đũa cả nắm.
(I) Khi luận thành bại cách cục, ba chữ này trước hết có thể xem hoàn toàn là Thổ. Có ba chữ này, yếu tố đầu tiên là Thổ nặng, Thổ vượng. Tiếp theo phải để ý rằng ba chữ này là Mộ Khố của Kim, Mộc, Hỏa, các can tàng trong ba chữ này bị tổn hại nhiều nhất, các can thấu can liên quan đến ba chữ này (ngoài Thổ) cũng bị tổn hại nhiều nhất. Hơn nữa Thổ nặng thì khắc Thủy, Ngũ hành Thủy trong trụ có hay không, trạng thái vượng suy ra sao, cũng là điểm mấu chốt. Sau khi rõ ràng những tình trạng này, có thể phân biệt là Chính Cách hay Tòng Cách. Sau đó cứ theo phương pháp luận của từng cách mà luận đoán là được. Về tầng ý nghĩa của hình, khi luận thành bại cách cục không cần đề cập đến. Ngoài ra, nếu Tứ Trụ toàn là Thổ, việc có đủ hay không đủ ba chữ Sửu Mùi Tuất mang một ý nghĩa đặc biệt, điều này đã được nói trong chương về Lục Xung và Mộ Khố, cần chú ý.
(II) Sự “hình” của Tam Hình Sửu Mùi Tuất liên quan đến rất nhiều sự việc, bao gồm cả lục thân. Nhưng cần phải luận đoán từng loại một, mỗi việc giải thích theo một nguyên lý, sẽ có tính hệ thống, lý lẽ dễ phân biệt, dễ suy luận.
Ví dụ 1: Mệnh Đô đốc Chu Thụy đầu thời Dân Quốc tại Chiết Giang: Quý Mùi, Ất Sửu, Nhâm Tuất, Canh Tý
Thông tin đã biết:
- Chức quan cao nhất đạt đến Đô đốc, thăng chức trong vận Nhâm Tuất.
- Mất vào năm Bính Thìn, cũng trong vận Nhâm Tuất.
- Là mệnh võ quý.
A. Luận thành bại cao thấp cách cục
Thân không yếu, Sát nặng có Ấn tinh, không phải Tòng Cách, ắt là Chính Cách. Sửu là lệnh tháng, vốn là cách Quan, nhưng vì có Tam Hình Sửu Mùi Tuất nên luận là cách Thất Sát. Với cách Thất Sát mà Sát nặng, dụng thần tất phải là Ấn. Ấn hợp và loại bỏ Thương Quan, khiến cách cục trở nên thuần túy, lại có Dương Nhận có thể chế ngự Sát, do đó cách cục được thành lập.
Vận đầu là Giáp Tý, Quý Hợi, đương số từ gia đình bình dân gia nhập quân ngũ, dần dần trở thành người có chức vị trong giới võ nghiệp. Đến vận Nhâm Tuất thì thăng tiến vượt bậc lên chức Đô đốc. Mệnh cục tuy Sát nặng, nhưng Thân có Dương Nhận gánh vác được Sát. Đến vận Nhâm Tuất, Sát và Thân về cơ bản cân bằng, là giai đoạn tốt nhất. Cộng thêm yếu tố của Tam Hình được kích hoạt, nên có thể một bước lên đến chức Đô đốc. Mấu chốt của Tam Hình nằm ở chữ “hình”; một khi vận trình kích hoạt nó, có thể giúp thăng chức nhanh chóng.
B. Luận về mệnh lý tử vong
Tuy nhiên, đương số lại qua đời vào năm Bính Thìn trong vận Nhâm Tuất. Việc này và việc luận về đẳng cấp phú quý của cách cục là hai phương diện khác nhau, phải tách ra để luận giải, việc nào ra việc đó. Nếu không, tư duy sẽ trở nên rối loạn.
Nguyên nhân tử vong: Vận đến Nhâm Tuất, một khi kích hoạt Tam Hình, Thổ sẽ vượng lên mạnh mẽ, tất sẽ phá hoại Ấn tinh và khắc Thủy. Khi Ngũ hành đại chiến, đó chính là ứng kỳ tử vong. Đến năm Bính Thìn, Tứ Mộ Khố hội đủ, Thất Sát sẽ tấn công mạnh mẽ vào Nhật chủ, chính là lúc ứng nghiệm kỳ tử vong.
C. Luận về mệnh lý võ quý
Quý và võ quý cũng là hai khái niệm khác nhau, cần phân biệt rõ ràng. Có nhiều loại mệnh quý, và cũng có nhiều loại võ quý. Do đó, người có cách cục thành công đều có thể đạt quý khí. Sau khi xác định được khung cơ bản về quý cách này, mới phân biệt là văn quý hay võ quý.
Tại sao đây là mệnh võ quý? Tam Hình Sửu Mùi Tuất, ba chữ này tương hình lẫn nhau, là một dấu hiệu của thiên hướng võ nghiệp. Thêm vào đó, cục diện Thổ Thủy giao chiến và sự hiện diện của Thất Sát cũng là dấu hiệu của võ nghiệp. Một mệnh có quý khí, cộng thêm các dấu hiệu của võ nghiệp, thì chính là mệnh võ quý.
Tổng hợp lại, mệnh này vừa quý vừa hung. Quý là quý về chức quan, theo ngành võ nghiệp; hung là đoản thọ, không được mất một cách an lành. Vì không có thông tin về lục thân (quan hệ gia đình), phương diện này không được đề cập.
Ví dụ 2: Mệnh nữ sinh năm 1966: Đinh Mùi, Canh Tuất, Quý Sửu, Quý Hợi
Thông tin đã biết về mệnh chủ:
- Người bình thường.
- Đã ly hôn.
A. Luận thành bại cao thấp cách cục
Tuất là lệnh tháng, Đinh trong Tuất thấu can. Tuy nhiên, bản khí của Tuất không thấu, nhưng địa chi có Tam Hình Sửu Mùi Tuất, khiến Thổ rất vượng, có thể lấy làm cách, tức là cách Thất Sát. Sát nặng có Ấn tinh hóa giải, Nhật Chủ lại có Đế Vượng tại Hợi, và có Tỷ Kiên tương trợ, nên Thân vượng.
Thân vượng có Tài tinh thấu can, nhưng Ấn, Tài, Tỷ Kiên đều thấu, trong khi Sát lại không thấu, dẫn đến Tài bị Tỷ Kiên đoạt mất. Cách Thất Sát mà Sát không thấu can thì không bảo vệ được Tài, lại không có Thực Thương, do đó cách cục bất thành (không thành công). Vốn dĩ mệnh này hợp với vận Mộc Hỏa, nhưng vận trình lại toàn đi về Thủy, nên chỉ là mệnh của người bình thường.
B. Luận về hôn nhân liên quan đến Tam Hình
Vì có Tam Hình, Quan nhiều cũng biến thành Sát. Sát nặng có Ấn hóa giải vốn không ảnh hưởng đến hôn nhân. Tuy nhiên, sự “hình” của Tam Hình sẽ tác động vào cung hôn nhân (cung phu). Khi cung phu bị tác động, người chồng ắt có tư tưởng ngoại tình. Đây chính là dấu hiệu bất lợi cho hôn nhân. Sớm muộn cũng sẽ có vận trình kích hoạt Tam Hình, và một khi được kích hoạt, tất sẽ dẫn đến ly hôn. Tại sao không khắc đến chết chồng? Vì phu tinh (sao chồng) tuy nặng nhưng có Ấn hóa giải, nên không đến mức khắc chồng.
Tam Hình Sửu Mùi Tuất này còn liên quan đến rất nhiều sự việc và lục thân khác, nhưng vì không có thông tin cụ thể, nên không luận thêm.
Các trường hợp khác suy luận tương tự, không cần nêu thêm ví dụ.
III. Cách có Tam Hình Sửu Mùi Tuất: Mệnh tốt lành thì ít, mệnh hung họa thì nhiều
Khi có đủ ba chữ Sửu, Mùi, Tuất, trước hết Thổ sẽ rất vượng, khiến các Ngũ hành khác sẽ cực yếu hoặc không có. Với Chính Cách, điều này làm cho Ngũ hành bị thiên lệch. Ngũ hành đã thiên lệch vốn không tốt, lại thêm Tam Hình thì càng hung nhiều cát ít. Hoặc bản thân gặp hung họa, hoặc người thân (lục thân) gặp hung họa. Ngay cả các cách cục phú quý cũng như vậy. Do đó, với Cách có Tam Hình Sửu Mùi Tuất, mệnh hoàn toàn tốt đẹp thì ít, mà mệnh xấu, hung họa lại là đa số.
Tuy nhiên, đối với Tòng Cách, đặc biệt là mệnh tạo theo cách Giá Sắc, nếu có đủ Sửu Mùi Tuất thì chắc chắn là mệnh phú quý thực sự. Bởi vì Tam Hình này cũng được xem như một tiểu Thổ cục. Khi “hình” kích hoạt khí của Thổ, nó mang tính chất của một tiểu Thổ cục, do đó mang lại quý khí. Vấn đề này cũng đã được đề cập khi luận về Lục Xung và Mộ Khố.
Ví dụ 1: Mệnh nữ sinh năm 1951: Tân Mão, Ất Mùi, Mậu Ngọ, Quý Sửu
Bát Tự có Sửu và Mùi nhưng không có Tuất. Khi đến vận Mậu Tuất, hội đủ ba chữ Sửu Mùi Tuất, tất nhiên sẽ kích hoạt sự hung hiểm của Tam Hình. Thực tế, trong vận này vào năm Tân Dậu, chồng của đương số đã chết vì tai nạn xe cộ.
Ví dụ 2: Mệnh nam sinh năm 1972: Nhâm Tý, Đinh Mùi, Tân Sửu, Mậu Tuất
Mệnh cục có đủ Sửu Mùi Tuất. Trong đại vận Canh Tuất, năm Tân Tị bị mất trộm xe và hơn một vạn đồng. Năm Quý Mùi, nhà máy tự mở bị phá sản. Tuổi thọ cũng sẽ không cao, vận Nhâm Tý có Thổ Thủy đại chiến, có lẽ là vận hạn về tuổi thọ.
Ví dụ 3: Mệnh nữ sinh năm 1955: Quý Mùi, Ất Sửu, Giáp Tuất, Ất Hợi
Mệnh cục có đủ Sửu Mùi Tuất. Cả đời sự nghiệp thăng trầm, gặp tai nạn thương tích, phải phẫu thuật lớn mấy lần. Tuổi thọ cũng không cao, vận Tân Mùi là một cửa ải lớn.
Ví dụ 4: Mệnh nữ: Quý Hợi, Giáp Dần, Quý Mùi, Nhâm Tuất
Mệnh cục thiếu Sửu. Năm 2009 là Kỷ Sửu, lưu niên và mệnh cục tạo thành Tam Hình Sửu Mùi Tuất. Đương số mắc bệnh viêm khớp dạng thấp rất nghiêm trọng. Tuổi còn trẻ đã mắc bệnh của người trung niên, có thể thấy Thổ Mộc giao chiến khi gặp Tam Hình, là một mệnh rất không may mắn.
Ví dụ 5: Tân Dậu, Mậu Tuất, Quý Mùi, Ất Mão
Mệnh cục thiếu Sửu. Trong vận Ất Mùi, năm Kỷ Sửu (2009) tạo thành Tam Hình Sửu Mùi Tuất. Năm này đương số vì cờ bạc mà phải ra vào đồn công an mấy lần.
Tóm lại:
Trong Bát Tự, chỉ cần có hai chữ bất kỳ trong bộ Sửu Mùi Tuất, khi gặp đại vận hoặc lưu niên hội đủ ba chữ, ít nhiều đều có thể gặp bất lợi, số người may mắn thì ít. Điều này là do Thổ quá vượng, tất sẽ gây hại do khắc các Ngũ hành khác. Mệnh cục có sẵn cả ba chữ, khi gặp vận trình kích hoạt thì lại càng hung hiểm.
Dĩ nhiên, không có gì là tuyệt đối, chỉ có tính tương đối. Thỉnh thoảng cũng có một số rất ít Bát Tự, do tổ hợp tốt và hành vận phối hợp nhịp nhàng, tác hại của Tam Hình sẽ giảm nhẹ hoặc không đáng kể. Người học cần biện luận kỹ càng, đại kỵ việc luận giải một cách chung chung, vơ đũa cả nắm.
Các vấn đề về tai ách, bệnh tật, lục thân do Tam Hình Sửu Mùi Tuất mang lại không phải là nội dung chính của chương này, do đó phương diện này xin dừng ở đây. Trong tương lai, các vấn đề này sẽ được phân loại và luận bàn trong các chương hoặc tác phẩm liên quan.
Tác Giả: Ngụy Đa Lượng





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.