
Dựa vào nhật chủ Đinh Hỏa sinh tháng Ngọ, đúng lúc khí Nhân Nguyên trong tháng Ngọ là Bính nắm quyền trị lệnh, thấu ra phát hiệu uy quyền được thiên thời vượng khí; thông căn Ngọ lộc được thế, được thời được thế chính cục thân vượng. Nhưng Dần tàng Giáp một thế sinh Đinh Hỏa, Nhâm lại không căn hư phù không thể khắc Bính, lại hợp Đinh, nhật chủ cực vượng không có chế, hơn nữa trong Mùi còn tàng Ất Mộc sinh Đinh tăng thế, nhật chủ tất theo thế vượng Ngọ, ứng với 《Tích Thiên Tủy》 “Ngũ âm tòng thế vô tình nghĩa”, nhật chủ Đinh Hỏa cực vượng mà theo thế vượng thì thành phản cục; Ất tăng thế cục cát. Đinh ngày gặp Bính lệnh định cách là cách Kiếp Tài, nhật chủ cực vượng thích sinh, Bính lệnh thấu có Nhâm chế không cát, nhưng Bính từ Dần Ngọ mà thấu, lại không có thể Tỵ bị Hợi hình xung, Nhâm vô lực khắc Bính, cách thần cát, Kiếp Tài cách cát. Phân tích đến đây, biết mệnh này cục cát cách cát, mà cách cát lớn hơn cục cát, thì giàu sang phú quý.
Phản cục Tòng Vượng, cục ngũ hành bản thể của Nhật chủ Đinh Hỏa sợ nhất Quý Thủy phá cách làm tổn thương thể ngày, mà bốn trụ Thiên Can không có Mộc để tiết Thủy, chỉ có thể chọn Bính Hỏa (Dương Hỏa) để trợ giúp bản thân, Bính Hỏa làm Dụng Thần thuộc tính tự nhiên, Kỵ thần là Nhâm Thủy. Còn về cách sử dụng công năng của Thập Thần đối với Nhật chủ, nếu thần của cách cục là cát thì tất nhiên sẽ chọn thần sinh cách hoặc thần bảo vệ cách, đó là thần mang lại lợi ích tối đa cho Nhật chủ trong công danh và tài lộc, đồng thời khiến Nhật chủ phát huy được chức năng chủ động. Ngày Đinh tọa Mùi, Mùi và Ngọ đều là thể của ngày, chức năng trong thể là Kỷ Thực Thần có hiệu suất tốt nhất, vừa bảo vệ thần của cách cục là Kiếp Tài, vừa là chức năng của thể ngày, lưỡng toàn kỳ mỹ. Kết luận, chọn Thực Thần Kỷ thổ làm Dương Dụng Thần thuộc tính xã hội, Kỵ thần là Ất.
Phân tích Lục Thân: Cha là Tân Kim không thấy trong mệnh cục là đại cát, vì mệnh này Tỷ Kiếp nhiều như rừng, cha không thấy thì không thể khắc. Nhưng không phải không có cha thì là thiếu cha. Lấy thể của mẹ đồng thời thông qua sự giao hợp âm dương để tìm thể của cha: Dần là thể mẹ, Giáp là sao mẹ, Giáp hợp Kỷ, bản thể của kỷ là Mùi là thể cha, trụ năm Đinh Mùi chính là cha. Lấy sao cha ở cung Đinh Hỏa làm cha, vị trí của cha là chính vị, thì cha có năng lực. Trước 18 tuổi, năm và ngày cùng trụ, ngày có thể thay cha hành sự, có tượng thay cha quản lý sản nghiệp của cha, lo liệu tài sản của cha, cũng là nhờ cây lớn ở trụ năm mà được hưởng bóng mát. Đinh Hỏa tọa dưới có Thực Thần Kỷ thổ, có tượng là người kinh doanh. Mẹ là Giáp Ấn tàng ở trụ giờ, không thấu can, vị trí sai, không có cơ hội lộ diện, chỉ là người mẹ tốt giữ gìn gia đình. Sao mẹ ở cung giờ được thể Dần, có Nhâm trên can sinh trợ mà vượng, có tượng sống trăm tuổi. Bính Kiếp là chị em ở tháng trụ, cung vị chính xác, thì chị em hưng vượng, chắc chắn có chị xuất sắc chủ về văn chương (trong Dần có Bính Kiếp Tài thấu can và thông với Ấn, đúng với tính chất Hỏa vượng nắm quyền). Kiếp Tài từ Thiên Can bên ngoài mà xem, có thế giúp Nhật can là cát (số lượng anh chị em do kế hoạch hóa gia đình nên khó xác định), thực tế mệnh này có trên bốn anh chị em.
Luận Hôn Sự : Mệnh này chính tài Canh không lộ thì có nguy cơ muộn cưới không? Đinh Mùi hợp Bính Ngọ, Mùi là thể vợ hợp Ngọ là hình hình giao cấu. Đại vận Quý Mão, Mão phá Ngọ, dẫn động Ngọ thể hợp Mùi, có hỉ duyên chính. Ấn tỷ vượng tất có xu hướng yêu cô gái nhỏ hơn năm tuổi trở lên hoặc không cao, theo nguyên cục là em gái của bạn làm vợ (Ngọ trung Bính thấu, Bính là vợ). Thực tế lấy em gái của bạn, bạn gái nhà ở hướng Nam địa phương, tự do tìm hiểu đi đến kết hôn. Cung vợ là dụng thần, thì đại diện vợ có năng lực, dáng đẹp. Canh không thấy trong 4 trụ, mệnh này tỷ kiếp nhiều đi nữa cũng không khắc vợ, khắc cha. Nam lấy Thất Sát làm con trai, Chính Quan làm con gái, giờ có quan tinh thấu lộ, ngày giờ khác tính âm dương tương kiến, thai đầu tất là gái.
Phân tích sự nghiệp: cách thần Bính Hỏa Kiếp Tài là Thái Cực lớn của sự nghiệp, Thực Thần là Thái Cực nhỏ phụ trợ. Ngũ hành Hỏa Thổ đại diện cho nghề, dụng thần Kỷ Thổ là thực, theo tượng sự vật mà nói là thực phẩm, lục súc, thương mại, theo ngũ hành là sản phẩm từ Thổ, công trình xây dựng, bất động sản v.v. Nhưng bản thể Mùi hợp Ngọ, ý hướng Hỏa và Kiếp Tài là hỉ dụng, thì có thể khởi nghiệp tại phương Nam, điện lực viễn thông, hợp vốn với bạn bè, đầu tư mạo hiểm, cờ bạc v.v. trong các lĩnh vực này. Mệnh cục Hỏa Thổ nhiều, sự nghiệp tạp, liên quan rộng chính là đại sự đời người. Tạo hóa khởi nguyên trinh, hệ tuổi vận là ứng kỳ họa phúc cát hung, nghèo hèn giàu sang.
Phân tích phong thủy tiên thiên:
Lúc mệnh chủ sinh ra, ở giữa có vùng núi non bao bọc, không có sông ngòi, phía Nam và Tây Nam tầm nhìn rộng (để hướng Ngọ Mùi là hướng vượng khí có thể đi vào được). Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thiên Hà Thủy, nên địa danh phần nhiều liên quan đến sông ao (nhưng Hóa khí của Thủy lại không thấy trong mệnh cục). Phía trước bên phải nhà có ao giếng (ứng với Nhâm Thủy), hàng xóm trái phải có thể nghèo (do Kiếp Tài vượng ở bốn trụ), gần đó nên có nhà của họ hàng (ứng với Ngọ Hỏa). Đường ra vào từ phía trước, hướng Tây Nam mà đi vào (ứng với Mùi). Địa phương ở hướng Đông Bắc là nơi Lai Long cao nhất (ứng với Nhâm Dần). Bên Bạch Hổ có Sa gần (Kim khí không vào được, vì mệnh cục không có Kim).
Giàu sang là từ đời ông bà cố, đặc biệt giàu có là nhờ sự che chở, nảy nở phúc đức của ông cố (ứng với Kỷ), còn quý hiển là nhờ bà cố (ứng với Nhâm). Mộ của ông bà cố ở phía trước bên trái của nhà ở (dương trạch) không xa (ứng với Nhâm Đinh hợp, Giáp Kỷ hợp). Quanh mộ phần nên có cây lớn (ứng với Giáp). Nếu không có cây thì mệnh này không giàu sang; cây đó mà trở thành Tài thì sẽ đại phát, cực kỳ phát. (Câu này ẩn chứa bí mật về thiên vận và long khí, người học cần tự ngộ ra). Một đời đại phú hoàn toàn là nhờ vào công đức của cây Giáp đó tại âm trạch của ông bà cố.
Mộ của ông nội không có long khí, không che chở cho nhật chủ, ngược lại còn rước lấy tai họa (do Ất Mộc chế Kỷ Thổ). Tại sao mộ ông nội có cây lại không cát, cây càng lớn thì mệnh này phá tài gặp tai họa càng lớn? Đây chính là sự cảm ứng “Thiên Nhân Hợp Nhất” chân chính, thuật nắm bắt thiên thời được phát huy trọn vẹn.
Phân tích tính cách: Mệnh tạo Tỷ Kiếp Hỏa vượng, tính tình nóng nảy, làm việc chú trọng hiệu quả. Hỏa là hỉ dụng thần lại vượng tướng, nên người này thẳng thắn, trọng nghĩa khí, trung thành và đôn hậu, thích làm điều thiện, có lòng tự tôn, tự tin và trọng bạn bè. Kiếp Tài nhập mệnh nên nhân duyên tốt, cuộc đời dễ được bạn bè người thân giúp đỡ. Đinh là Âm Nhật Can, nên trong đời thường coi trọng vật chất, lấy thực tế làm nhiệm vụ hàng đầu. Thêm nữa, Hỏa vượng nên dễ mắc các bệnh về tim mạch và dạ dày, cần phải đề phòng bệnh tật bất ngờ.
Phản hồi: Cha làm ở phòng cung tiêu cho đến khi nghỉ hưu. Nhật chủ đến vận Thìn thì thay cha giữ chức (do Thìn hình Mùi làm phát động), cha và ngày cùng động nên có sự thay đổi vị trí. Mẹ là nội trợ. Cha mẹ đều ngoài 70 tuổi và còn khỏe mạnh. Mệnh chủ có hai chị và một em. Chị lớn là giáo viên tiếng Anh cao cấp (rất khớp với việc Giáp Ấn ở trụ giờ tượng trưng cho ngoại ngữ). Những người còn lại giúp mệnh chủ quản lý công việc. Vợ là người địa phương, anh vợ và nhật chủ là bạn đồng nghiệp. Đúng là mệnh chủ tự do yêu đương muộn rồi mới cưới, sinh ba con gái, cuối cùng mới có một con trai. Phong thủy âm dương trạch đúng như đã luận giải.
Phân tích đại vận: Đại vận Ất Tỵ, Giáp Thìn không ảnh hưởng đến cách cục, ngược lại còn làm tăng thêm khí thế cho mệnh cục, nhờ được phúc ấm của cha mẹ nên là vận cát tường. Nguyên cục không có Ấn sinh thân, dù hành vận Ấn thì việc thi cử vẫn bất lợi, mệnh không có văn bằng cao. Đến vận Thìn, Thìn hình Mùi, Quý Thủy xung khắc Đinh Hỏa, có dấu hiệu về sự thay đổi công việc. Năm 1988 Mậu Thìn, lưu niên là Thìn hình động trụ năm và trụ ngày, nên đã thay cha vào làm nhân viên kinh doanh ở hợp tác xã cung tiêu.
Đại vận Quý Mão, Kỵ thần xuất hiện cả đôi đến khắc thân và khắc Dụng thần, là đại hung. May mắn là có Ất tiềm ẩn giúp tiết khí của Quý để hóa giải Sát, nên được chu toàn. Trong vận này, ông nội qua đời. Thất Sát cũng là công việc và lại là Kỵ thần, đúng lúc có cải cách kinh tế, doanh nghiệp nhà nước chuyển sang tư nhân bao thầu, công việc chính thức bị mất, việc kinh doanh gặp nhiều gian nan, vài năm bị lỗ lớn, phải đóng cửa. Các lưu niên Nhâm Thân, Quý Dậu, sự nghiệp càng thêm bi thảm.
Đến lưu niên Ất Hợi, Bính Tý, Dần hợp Hợi, Kiếp Tài dẫn động gây đầu tư hao tài. Tý xuyên Mùi, Tý xung Ngọ, Sát xung ngày, dẫn động Thực Thần, nên đã hợp tác mở nhà hàng khách sạn. Hai năm lưu niên Bính Tý, Đinh Sửu, Sửu xung Mùi, Sửu hại Ngọ, dẫn động cung vợ và thể của vợ, nên có sự giao du, yêu đương rồi chung sống. Đồng thời, Đinh hợp động Nhâm, dẫn động Quan tinh trong nguyên cục hợp thân, nhưng do nợ nần quá nhiều, không trả nổi nên bị cơ quan công quyền niêm phong tài sản khách sạn để trừ nợ. Năm này cũng vì bị xung mà phải rời khỏi địa phương, dẫn vợ lưu lạc đến Quảng Đông, nương náu ở chỗ bạn bè làm tạp vụ, thu mua lợn sống.
Năm Mậu Dần, Dần Mộc cùng đến với nguyên cục, hóa giải Quan tinh, được sức mạnh của quý nhân hoặc người có chức quyền giúp đỡ mà thầu được công trình, bắt đầu phát đạt. Đại vận Nhâm Dần, càng được Quan tinh trợ giúp, phát triển không ngừng, sự nghiệp liên quan đến một nửa các quận huyện về điện lực, viễn thông của Quảng Châu. Hơn mười năm sau, tài sản cá nhân đạt đến hàng tỷ.
Năm 2008 Mậu Tý mùa thu, mệnh chủ may mắn được bố trí một biệt thự mới cho vị tổng giám đốc này, với mong muốn cầu ngày giờ vượng cho nam giới (vì ông này đã sinh hai con gái). Dựa vào địa hình, dương trạch được chọn lập theo hướng Dần sơn Thân hướng (tọa ở Dần, nhìn về Thân), hướng tọa là kỵ nhưng hướng triều lại tốt, tiếp nhận khí của quẻ Khôn tại cung Mùi để tương trợ gia chủ. Chọn năm Mậu Tý, tháng Nhâm Tuất, ngày Mậu Tuất, giờ Mậu Ngọ để đặt viên gạch vàng đại cát, đồng thời ở Thái Cực của dương trạch làm một Tụ Bảo Bồn chôn ở giữa nhà để thúc đẩy tài vận. Việc chọn tọa sơn, mệnh cục, ngày giờ đặt gạch ẩn chứa thiên cơ nào, tương trợ cho chủ nhà thế nào, làm sao để “nhân địa đồng khí tương cầu” tạo nên sự thiên nhân cảm ứng, người yêu thích môn này hãy tự mình ngộ ra.
Năm năm qua, sự nghiệp của vị tổng giám đốc đó cũng ngày càng lớn mạnh, con trai cũng đã sinh vào năm kia, phát tài thì không cần phải nói. Mệnh này không có Tài tinh, nhưng lại đại phát tài, hoàn toàn là nhờ vào công của cách cục tốt và các yếu tố hậu thiên. Nếu Thái Cực thuộc tính xã hội không cát tường, dù con người có cố gắng xoay sở thế nào cũng vô ích.
“Làm sao biết người này giàu, tài khí thông cửa ngõ”. Mùi từ trụ năm chạy đến chi ngày chính là tài sản, tài nguyên được phân bổ vào cửa ngõ. Tài, khí, cửa, hộ, rốt cuộc làm sao để lưu thông, các bạn yêu thích nghiên cứu Dịch học có từng nghĩ qua không? Vì chỉ biết Tài lộ ra từ đâu đến, khí của Tài làm sao từ cửa mà vào, trong Bát Tự thì cửa Tài ở đâu? Vào cửa rồi phải giấu trong nhà, đó mới là tài dư của mình. Tài không vào cửa, không nhập vào nhà, đều không phải là của mình. Chúng ta làm phong thủy âm trạch và dương trạch, phải làm rõ đường đi của nhân đinh và đường đi của tài lộc. Bất kỳ phúc chủ nào cũng quan tâm đến việc “vượng đinh vượng tài”. Nhiều đại sư khi luận bàn về địa đạo, lại không biết gì về đường đi của nhân đinh, đường đi của tài lộc. Hiệu quả thế nào, chỉ có các vị đại sư đó mới biết. Bất kỳ đường đi nào của nhân đinh, tài lộc trong phong thủy cũng đều là tự nhiên sinh thành, không phải là do nguyên vận lý khí gì đó, mọi người đừng hiểu lầm, càng không phải là do bố cục gì đó theo kiểu của những kẻ bàng môn tả đạo mà phát đinh vượng tài được.
Sưu Tầm.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.