Một, Nhật can Giáp mộc lâm hỷ kị
Tối hỷ Canh kim đốn,
Đẽo gọt thành đại tài;
Tân là kim nhu nhược,

Mộc cứng kim dễ gãy.
Thấy Mậu lợi kinh thương,
Tài lớn thắt khí thô;
Kỷ đến hợp Giáp mộc,

Mệnh chủ trói chân tay.
Nhâm là dương thủy sâu,
Không Dần theo sóng cuộn;
Quý nói là nước mưa,

Hạ giải viêm táo khổ.
Bính là hỏa Thái Dương,
Đông Xuân làm ấm cục;
Đinh làm Giáp ngoài nhu,

Không Canh người hư ngụy.
Ất là Nhận thấu thiên,
Hợp Canh mất quý khí.

Hai, Nhật can Ất mộc lâm hỷ kị
Bính có khử âm nhu,
Mộc hỏa thông minh cách;
Đinh khiến Ất suy sụp,

Thấy Tân thành vũ quý.
Mậu là thổ cương cứng,
Nhu mộc không lực phạt;
Kỷ thổ danh Điền viên,

Phụng dưỡng Ất mộc phát.
Canh vốn tính đa nghi,
Khó có đất dụng võ;
Tân có trói Bính hỏa,

Khó để phát tú khí.
Nhâm cuộn sóng dào dạt,
Mộc nhược sợ phiêu bạc;
Quý thủy tưới hoa mộc,

Không sợ táo hỏa mạnh.
Thấy Giáp hệ đằng la,
Bốn mùa đều tương thích.

Ba, Nhật chủ Bính hỏa lâm hỷ kị
Gặp Giáp càng mãnh liệt,
Không Canh gây nhiều họa;
Ất mộc vốn lý trí,

Mộc hỏa thông minh cách.
Đinh là Nhận của Bính,
Thiếu kim Sát khí trọng;
Mậu vốn tính quá cương,

Thủ Quý Nhâm điều tiết.
Kỷ có khử hỏa táo,
Lại tiết mất ánh sáng;
Canh sinh Nhâm ức Bính,

Tài phú đầy giỏ kho.
Tân vốn bỏ trong lòng,
Vong nghĩa luyến tình sắc;
Nhâm có đuổi viêm táo,

Hiển uy nơi cần quyền.
Mây đen Quý che Nhật,
Hào quang khó chiếu khắp.

Bốn, Nhật chủ Đinh hỏa lâm hỷ kị
Giáp hiện cần Canh bổ,
Sự nghiệp có đại thành;
Ất sinh hỏa là yếu,

Đinh khó nung sắt ngu.
Bính có khử sầu muộn,
Mệnh chủ hiển sinh cơ;
Mậu gặp Giáp hoặc kim,

Dẫn đến thành cự phú.
Kỷ là mệnh chủ thọ,
Tâm rộng thích nói phúc;
Canh kim cần mang Giáp,

Không Giáp mệnh bần khổ.
Tân thấu người khảng khái,
Tài đến như nước phun;
Nhâm hiện hợp Quan quý,

Có Giáp phú quý lâm.
Quý cần Giáp hoặc Mậu,
Thất Sát hóa nắm quyền.

Năm, Nhật chủ Mậu thổ lâm hỷ kị
Giáp có dụng thông thổ,
Không Giáp uổng phí tâm;
Ất Quan tính nhu nhược,

Khó lấy thành đại quý.
Bính hỏa chiếu thổ ngu,
Tấc cỏ không dễ sinh;
Đinh hỏa công ở sắt,

Sao hỏa khó sáng tỏ.
Kỷ gặp Giáp Hoặc bính,
Giá Sắc thành phú ông;
Có Canh lắm tài hoa,

Lập nghiệp thấy đại công.
Tân cần Bính Quý hiện,
Xuất nhập hiển trong nhà;
Thấy Nhâm thành đê ngạn,

Tuy khổ sự nghiệp thành.
Quý Tài nước chảy dài,
Cuồn cuộn có kho giữ;
Tháng Tị lộc nắm quyền,

Ghét Giáp hỷ Quý nhuận.
Sáu, Nhật chủ Kỷ thổ lâm hỷ kị
Giáp đến quý hợp thân,
Không Giáp tính trì trệ;

Ất kém lực khắc phạt,
Vất vả mà không thành.
Bính hỏa chiếu âm thổ,
Vạn vật được sinh sôi;

Đinh là ngọn nến sáng,
Khó mà hiển đại công.
Mậu cần Giáp khai thông,
Không Giáp tính rõ ngu;

Canh kim có tiết tú,
Độ lượng trọng thành tín.
Thấy Tân tham tài sắc,
Khắp nơi loại lưu tình;

Thấy Nhâm thì trí đục,
Tà đạo khởi oai phong.
Quý thủy phối Bính Giáp,
Sự nghiệp mới phát đạt.

Bảy, Nhật chủ Canh kim lâm hỷ kị
Giáp Tài lợi nhuận dày,
Bổ mà có phát vinh;
Ất lại trói chân tay,

Keo kiệt nô lệ Tài.
Bính là ánh Thái Dương,
Dù mạnh không luyện kim,
Đinh hỏa nung thành khí,

Hiển quý nhập công môn.
Mậu thổ tính khô sáng,
Tiết tú Nhâm không đen;
Kỷ thổ âm mà đục,

Tính Sửu phầm chất xấu.
Thấy Tân cần Giáp Đinh,
Không thì tính ngu độc;
Gặp Nhâm kim thủy thanh,

Tài hoa động lòng người.
Quý đến thương Đinh quý,
Phản nghịch thành thổ phỉ.

Tám, Nhật chủ Tân kim lâm hỷ kị
Giáp là mộc cương cứng,
Nhật chủ gặp phản khinh;
Ất mộc tính nhu nhược,

Thích chế Tài phong hậu.
Có Bính luyến tài sắc,
Chí khí bị mài gọt;
Đinh hủy kim châu ngọc,

Dễ thành thân thương tàn.
Mậu cứng không sinh thân,
Tài hoa đều bị cấm;
Kỷ thổ làm đục thủy,

Tân kim ướt mất sáng.
Nhâm thủy kim thanh bạch,
Sinh đông hỷ Bính hỏa;
Quý nói là mưu sương,

Khó liệt cách phú quý.
Canh đến phù sinh nhược,
Không sợ khắc tiết hao.

Chín, Nhật chủ Nhâm thủy lâm hỷ kị
Giáp hiện thích tưới tốt,
Thông minh thành đại tài;
Ất sợ sông Ngân đổ,

Theo sóng không tồn tại.
Bính hỏa thủy Ký Tế,
Tài phú từ trời đến;
Thấy Đinh khách tửu sắc,

Tài theo vượt tầm tay.
Mậu thổ nhận làm đê,
Uy vũ trấn tà ác;
Kỷ hỗn thủy không thanh,

Cả đời đen kinh người.
Canh là nguồn gốc thủy,
Không sợ thổ mộc hỏa,
Tân thủy trong càng thanh,

Tài hoa cái thế ca.
Quý đến Kiếp tài khử,
Lại lấy đoạt vợ chồng.

Mười, Nhật chủ Quý thủy lâm hỷ kị
Giáp mộc cây chọc trời,
Không lo gì mưa sương;
Ất mộc là hoa cỏ,

Giữ thủy không khát khô.
Bính hỏa ánh Thái Dương,
Chiếu rực rỡ núi sông;
Đinh hỏa ánh sáng yếu,

Có mấy tài năng chứ?
Mậuđến hợp tuấn tú,
Lão ông hoặc lạo bà;
Thấy Kỷ thủy không thanh,

Trí thương vỡ chiết trừ.
Canh sinh sợ thái quá,
Kim nhiều thủy tất đục;
Tân Quý cả hai thấy,

Cách kim bạch thủy thanh.
Nhâm huynh trợ thân vượng,
Không sợ hỏa thổ nhiều.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc