Lời Tựa Của Tác Giả

Cuốn tài liệu nội bộ này bao gồm Tứ Trụ, Phong Thủy, Cải Vận, Ngoại Ứng và cả Quẻ. Đây là một tập hợp đa dạng, hàm lượng kiến thức cực cao, thông tin bùng nổ, chắc chắn sẽ khiến bạn một lần mở rộng tầm mắt. Mục đích viết tài liệu này là để phá giải Tượng (ý nghĩa ẩn dụ), giải mã những mật mã Can Chi khô khan của tám chữ cộng với Tuế Vận thành những sự việc, hiện tượng tương ứng trong cuộc sống và lưu niên.

Nội dung bài viết được trích từ sổ tay của tôi, là những tích lũy trong suốt 3 năm; trong 3 năm đó, mỗi khi có linh cảm, khi đốn ngộ, hay những lúc đêm khuya thanh vắng khai mở trí tuệ, tôi đều nhanh chóng cầm bút ghi lại. Mỗi câu đều là tinh hoa cô đọng. Trong vài năm qua, tôi đã sưu tầm được 1.564 mệnh lệ. Tài liệu này công khai rất nhiều kinh nghiệm thực chiến, mỗi chữ đều quý như vàng. Còn một số bí quyết phong thủy chiêu tài thì tạm thời tôi chưa có ý định công khai. Ý định của tôi khi viết tài liệu này là để giao lưu, nghiên cứu thảo luận cùng những người bạn có cùng chí hướng trên khắp thiên hạ; đây cũng chính là động lực và niềm hứng thú để tôi đặt bút.

Trình Hiểu Hè năm Đinh Hợi tại Trùng Khánh

Lời Tựa Của Trương Minh Giám

Một cơ hội tình cờ, tôi đọc được cuốn “Bí Mật Chìa Khóa Tượng Ý” mới ra của tác giả. Nói thật lòng, tôi vô cùng kinh ngạc và vinh dự. Kinh ngạc vì tuổi cô ấy còn trẻ mà đã có kiến thức và kinh nghiệm phi thường đến vậy; vinh dự vì có thể đọc được tác phẩm của cô ấy ngay khi vừa mới hoàn thành bản thảo!

Mở sách ra đọc kỹ, tôi thấy tác phẩm của tác giả tràn đầy linh cảm và trí tuệ của Dịch học, dùng những trải nghiệm cuộc sống tinh tế để diễn giải Dịch học. Ngôn từ súc tích, làm sáng tỏ mối quan hệ sinh khắc của Ngũ hành. Điều đáng quý hơn nữa là tác giả đã quy nạp học thuật luận mệnh Tứ Trụ Bát Tự phức tạp thành những khẩu quyết đơn giản, giúp người xem có thể hiểu ngay, làm tăng đáng kể giá trị thực chiến của Dịch học.

Toàn bộ tác phẩm với 208 câu nói cô đọng đã tổng kết sự lĩnh hội sâu sắc của tác giả đối với nguyên lý Chu Dịch, lồng ghép rất nhiều trải nghiệm của cô ấy về Dịch học và thế giới khách quan, rồi trình bày trước mắt độc giả chúng ta. Trong bài viết, tác giả không chỉ tổng kết tính quy luật của Ngũ hành sinh khắc và tổ hợp, mà còn vận dụng vào cuộc sống thực tế, tạo nên một hình mẫu điển hình cho việc học đi đôi với hành. Bài viết này cũng đưa ra những chỉ dẫn rất hay cho người nghiên cứu về cách thuận theo lẽ trời, hạn chế khó khăn trong cuộc sống thường ngày, có giá trị cả về mặt học thuật lẫn thực tiễn.

Tuy chỉ là một tác phẩm không dài, nhưng mỗi câu mỗi chữ đều có thể coi là kinh điển. Sự ra đời của nó chắc chắn là một tin vui cho đông đảo những người yêu thích Dịch học. Nó không chỉ giúp người mới học thoát khỏi mê cung rối rắm của Dịch học, thông qua những câu chữ ngắn gọn để nhanh chóng nắm bắt kiến thức Dịch học, đặc biệt là về Tứ Trụ, mà còn có tác dụng gợi mở sâu sắc đối với những người nghiên cứu Dịch lâu năm.

Chúng tôi tin rằng tác giả chắc chắn sẽ có nhiều tác phẩm hay hơn nữa cống hiến cho đông đảo bạn Dịch trong sự nghiệp Dịch học sau này của mình. Đồng thời, chúng tôi cũng chúc cô ấy có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho việc phát huy văn hóa truyền thống của đất nước.

Tháng Chạp năm Bính Tuất tại Tây An

  1. Xung quanh Nhật Can (Can ngày) là Ấn (Dụng Thần) cho thấy mệnh chủ là người được yêu mến, đi đến đâu mọi người cũng quý mến. Đây cũng là một thái độ ứng xử trong các mối quan hệ.
  2. Người có thành tựu lớn thường có Đại Vận là tổ hợp Can Chi nhất khí (cùng một hành). Điều này là do năng lượng lớn, mệnh chủ làm việc gì cũng dồn hết tâm sức và nhiệt huyết. Tổ hợp Đại Vận Can Chi bị Cái Đầu (Can khắc Chi) hoặc Tiệt Cước (Chi khắc Can) thì cả đời khó có thành tựu, gặp nhiều trắc trở, làm việc gì cũng không được lâu, khó kiên trì.
  3. Trong ý nghĩa của Sinh Khắc, Sinh là một yếu tố dẫn dắt, là ngòi nổ.
  4. Quan Sát vượng khắc thân (khi là Kỵ Thần) thường ngủ muộn, thức khuya.
  5. Sinh là sự kết nối, dẫn dắt duyên phận, đại diện cho duyên phận đến. Sinh ai thì duyên phận của người đó sẽ đến.
  6. Thông tin của Đại Vận và Lưu Niên là tổ hợp cùng nhau, cần phải kết hợp để xem xét. Sự việc xảy ra trong Lưu Niên đôi khi là tín hiệu của Đại Vận.
  7. Tam Hội cục, Tam Hợp cục đại diện cho sự đồng lòng, đoàn kết; ở gần nhau cũng có cảm giác tụ hợp. Thập Thần gần với Nhật Can đại diện cho kiểu người dễ tụ tập xung quanh Nhật chủ, đi đến đâu cũng là nhóm người đó.
  8. Nỗi đau mà bạn phải chịu chẳng qua chỉ là sự phản ánh giá trị năng lượng tích tụ của tai họa mà thôi.
  9. Trong hôn nhân của nữ mệnh: Chính Quan thường là người thật thà, trung hậu; Thất Sát làm chồng thường có xu hướng bạo lực.
  10. Kiêu Ấn là nhà tâm lý học bẩm sinh.
  11. Thương Quan dễ có tình cảm ngoài hôn nhân. Người có Thương Quan thường có tư tưởng tình yêu và hôn nhân thoáng, tự do, chủ động theo đuổi tình cảm, phong lưu dễ ngoại tình, quan niệm gia đình nhạt nhẽo.
  12. Thất Sát là Dụng Thần, năm Thất Sát thấu lộ thường có chí hướng khởi nghiệp, có sự thôi thúc muốn đầu tư vào ngành nghề mới.
  13. Phục Ngâm ở cung vị thường liên quan đến chuyện của người thân trong Lục Thân. Phục Ngâm ở Vận thường liên quan đến chuyện của bản thân.
  14. Tam Hợp cục, Tam Hội cục ứng nghiệm tai họa đặc biệt rõ ràng.
  15. Một số trường hợp kết hôn là do sự cảm ứng của Lưu Niên của người phối ngẫu; Lưu Niên của bản thân đôi khi không thể hiện rõ.
  16. Thực Thương là Dụng Thần, nhiều người làm nghề giáo viên, luật sư, giỏi các môn xã hội.
  17. Xung là tín hiệu của sinh ly tử biệt.
  18. Khắc có nghĩa là đi, là ly biệt.
  19. Ấn mang Dịch Mã thường ra ngoài cầu học. Thời Chi (Chi giờ) gặp Xung là dấu hiệu xuất ngoại. Kim Ấn là Kỵ Thần là dấu hiệu tai nạn xe cộ. Căn Khí (gốc rễ của Can) Phục Ngâm khi là Hỷ Thần thường có hiện tượng chuyển nhà nhiều lần.
  20. Sinh con cái, sao con cái (Tử Nữ Tinh) vượng thì sinh con trai, yếu thì sinh con gái.
  21. Ôxy mà động vật hít thở không đủ như của thực vật, nên thực vật sống lâu hơn động vật. Tuổi thọ có liên quan đến việc có đủ ôxy hay không. Ở một số khu rừng và khu du lịch, thực vật đã có lịch sử hàng trăm năm.
  22. Nhật Can Chi nhất khí (Can ngày và Chi ngày cùng một hành) cho thấy trong ngoài như một. Xem xét nội tâm con người, mấu chốt là xem Can Chi của ngày. Can ngày là vẻ bề ngoài, Chi ngày là thế giới nội tâm. Ví dụ, ngày Mậu Tý, nếu bỏ qua tâm tính Thập Thần mà xét, Mậu không có gốc thì bề ngoài là Thổ nhưng thực chất là Thủy; đây là loại người bề ngoài trung hậu nhưng nội tâm giả dối, hiểm độc.
  23. Thiên Can là miệng. Thiên Can đến khắc Nhật chủ đại diện cho sự tấn công bằng lời nói, đây là tượng của khẩu thiệt thị phi.
  24. Tỷ Kiếp chủ về thân thể. Tỷ Kiếp vượng thì thể chất tốt. Tỷ Kiếp Phục Ngâm là Kỵ Thần thì dễ gặp bệnh tật, thương tổn trên cơ thể.
  25. Nhìn từ Nhật Can, Trụ Tháng đại diện cho bên phải, Trụ Ngày và Trụ Giờ đại diện cho bên trái.
  26. Kim là Kỵ Thần mà vượng là tượng phẫu thuật. Ấn là phẫu thuật; phẫu thuật là để bảo vệ bản thân không bị bệnh tật làm hại, nên là Ấn.
  27. Người không có Căn (gốc rễ của Can trong Địa Chi) không thích ở nhà, thích lang thang bên ngoài. Những kẻ lang thang ngoài xã hội thuộc loại này, vì Căn là nơi có thể ổn định, định cư để an cư lạc nghiệp. Có Căn hay không có Căn nằm ở chỗ có môi trường để nương tựa hay không.
  28. Có phải có mấy trụ có Bản Khí Căn thì có mấy nhà không? Không có Căn biểu thị trạng thái trôi nổi; cả ngày bận rộn bên ngoài cũng tương đương với ý nghĩa không có nhà.
  29. Huyền Vũ (trong Lục Thú) biểu thị sự mơ hồ, nghi ngờ, phỏng đoán.
  30. Đi đường không cẩn thận bị trượt chân, ngã, vấp ngã là do sao Dịch Mã tác động.
  31. Ấn và Thực Thương gặp Xung thường có sự thay đổi về học hành, chỗ ở; ví dụ như thi đậu lên cấp, chuyển nhà, thay đổi công việc.
  32. Lòng bàn tay trái chỉ cần có cảm giác dày lên là dấu hiệu tiền triệu của việc sắp có tài vận đến. Ăn nhiều thịt bò sẽ có hiệu quả này.
  33. Thực Thương quá vượng, cho dù là Dụng Thần, cũng dễ gặp kiện tụng, tù tội.
  34. Kiêu Ấn là Dụng Thần thì là cao thủ quan sát Tượng. Cho dù là Kỵ Thần cũng rất lợi hại, rất hiểu tư duy hình tượng. Do đó, Kiêu là thiên tài Dịch học bẩm sinh, tế bào linh cảm rất mạnh, chính là cái gọi là giác quan thứ sáu, giấc mơ báo mộng, có khả năng nhìn trước tương lai.
  35. Ngôn ngữ và cảnh giới cao nhất của Dịch chính là Tượng. Dịch là Nhật Nguyệt, đến từ Tượng. Muốn trở thành cao thủ Dịch học, cần phải có ngộ tính sâu sắc về việc quan sát Tượng.
  36. Dụng Thần là thiên phú của bản thân, là tài nguyên có thể sử dụng, là vốn liếng của mình.
  37. Phúc chính là béo. Thứ có thể làm người ta béo lên là Phúc. Phúc Thần là một vị thần rất béo.
  38. Hỷ Kỵ Thần là trường khí tuần hoàn; trong thực tế chúng liên kết với nhau, vì cái này mà có cái kia, vì cái kia mà có cái này.
  39. Trường khí xấu tiếp cận bạn, từng bước dẫn bạn đến sự hủy diệt và gian khổ. Khi Hỷ Dụng Thần tiếp cận là sự tiếp cận của trường khí tuần hoàn tốt đẹp, kéo bạn ngày càng trở nên tốt hơn.
  40. Bát Quái: Thiên (Trời), Địa (Đất), Trạch (Đầm), Lôi (Sấm), Phong (Gió), Sơn (Núi), Thủy (Nước), Hỏa (Lửa) nói về những loại hiện tượng tồn tại giữa trời đất. Lôi không đơn thuần chỉ là sấm sét, mà đại diện cho những vật chất giống như sấm sét. Ví dụ, âm thanh phát ra khi đánh trống là quẻ Chấn; tiếng chim hót, thậm chí một tấm biển hiệu có chữ “Minh” (鳴 – kêu, hót) cũng là sự tồn tại của quẻ Chấn. Tất cả những vật chất phát ra âm thanh, ồn ào, có tính động đều là Chấn!
  41. Thái Dương Bính Hỏa ví như tình yêu và sự cống hiến, tất cả những người và sự vật mang lại sự ấm áp cho người khác, là phẩm đức cao thượng. Tra ý nghĩa của hai chữ “Thái Dương” trong tên người, hóa ra là mã hiệu của “Đức”!
  42. Thông thường, những cô gái có Quan Sát là Dụng Thần đều có người chủ động theo đuổi.
  43. Tỷ Kiếp là lòng tự trọng, sự tự tin. Vì vậy, người Thân yếu (Nhật Can yếu) đặc biệt cần bạn bè; càng không có bạn bè thì càng thiếu tự tin.
  44. Kiêu Ấn thường nhàn rỗi, lười biếng; từ bỏ bản thân cũng từ bỏ người khác.
  45. Những thứ không có hứng thú thường không có thiên phú về mặt đó. Nếu ép buộc bản thân làm thì không những không có lợi ích mà còn có thể đi theo hướng ngược lại. Giống như Dụng Thần trong Bát Tự đại diện cho thiên phú của bạn, Kỵ Thần là phương diện năng lực kém hơn. Nếu bạn làm ngành nghề mình yêu thích tức là bạn đang đi trên quỹ đạo Dụng Thần của mình; tiếp tục như vậy sẽ rất có lợi cho bản thân.
  46. Nếu một nơi nào đó có hại cho bạn, bản thân bạn cũng sẽ cảm thấy không nên đến đó; ý thức sẽ mách bảo bạn, sẽ phân biệt được. Đây chính là cái mà người ta thường gọi là dự cảm, ý thức siêu trước.
  47. Thích ăn loại trái cây nào là do Ngũ hành của Dụng Thần tác động. Ép buộc bản thân ăn những thứ không thích sẽ ăn ra tai họa!
  48. Giữa Can Chi của Lưu Niên, giữa Can Chi của Đại Vận có sự đồng bộ thông tin. Ví dụ, Lưu Niên Bính (Quan) Tuất (Ấn); Bính là Dụng Thần thì thăng tiến, Ấn là Kỵ Thần đại diện cho việc thăng chức đi kèm với vất vả. Có được chức vị thì vất vả, được chức vị thì vất vả sẽ đến.
  49. Lưu Niên Ất (Kiếp) Dậu (Quan), tổ hợp Thập Thần tượng trưng cho việc đơn vị cắt giảm nhân sự, chấn chỉnh nhân sự, cạnh tranh vị trí, cạnh tranh công việc, bắt đầu đi làm v.v… (công việc và đồng nghiệp cùng đến).
  50. Khắc là một loại cảm xúc đối lập, tâm thái bài xích.
  51. Mối quan hệ giữa Can Chi của Lưu Niên là quan hệ nhân quả với nhau.
  52. Phụ nữ có Quan Sát vượng là Kỵ Thần, đàn ông nhìn thấy dễ nảy sinh ý nghĩ xấu.
  53. Chi là tĩnh, Can là động. Chi là mục tiêu, ý hướng và xu thế của Can.
  54. Thực Thương là thứ do Nhật chủ sinh ra, yêu thích, là duyên phận với người khác giới được theo đuổi, là đối tượng trong lòng, có thể định vị là sao Vợ hoặc sao Chồng.
  55. Ấn và Quan Sát bị Xung thường có sự thay đổi công việc. Bị khắc mất cũng đại diện cho xu hướng nghỉ việc.
  56. (Thứ tự ảnh hưởng mạnh yếu): Tam Hội > Tam Hợp > Sinh Địa Bán Hợp, Lục Hợp, Lục Xung > Mộ Địa Bán Hợp, Tam Hình > Hình, Hại, Phá.
  57. Thân yếu, vận Thực Thương chế Quan Sát, sẽ chuyển hóa Quan Sát thành tốt, hóa thành Quý khí. Thân yếu, hành vận Tỷ Kiếp, sẽ chuyển hóa Tài Tinh thành tốt, hóa thành của cải.
  58. Tại sao con người lại có sự phân biệt giàu nghèo, sang hèn? Sự khác biệt trong suy nghĩ nằm ở đâu? Mỗi người nên có phương châm sống của riêng mình, không thể vay mượn của người khác, chưa chắc đã phù hợp với bản thân.
  59. Số khổ, số nghèo cũng có tính di truyền. Một đứa trẻ không được yêu thương sau này cũng sẽ không biết quan tâm đến con cái của mình. Người cha nghèo và người cha giàu dạy cho con cái của họ những con đường hoàn toàn khác nhau.
  60. Nhật Can là đầu. Nhật Can bị khắc là đầu bị va chạm, bị phá tướng, tinh thần có vấn đề v.v…
  61. Dự đoán thông tin chính là việc tổ hợp các điểm Tượng thành một hành động liền mạch, giống như kết hợp từng đoạn phim thành một bộ phim hoạt hình. Một Tượng thực ra là sự kết hợp của nhiều Tượng; chỉ xem xét một điểm Tượng để định sự việc thì chắc chắn không chính xác.
  62. Bất kỳ Thập Thần nào tọa dưới Nhật Can trong Lưu Niên đều đại diện cho sự việc, nhân vật có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, tinh thần của Nhật chủ trong năm đó. Vì vậy, xem xét tâm tính của Nhật chủ là xem xét Thập Thần ở ba vị trí gần nhất xung quanh Nhật Can, vì chúng trực tiếp chi phối đầu óc, tư tưởng của Nhật chủ.
  63. Chính Ấn là một người già, là một ngôi sao hòa giải. Kiêu Ấn là một ngôi sao bị thờ ơ, bị động, đối với mọi việc đều mang thái độ tiêu cực.
  64. Mỗi Lưu Niên xảy ra sự việc lớn đều có một từ khóa; cần phải học cách nắm bắt từ khóa mà Lưu Niên tác động lên mệnh cục.
  65. Thân yếu, Lưu Niên Nhật Can tọa Vượng Khắc (bị hành vượng khắc) thì vạn niệm tro tàn (tuyệt vọng, chán nản).
  66. Bất kỳ bộ phận cơ thể, vật thể, thức ăn nào cũng tương ứng với Can Chi. Ví dụ, đại tràng là Dậu, mắt là Tỵ, cá là Hợi Thủy, gạo nếp là Mùi Thổ, đậu xanh là Ất Mão, bí ngô là Mậu Thổ. Tất cả đều do tác giả phát hiện từ sự tương ứng Can Chi của các vật thể trong Bát Quái. Thân là một tín hiệu tử vong, Tý Thủy là con vịt. Biết những điều này có thể dùng trong việc cải vận Phong Thủy.
  67. Giữa Can Chi của Lưu Niên rốt cuộc có bí mật gì? Ví dụ, Thiên Can chủ về công khai, Địa Chi chủ về bí mật; Thiên Can là động, Địa Chi là tĩnh; Thiên Can đi trước, Địa Chi đi sau.
  68. Nhật Can Thân yếu bị Quan Sát khắc có một phương pháp hóa giải tai họa là thường xuyên rời khỏi nhà đi ra ngoài. Nguyên lý là vị trí của Nhật Can là nhà của Nhật chủ; rời khỏi nhà thì Nhật Can đã di chuyển vị trí, Quan Sát sẽ không khắc được bạn nữa.
  69. Ý nghĩa của Sinh không chỉ đơn giản là yêu thương, thích, cho đi, mà còn mở rộng thành theo đuổi, khao khát, thu hút, mời gọi.
  70. Dụng Thần là thuận cảnh. Kỵ Thần là một loại nghịch cảnh, sự chống đối.
  71. Ngũ vị có thể phối hợp tạo ra những món ăn ngon nhất. Sự phối hợp giữa Ngũ Âm có thể tạo ra những bản nhạc du dương nhất. Ngũ Sắc có thể tổ hợp thành những hoa văn rực rỡ nhất. Tám chữ trong Tứ Trụ tổ hợp lại tạo thành muôn vàn cuộc đời khác nhau.
  72. Quan Sát là một loại nguồn nhân lực, là các mối quan hệ xã giao. Mọi người đều biết người có Quan Sát vượng mà là Dụng Thần, bất kể nam nữ, đều có khả năng giao tiếp, ứng xử, giải quyết công việc tốt. Quan khí thông thân thể hiện mạng lưới quan hệ rộng rãi. Quan Sát là Dụng Thần vì có người nghe theo họ, phục tùng họ, nên họ là hoàng đế, lãnh đạo, lãnh tụ, vĩ nhân, người có khả năng quy tụ lòng người.
  73. Có Ấn vượng kề sát thân làm Dụng Thần cho thấy cha mẹ rất coi trọng bạn trong lòng, quan tâm đến bạn.
  74. Hóa ra Ấn cũng là khả năng hiểu biết. Thiếu Ấn cho thấy khả năng hiểu biết kém.
  75. Người Thân yếu dùng Ấn để thông quan (hóa giải sự khắc chế) thường không có tính chủ quan mạnh mẽ, biết quan tâm đến cảm xúc của người khác. Đặc biệt người mang Kiêu Ấn xử thế rất nhạy cảm, quan sát tinh tế, hiểu và nắm bắt được tâm lý của bạn bè.
  76. Một nhà Dịch học có thể sánh ngang với một vĩ nhân. Sở hữu Dịch học là sở hữu cả trời đất. Một nhà Dịch học giỏi có thể cứu rỗi linh hồn con người.
  77. Dịch học cho bạn biết một loại trí tuệ vĩ đại và sâu sắc; cho bạn biết rằng sở dĩ hiện tại bạn nghèo khó, khổ cực, bệnh tật, tai họa đều là do nghiệp chướng từ tiền kiếp và nhân sinh quan sai lầm của bạn ở kiếp này gây ra.
  78. Vũ trụ là một môn học về sự cân bằng; tất cả đều trung hòa là trạng thái tốt nhất.
  79. Ông trời thương người ngốc; khi bạn mất đi thứ bạn không thể mất, ông trời cũng đồng thời sẽ trao cho bạn thứ quý giá nhất trên thế gian này.
  80. Nguyên lý học thuật về sự cân bằng có thể tìm thấy manh mối ngay trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tại sao những người ăn rau củ quả thường có chỉ số IQ cao hơn những người ăn thịt, trong khi giá trị tài sản của nhóm người ăn thịt lại vượt xa nhóm người ăn chay? Lòng bàn tay của người ăn chay thường phẳng, hơi xanh; tướng tay như vậy là tướng nghèo. Lòng bàn tay của người ăn thịt thường hồng hào và đầy đặn. Không biết mọi người có từng quan sát lòng bàn tay của những người giàu có chưa, bản thân tôi thực sự phát hiện ra rằng lòng bàn tay của những người giàu có này đều dày và đầy đặn. Có thể thấy, bí ẩn vũ trụ về việc “cá và chân gấu không thể có được cả hai” chính là nguyên lý cân bằng rằng mọi việc trên đời khó có thể vẹn toàn.
  81. Những người ở tầng lớp khác nhau đi trên những quỹ đạo cuộc đời khác nhau. Giống như người nghèo không có tiền chuyển nhà nên mãi mãi sống ở những khu vực khiến họ không thể phát triển được; điều này đã định sẵn số phận của họ.
  82. Những kẻ trộm cắp, côn đồ ngoài xã hội phần nhiều mang tâm tính của Kiêu Ấn: phản ứng nhanh nhạy, có trực giác, khả năng phân tích phán đoán mạnh, ý thức phòng bị cực cao, khả năng lĩnh ngộ tốt, rất hiểu chuyện.
  83. Chính Ấn cả đời lo lắng cho người khác, sống vì người khác. Ấn đại diện cho sự vất vả, cực nhọc, sống mệt mỏi. Chính Ấn là Dụng Thần chủ về vui vẻ, là Kỵ Thần chủ về phiền muộn; đây là hệ thống tư duy.
  84. Tinh hoa của việc học Lưu Niên là kết hợp lấy Tượng từ Ngũ Hành, tính chất, Thập Thần, Thần Sát, Cung Vị. Đây là chiếc chìa khóa vàng để mở ra cánh cửa ứng nghiệm sự việc trong Lưu Niên.
  85. Bát Tự thuần Âm hoặc thuần Dương sẽ có những Tượng Ý nào? Bát Tự thuần Âm hoặc thuần Dương có lực sinh khắc của cùng một tính chất rất lớn, do đó vận mệnh thăng trầm lớn, ứng nghiệm cát hung rất rõ ràng.
  86. Bát Tự thuần Âm thích những sự vật huyền bí, có duyên với Dịch học. Có Tượng cô quả, dễ đi vào cửa Không (tu hành).
  87. Người có Dụng Thần bị hành vượng khắc thì chiều cao tất yếu sẽ thấp.
  88. Làm thế nào để xem xét sự việc cát hung của Lục Thân? Dùng nguyên lý chuyển đổi tọa độ, thông qua sự biến thông của sao Lục Thân để xem. Ví dụ, Nhật Can là Kỷ, Nhâm Thủy Chính Tài là sao cha. Bính Hỏa Chính Ấn của Kỷ chính là Thiên Tài của Nhâm Thủy. Giáp Mộc Chính Quan của Kỷ sẽ chuyển đổi thành Thực Thần của Nhâm Thủy để xem xét tổ hợp Thập Thần trong Lưu Niên.
  89. Bát Tự phản ánh bản thân là thông tin thứ nhất, phản ánh Lục Thân là thông tin thứ hai, tương đối mơ hồ hơn. Nguyên lý biến thông Lục Thân chính là chuyển đổi thông tin thứ hai thành thông tin thứ nhất để xem xét.
  90. Nhật Can tọa Tỷ Kiếp (là Kỵ Thần) thì vợ chồng hay cãi vã, khẩu thiệt. Tỷ Kiếp là tranh giành, tức là tranh giành cả đời.
  91. Nữ mệnh Nhật tọa Thương Thực, nam mệnh Nhật tọa Tỷ Kiếp, vợ chồng cả đời dễ có hiện tượng sinh ly tử biệt.
  92. Nhật Chi tọa Tỷ Kiếp là Dụng Thần, Đại Vận Phục Ngâm cung Phu Thê, nam mệnh lấy vợ giàu, nữ mệnh lấy chồng giàu.
  93. Nhật Chi tọa Tỷ Kiếp là Hỷ Thần, bạn bè thân thiết, tri kỷ với bản thân.
  94. Nhật Chi là thế giới nội tâm của Nhật chủ. Tuế Vận Phục Ngâm ở Nhật Chi, nếu là Hỷ Thần thì vui vẻ, cười nói; nếu là Kỵ Thần thì trong lòng đau khổ, khóc lóc, ứng với ngày chết.
  95. Xét riêng Can Chi của ngày, Nhật Can là đầu, Nhật Chi là chân. Vì vậy, Nhật Chi gặp Dịch Mã Xung thường dễ bị trượt chân hoặc ngã, đứng không vững.
  96. Quan Sát quá vượng khắc Thân, bất kể là Hỷ hay Kỵ Thần, đều dễ gặp bệnh tật, thương tổn, tai nạn bất ngờ, sợ hãi, té ngã, tàn tật, ung thư.
  97. Toàn Âm là một dạng tự trốn tránh, che giấu, thiên về hướng nội, không thích đến những nơi công cộng, cởi mở.
  98. Kiêu Ấn là Kỵ Thần, bình thường trông có vẻ ít nói, không bộc lộ, nội tâm cô đơn, tĩnh lặng.
  99. Phục Ngâm là Tượng gì? Tuế Vận Phục Ngâm cung Lục Thân thường Lục Thân gặp bệnh tật, thương tổn, phẫu thuật, sinh ly tử biệt. Phục Ngâm cũng có Tượng kết hôn, chuyển nhà, ly hôn, hợp nhất.
  100. Nữ mệnh có Tam Hợp hoặc Hội cục Quan Sát, nam mệnh có Tam Hợp hoặc Hội cục Tài Tinh thường có cảm giác là người tình của công chúng (đào hoa, được nhiều người yêu mến).
  101. Có Căn đại diện cho khả năng độc lập tự chủ. Không có Căn đại diện cho việc gió chiều nào theo chiều ấy, có tư tưởng dựa dẫm vào người khác.
  102. Tài vượng giống cha, Ấn vượng giống mẹ.
  103. Can Chi chính là duyên phận. Can Chi nào đến tức là duyên phận của Can Chi đó đến. Ví dụ, Tài thấu lộ trong Lưu Niên đại diện cho duyên vợ, duyên với phụ nữ đến. Can Chi bị khắc mất trong Lưu Niên tức là duyên phận của Can Chi đó đi mất! Ví dụ, Quan Sát bị khắc mất trong Lưu Niên, duyên với nam giới, duyên chồng sẽ đi, rời xa. Lưu Niên mà Quan tọa trên hành khắc thì duyên đến không giữ được, cũng giống như Lưu Niên Tài tọa trên hành khắc thì tiền đến rồi lại đi, cuối cùng tay trắng.
  104. Đời người đã định sẵn duyên phận sâu hay cạn với những người nào, điều này phụ thuộc vào độ vượng của Can Chi. Can Chi ở gần Nhật Can đại diện cho việc gần gũi với người thân và những người thuộc Can Chi đó.
  105. Thiên Can chủ về những gì từ bên ngoài đến, Địa Chi chủ về những gì quen thuộc, ví dụ như bạn thân. Thiên Can là những gì rõ ràng, Địa Chi là những gì ẩn mật, ví dụ như Ám Quan chủ về yêu thầm.
  106. Tượng của Tài tư dưỡng Quan Sát (Kỵ Thần, vượng) là do nghèo khó mà dẫn đến địa vị thấp kém, không được tôn trọng, ví dụ như gái bao.
  107. Tứ Trụ thể hiện tính chất, bản chất; xét theo tính chất chứ không xét theo con người.
  108. Nói chung, năm thứ hai sau khi kết hôn thường là thời điểm ứng nghiệm sinh con cái, theo lẽ thường.
  109. Hôn tai (tai họa hôn nhân) là Lưu Niên mà mâu thuẫn gay gắt nhất, chứ không phải là thời điểm ứng nghiệm ly hôn.
  110. Người có Kim vượng không yếu đuối.
  111. Ấn chủ về cuộc sống. Ấn tọa ở Nhật Chi chủ về được cung Phu Thê chăm sóc, lo liệu trong cuộc sống. Sát chủ về sự nghiệp. Sát tọa ở Nhật Chi chủ về được cung Phu Thê hỗ trợ, thúc đẩy trong sự nghiệp. Tài chủ về kinh tế. Tài tọa ở Nhật Chi chủ về được cung Phu Thê trợ giúp về kinh tế.
  112. Thất Sát thích hoạt động. Quan Sát là cách ứng xử với người, với việc, là đạo xử thế.
  113. Là Hỷ Dụng Thần chủ về đồng lòng, là Kỵ Thần chủ về không đồng lòng.
  114. Thất Sát (Kỵ Thần) chủ về người ở xa, lớn tuổi, tác phong không đứng đắn, đã kết hôn, không còn là trai tân. Chính Quan chủ về người ở gần, nhỏ tuổi, tác phong đứng đắn, chưa kết hôn.
  115. Thương Quan (Kỵ Thần) thích gây chuyện thị phi, khích bác, hùa theo.
  116. Chỉ cần xem Thập Thần thấu lộ ở Thiên Can của Lưu Niên là biết Nhật chủ sẽ làm gì, vì tư tưởng quyết định hành vi. Thiên Can trực tiếp tác động, chi phối tư tưởng của Nhật chủ.
  117. Xem xét Lưu Niên, mấu chốt là xem: a. Tam Hợp, Tam Hội cục. b. Ngũ Hành yếu nhất và Ngũ Hành vượng nhất. c. Kình Dương vượng, Kình Dương cục. d. Một sao nào đó nhập Mộ, hoặc gặp Không Vong. e. Quan Sát vượng. f. Xung, Trực (trùng) cung Phu Thê. g. Thương Quan khắc Quan.
  118. Quan Sát có nghĩa là danh tiếng (tiếng xấu hoặc tiếng tốt), vinh dự hoặc nhục nhã, có được tôn trọng hay không, v.v…
  119. Thương Quan thích chơi ác, trêu chọc người khác, tìm thú vui.
  120. Mật mã của Phong Thủy là trông giống cái gì thì chính là cái đó.
  121. Chính Ấn là tình thân. Chính Ấn thân thiết với mọi người, không xa lánh ai. Dễ đi vào lòng người khác, nên Chính Ấn là sức hút, sự thân thiện.
  122. Thi cử đỗ đạt phần nhiều vào năm Chính Ấn.
  123. Khắc mất một Thập Thần nào đó, bạn sẽ mất đi duyên phận với nhóm người và sự việc mà Thập Thần đó đại diện.
  124. Quan Sát (Kỵ Thần) là tà khí. Nhật Can bị Quan Sát khắc, tà khí này sẽ lôi kéo, ảnh hưởng đến tư tưởng của mệnh chủ, khiến mệnh chủ trở thành người xấu, trở nên tà ác giống như loại khí đó.
  125. Ấn là nguồn cảm hứng bất tận. Thiếu Ấn (Dụng Thần) thì thiếu ý tưởng, tư duy không linh hoạt. Người có Ấn vượng thì thông minh, lanh lợi. Biểu hiện của việc thiếu Ấn là tư duy bế tắc, không thông suốt, không tiếp xúc với thông tin, sự vật mới mẻ; não bộ thường làm việc mà không qua suy nghĩ, ít dùng não, ít phân tích nên trở nên không biết gì, bế tắc không thông. Sử dụng tư duy là quá trình làm cho bản thân vui vẻ; không dùng não thì cuộc sống trở nên vô vị, tâm trạng u uất. Chỉ khi suy nghĩ thì mỗi ngày mới trở nên thú vị, vui vẻ, cũng không cảm thấy cô đơn. Chỉ người hiểu cuộc đời mới có thể vui vẻ. Phương pháp cải vận tốt nhất cho người thiếu Ấn chính là dùng não.
  126. Tư tưởng là linh hồn của quỹ đạo cuộc đời. Mệnh lý là một môn học về quỹ đạo của con người. Tư tưởng là điểm xuất phát, quyết định những cuộc gặp gỡ và kết quả trong đời người, quyết định quỹ đạo sinh tồn của con người.
  127. Dụng Thần là chỗ dựa để Nhật chủ sinh tồn trên đời.
  128. Thiên Tài thấu Can không thiếu tiền tiêu.
  129. Tài vượng là Kỵ Thần thì bị cha làm liên lụy, tiêu tiền cho cha, trả nợ thay cha, v.v…
  130. Vận Tỷ Kiếp thì ly hôn, đoạn tuyệt quan hệ với cha.
  131. Tỷ Kiếp tọa cung Phu Thê, cả đời sẽ cùng chồng (vợ) hợp tác khởi nghiệp.
  132. Ấn kề sát thân làm Dụng Thần chủ về vui vẻ.
  133. Thủy là vật lạnh lẽo. Người có Thủy vượng cho cảm giác lạnh lùng, có mặt tối, tương tự như Kiêu.
  134. Người có Căn mạnh thì tính cách kiêu ngạo, coi trọng lòng tự trọng, tự tin, độc lập tự chủ, không dựa dẫm. Ngược lại, người theo Tòng Cách thì khúm núm, ngọt ngào, toàn nói lời hay ý đẹp, có tướng không đứng thẳng lưng được, không thể tự lập.
  135. Hỏa và của cải có mối quan hệ kỳ diệu. Nguyên tố Sắt chính là của cải. (Lưu ý: Cách giải thích này có thể mang tính cá nhân của tác giả, không phổ biến trong mệnh lý truyền thống).
  136. Sao Lục Thân là Hỷ Dụng Thần thì người thân có phẩm chất tốt. Sao Lục Thân là Kỵ Thần thì người thân có phẩm chất xấu.
  137. Trong Thập Thần, Quan Sát là có uy lực nhất. Giống như Thương Quan khắc Quan, trong thực tế có rất nhiều tai họa lớn; có lẽ là do Quan không thể bị tổn thương, tổn thương sẽ phạm vào uy nghiêm của Quan.
  138. Tài Tinh thực dụng, trần tục.
  139. Kình Dương chủ về đánh nhau, phạm pháp.
  140. Lưu Niên Ấn bị khắc nặng, ở lại đơn vị, công ty sẽ chịu áp lực lớn.
  141. Tài hợp Nhật Can, nói chuyện tiền bạc dễ làm tổn thương tình cảm.
  142. Bát Quái dùng để đoán những việc nhỏ, việc gần thì có mối quan hệ tương ứng duy nhất. Bát Tự không phải là mối quan hệ tương ứng duy nhất; một Thập Thần đồng thời tương ứng với nhiều sự việc và con người. Ví dụ, Lưu Niên Nhật Can tọa Sát (Sát = Kỵ Thần) xảy ra một loạt sự việc: do vợ chồng không hòa thuận, người nhà bên vợ đánh nhau với mệnh chủ, ly hôn, làm mất điện thoại, xe đạp mới mua bị trộm – tất cả đều là hiện tượng thực tế do Sát khắc Thân gây ra. Đây chính là lý do khiến việc học mệnh lý khó khăn.
  143. Mô hình mệnh lý không phải là mối quan hệ tương ứng duy nhất cũng giải thích tại sao cùng một Bát Tự lại có những kết quả khác nhau. Cùng một tổ hợp Thập Thần trong Lưu Niên có thể tạo ra nhiều Tượng khác nhau.
  144. Kiêu Ấn bảo thủ, bi quan, chán đời.
  145. Sát thấu lộ (Kỵ Thần) không vui, nhiều mâu thuẫn với cấp trên.
  146. Thiên Tài kiếm tiền không tốn nhiều công sức.
  147. Kiêu làm mẹ là người mẹ có trái tim lạnh lùng. Ấn làm mẹ là người mẹ có trách nhiệm, chịu khó, hay cho đi.
  148. Quan Sát (Kỵ Thần) là khí của tội ác, nó là một kẻ giết người. Bị tư tưởng tà ác tấn công, thay đổi, ảnh hưởng mà nảy sinh ý nghĩ xấu xa. Vì không có thiện niệm mà cuối cùng rơi vào địa ngục trần gian là chuyện không hiếm. Chỉ có ảnh hưởng của Thiện, sự dẫn dắt của Chính Khí, cắt đứt tà niệm mới tốt, nếu không sẽ bước vào quỹ đạo của địa ngục. Quan Sát là sự dơ bẩn, trọc khí; cần phải chống lại loại vật chất này, giữ cho tâm hồn trong sạch, không tà niệm, trang nghiêm để giải cứu bản thân. Quan Sát đưa bạn đến địa ngục, hủy hoại phương hướng của bạn, vì Quan Sát khắc Nhật chủ, tất yếu là sự dẫn dắt đến hủy diệt. Tại sao nó luôn khiến người ta nảy sinh ý nghĩ tự tử? Những điều này đều đáng để chúng ta suy ngẫm kỹ; nó khiến người ta có ý nghĩ hủy diệt, không phải bản thân thì là người khác.
  149. Thực Thương, Ấn Kiêu có học vấn cao, dễ tiếp thu, khai khiếu nhanh; đây chính là cái gọi là thiên phú. Thiếu Ấn, Thực Thương thì việc học hành, danh tiếng phải do khổ luyện mà có.
  150. Thất Sát là bạo lực, đổ máu. Tính khí của Thất Sát dễ gây ra chuyện lớn, gây ra tai họa lớn, sự kiện đổ máu, v.v…
  151. Tầm nhìn xa của Thương Quan.
  152. Bạn làm việc thiện, vị Bồ Tát cứu giúp bạn hóa ra chính là bản thân bạn. Tôi nhờ đó mà đọc được sự rộng lớn của tấm lòng Thiên Đạo; đây thực ra chỉ là quy luật tuần hoàn.
  153. Thổ tính có tính chất truyền thống; nó muốn giữ nguyên trạng thái ban đầu, không thay đổi.
  154. Quan Sát khắc Nhật Can là sự giày vò, nhiều trắc trở. Người lao động chân tay nặng nhọc thường có Quan Sát.
  155. Quan Sát là địa vị xã hội, là tầng lớp sống của một người.
  156. Nhật Chi Phục Ngâm là Hỷ Thần, gặp được người mình yêu thích. Vị trí này vốn dĩ là tình yêu, hôn nhân. Phục Ngâm = xuất hiện, đại diện cho việc trong lòng sẽ xuất hiện người mình thích.
  157. Lưu Niên Nhật Can tọa trên hành khắc thì thân hình gầy gò, ốm đói.
  158. Ấn vượng (Dụng Thần) đầu óc thông minh, là “thức ăn tinh thần” của não bộ rất phong phú, mở rộng tầm mắt.
  159. Quan Sát khắc Thân dễ bị mất mặt, xấu hổ.
  160. Sao Lục Thân cách xa Nhật Can, hoặc là ở xa nhau, hoặc là khoảng cách tâm lý xa xôi.
  161. Kiêu Ấn (Kỵ Thần) ở vị trí Nhật Chi, nội tâm có cảm xúc cô đơn, chán đời, nảy sinh ý định tự tử.
  162. Kiêu thích nghiên cứu những điều mộng báo, cũng thích đọc mệnh lý, có ý thức siêu trước.
  163. Kiêu thực tế và thiết thực, đối với người thân cũng phân chia tiền bạc rất rõ ràng, cho rằng tiền bạc là thứ cố hữu, sâu sắc nhất.
  164. Quan Sát là Hỷ Dụng Thần trông có khí chất, trên người toát ra một vẻ quý phái. Quan Sát là người có thể diện.
  165. Thực Thần hiểu biết về các mối quan hệ xã giao, xuất sắc trong giao tiếp, được nhiều người yêu mến, có duyên với mọi người. Xây dựng nguồn khách hàng thông qua mạng lưới quan hệ xã giao rộng rãi.
  166. Ở những giai đoạn tuổi tác khác nhau, Thập Thần có những hình thức thể hiện khác nhau.
  167. Bính Ấn (Bính Hỏa là Ấn) tỏa ánh sáng và hơi ấm của mình một cách vô tư cho trời đất, là để sưởi ấm lòng người thế gian. Sự lạnh lẽo khiến lòng người trở nên lạnh lùng, ít tình cảm, còn ánh sáng và hơi ấm khiến lòng người trở nên chính khí, rạng rỡ, hòa nhã.
  168. Nếu trong thế giới tăm tối mà bạn nhìn thấy ánh sáng, điều đó cho thấy bạn là người của thiên đường. Nếu trong bóng tối bạn chỉ nhìn thấy bóng tối, bạn cũng đã thấy rõ mình có đủ tư cách để đến thiên đường hay không.
  169. Sự mạnh yếu của con người chẳng qua là do Khí chi phối. Khí thịnh thì người mạnh. Mạnh yếu không phải do con người làm chủ, mà là sự đối kháng giữa thịnh suy của Khí. Một người được ban cho khí cơ hưng vượng, cho dù là một đứa trẻ, cũng là hoàng đế.
  170. Nếu dùng con mắt của kẻ phàm tục để xem mệnh lý thì không phải là người có tố chất học mệnh lý.
  171. Mệnh lý không phải là dùng trái tim của kẻ phàm tục để nhìn thế giới, mà là một môn học thoát tục.
  172. Quẻ, Can Chi của Lưu Niên mô phỏng một loại trạng thái. Ví dụ như nước chảy, làm thế nào nó mô phỏng trạng thái nước chảy? Hoặc ví dụ mệnh chủ một năm nào đó đi nơi khác phẫu thuật mắt (bong võng mạc), Lưu Niên làm thế nào thông qua Can Chi để mô phỏng trạng thái này?
  173. Quan Sát có hình dạng một vòng tròn, giống như nhà tù, chất độc (độc là sinh vật ăn dinh dưỡng của chính mình, là một cái miệng), khẩu thiệt, cạm bẫy, ung thư (là ba cái miệng ăn dinh dưỡng của chính mình), bị chiếm tiện nghi (như quấy rối tình dục, cưỡng hiếp), v.v…
  174. Ngũ Hành đại diện cho các loại người: Kim chủ về pháp luật là cảnh sát. Thủy chủ về kinh tế là thương nhân. Mộc chủ về nhân từ là hòa thượng, người tin Phật. Thổ chủ về nuôi dưỡng là giáo viên. Hỏa chủ về văn minh là học giả.
  175. Sửu (trâu) thuộc cung Cấn (Dần, Sửu ở cung Cấn). Cấn là Bát Bạch Tả Phụ, sao đại tài tinh, nên ăn thịt bò là hấp thu khí của sao tài.
  176. Thủy là thứ giả dối, có ý nghĩa của tiểu nhân.
  177. Mệnh tạo có Canh, Tân Kim hư thấu (không có gốc mạnh, bất kể Hỷ Kỵ), năm Kim gặp Căn mạnh dễ mắc bệnh về đường hô hấp.
  178. Hợp có đặc điểm khéo léo, uyển chuyển, vì Hợp đại diện cho đường cong, vòng tay ôm lấy; đã có thể ôm thì sẽ tròn.
  179. Sát vượng liên quan đến bệnh nan y. Kiêu thì giỏi lừa gạt, giỏi kinh doanh.
  180. Có một lối tư duy thông minh là làm một việc với nhiều động cơ và mục đích; kết quả là cho dù một phương diện nào đó thất bại, thì ở phương diện khác cũng sẽ có thu hoạch.
  181. Nhật Can hơi yếu bị Quan Sát khắc thì đầu óc choáng váng.
  182. Để nhiều đồ đạc linh tinh thì người trở nên ngốc nghếch, vì đồ đạc linh tinh thuộc Thổ; Thổ nhiều thì đầu óc không linh hoạt, dễ sinh bệnh.
  183. Thực Thương có ý nghĩa là mới, chủ về diện mạo và khí tượng mới. Lưu Niên Thực Thương kết hợp với Ấn Tinh đại diện cho phương diện Ấn có sự thay đổi, đổi mới, cập nhật, bỏ cũ đổi mới. Điều này liên quan đến tâm tính của Thực Thương là thích những điều mới mẻ.
  184. Tâm tính của Thực Thương là tò mò, ham thích sự mới mẻ, thích thay đổi, bao gồm bạn gái, nơi ở, công việc, v.v…
  185. Hợp là một Tượng Ý chủ động, tình nguyện đi tìm, cho đi.
  186. Kiếp Tài hiếu chiến, thích đánh nhau.
  187. Căn hợp với sao Phu Thê có Tượng giao hợp, vì Căn Khí đại diện cho cơ thể của một người; dùng cơ thể để tiếp xúc chính là giao hợp.
  188. Lưu Niên Tỷ Kiếp tọa trên Quan Sát đại diện cho việc tan rã với đối tác làm ăn, hợp tác gặp áp lực.
  189. Kiêu Thần có thủ đoạn.
  190. Ấn không xuất hiện hoặc không kề sát thân = cha mẹ mất lòng tin, không còn coi trọng mình.
  191. Ấn kề sát sinh thân = cha mẹ không bao giờ rời bỏ mình, luôn lo lắng không yên.
  192. Địa Chi mang cả tính Âm và Dương (ví dụ Tý vừa là Dương Thủy vừa tàng Quý Âm Thủy) = trong lòng không thật thà, hay thay đổi, có hai mặt, không đơn thuần, không thực tế, đối xử hai mặt với mọi người.
  193. Thủy là vật lừa dối, nói dối.
  194. Thông Quan = giao thiệp, liên lạc.
  195. Lưu Niên tốt mà Lưu Nguyệt năng lượng quá lớn cũng không cát tường.
  196. Can Chi Quý Dậu (lấy Thủy làm Kỵ Thần) đại diện cho cảm cúm, chảy nước mũi, viêm mũi, ho, khạc đờm do nhiễm lạnh, dẫn đến viêm mũi, v.v…
  197. Phục Ngâm Nhật Chi (Kỵ Thần) là tín hiệu tử vong.
  198. Kình Dương là Hỷ Thần chủ về kết hôn, thăng tiến học hành, tăng chức, ứng với điềm vui.
  199. Mộc vượng là Kỵ Thần và Quan Sát (Kỵ Thần) khắc Nhật Can đều chủ về đau răng (răng = dây thần kinh).
  200. Ngọ Kình Dương, Thương Quan khắc Quan bằng Kim, Thương Quan bằng Kim khắc Quan dễ bị tai nạn xe cộ.
  201. Chính Ấn chủ về lôi thôi, phiền phức, bận tâm, mệt mỏi, bận rộn.
  202. Nhật Can bị khắc dễ bị bệnh tâm thần.
  203. Tòng Cách giỏi tạo dựng mối quan hệ.
  204. Thực Thương = tìm cửa, mưu cầu phát triển, dự tính.
  205. Độ vượng = mức độ đầu tư, đã bỏ ra bao nhiêu nỗ lực và tâm huyết, ham muốn mạnh hay yếu.
  206. Liên tục tương sinh là mạng lưới quan hệ.
  207. Ấn là một loại năng lực liên lạc.
  208. Vượng Suy có thể định ra những Tượng khác nhau.
  209. Bất kể một người đi đến đâu, xung quanh họ đều phân bố trạng thái trường năng lượng mà bản thân họ mang theo.
  210. Quan Sát đến khắc bạn, muốn lấy đi đồ của bạn, là vì món nợ từ nhiều kiếp trước phải trả. Nếu bạn không chủ động cho đi, sám hối, thì phần còn lại là chờ người khác đến lấy; lúc đó tai họa ứng nghiệm sẽ đến rất lớn và hung猛. Vì vậy, người này không nên ích kỷ, nên chủ động giúp đỡ người khác. Bởi vì Quan Sát là khí không chính đáng, nên rộng kết duyên lành là một phương pháp chủ động giải tai, cứu giúp bản thân.
  211. Huyền Vũ chính là tư tưởng không chắc chắn, mờ mịt.
  212. Lưu Niên Phục Ngâm cung Phu Thê là Kỵ Thần, vợ chồng nhiều người phải phẫu thuật.
  213. Tổ hợp Thập Thần Thực Thương sinh Tài trong Lưu Niên đại diện cho việc phải suy nghĩ nhiều, nhiều ý tưởng để cầu tài.
  214. Quan Sát là Kỵ Thần thì bôn ba vất vả, làm việc vô ích, có người nhìn bạn không thuận mắt.
  215. Thiên Can thấu lộ chủ về người ở xa, người từ nơi khác đến, người quen qua mạng.
  216. Quan Sát là Dụng Thần chủ về được người khác giới yêu mến, đối phương sẽ tốt với bạn, cấp trên đánh giá cao. Quan Sát là Kỵ Thần thì phiền não vì chuyện tình cảm khác giới, khối lượng công việc tăng, ngủ muộn nhiều.
  217. Thất Sát là người lớn tuổi hơn, tác phong không đứng đắn, không thật thà lắm, người không lương thiện, đã kết hôn, không còn là trai tân. Sát là Dụng Thần, duyên khác giới gặp được rất phù hợp với tiêu chuẩn chọn bạn đời của bạn nhưng không thể kết hợp với bạn (ví dụ đối phương đã có gia đình). Sát là Kỵ Thần, bị những người đàn ông không tốt làm phiền, dọa nạt, v.v…
  218. Quan Sát là Kỵ Thần chủ về bị người khác vu oan, nói năng đụng chạm người khác, phạm tiểu nhân, xảy ra khẩu thiệt với người khác, thị phi kiện tụng, chuyện buồn phiền đau lòng, rơi nước mắt.
  219. Quan Sát bị khắc mất, đề phòng bị bạn trai bỏ rơi. Người chưa kết hôn sẽ phát hiện bạn trai quen biết có nhiều khuyết điểm, thói quen xấu; sẽ cảm thấy đối phương không hợp với mình, cho rằng không phải là đối tượng lý tưởng của mình. Người đã kết hôn thì có suy nghĩ cho rằng chồng mình không có tiền đồ, không có bản lĩnh.
  220. Thực Thương sinh Tài ở trụ Năm Tháng thì chi tiêu trong gia đình, mua sắm tốn kém nhiều.
  221. Tài khắc Ấn, cha mẹ cần chú ý sức khỏe. Tổ hợp Tài Ấn có cơ hội chi tiền mua tài liệu, đồ dùng học tập.
  222. Quan Sát thấu lộ là Hỷ Dụng Thần thì công việc tiến triển, cấp trên đánh giá cao, thăng chức, giao tiếp với quý nhân, nâng cao danh tiếng, được khen thưởng, v.v…
  223. Quan Sát chủ về bị phê bình (hoặc được khen ngợi), tâm lý không cân bằng, vô cớ gặp thị phi.
  224. Địa Chi chủ về những người ở trong đơn vị, ở gần.
  225. Năm Ấn chủ về ra ngoài cầu học, có cơ hội thay đổi môi trường sống, nơi ở, vị trí công việc; thích đọc sách, học tập. Kiêu chủ về các môn học thiên về hướng không chính thống (偏门).
  226. Tỷ Kiếp thấu lộ có xu hướng giao du rộng rãi, bạn bè khách hàng qua lại nhiều.
  227. Ở Địa Chi chủ về mối quan hệ không rõ ràng, phần nhiều là yêu thầm.
  228. Tổ hợp Ấn Kiêu và Thực Thương, chắc chắn một trong ba thứ: gia đình, đơn vị công tác (trường học), nơi ở sẽ có sự thay đổi.
  229. Thực Thương chủ về kén chọn trong việc tìm bạn đời, hay cằn nhằn bạn trai, thích đọc sách học tập, thích ca hát.
  230. Có tác dụng đối với Nhật Can tức là có cảm ứng với Nhật chủ. Thập Thần thấu lộ ở Thiên Can trực tiếp cảm ứng đến Nhật chủ; nếu không ở gần Nhật Can thì không tồn tại cảm ứng.
  231. Tài thấu lộ thì tâm cầu tài tha thiết, chi tiêu tốn kém nhiều, có niềm vui bất ngờ về tài vật, cũng dễ phiền não vì chuyện tiền bạc, chuyện của cha mẹ, áp lực kinh tế gia đình lớn.
  232. Tàng ở Địa Chi chủ về qua lại thân thiết. Tài tọa trên Tỷ Kiếp, không cho người khác vay tiền thì cũng bị người khác vay tiền.
  233. Thất Sát là Kỵ Thần có tính chất lừa dối, Chính Quan thì không.
  234. Quan Sát chủ về bị mắng, bị phê bình nhiều, gia giáo nghiêm khắc.
  235. Lưu Niên Tài khắc Ấn, cha mẹ ly dị, ly thân.
  236. Thương Quan khắc Quan, bất mãn với cấp trên trong đơn vị, với cơ quan quản lý, tâm lý không cân bằng.
  237. Thực Thương thấu lộ, nhiều kế hoạch, suy tính.
  238. Kiêu chủ về các môn kỳ thuật, dị thuật (như bùa chú pháp thuật, các môn học không chính thống, v.v…).
  239. Tài tọa trên Tỷ Kiếp, trong tình yêu có đối thủ cạnh tranh, kết giao với bạn xấu (bị bạn bè làm liên lụy), không ít trường hợp cùng bạn bè ra ngoài ăn chơi trác táng.
  240. Thực Thương sinh Tài là Kỵ Thần thì đầu tư hao tài, cũng tìm mọi cách để làm vui lòng bạn gái.
  241. Thương Quan vượng thì có ý nghĩ lệch lạc, tâm thuật bất chính.
  242. Đằng Xà (trong Lục Thú) chủ về hoảng sợ. Quan Quỷ (trong Lục Thú) chủ về lo lắng, sợ hãi. Quan và Quỷ đều là người và sự vật khiến người ta sợ hãi.
  243. Hình thức phản ánh của mệnh lý Bát Tự không giống nhau, nhưng thực ra đều cùng một nguyên lý. Ví dụ, Quan Sát khắc Thân phản ánh ở các Lưu Niên khác nhau sẽ có những hình thức khác nhau.
  244. Con người chỉ cần cho đi một chút, cả thế giới đều là của bạn. Bạn xem, quýt trên trời, dưa quả dưới đất đều là ưu đãi của trời đất dành cho con người. Con người trên thế gian này là được hưởng lợi nhiều nhất. Trời đất chỉ muốn con người cho đi lẫn nhau, nuôi dưỡng lẫn nhau mà thôi; như vậy thế giới tuần hoàn của chúng ta mới có thể hài hòa.
  245. Thực ra cuộc sống vốn nhạt nhẽo vô vị, chỉ vì có tình yêu mới trở nên phong phú.
  246. Cùng một Bát Tự, cùng một Lưu Niên, tổ hợp Can Chi Thập Thần có thể tạo ra nhiều loại Tượng khác nhau. Có trường hợp ứng nghiệm một trong số đó, có trường hợp nhiều tình huống đều ứng nghiệm.
  247. Thực Thương chủ động. Thương Quan không cầu tài theo đường chính, mà theo đường tà, ý nghĩ lệch lạc, không đi đường ngay lẽ phải, là người xấu, hay có ý đồ xấu với người khác.
  248. Người ta đều nói đời người là một chữ Duyên. Duyên là gì? Nhìn từ góc độ mệnh lý, năng lượng Can Chi chính là cái mà chúng ta gọi là Duyên. Năng lượng Ngũ Hành của Can Chi tạo ra từ trường kéo theo duyên phận. Mang một loại Can Chi Thập Thần nào đó thì cả đời sẽ kết duyên với một loại người, sự việc, vật chất nào đó. Không có Can Chi Thập Thần đó (đặc biệt khi là Dụng Thần) thì duyên phận mỏng.
  249. Duyên phận học Dịch là gì? Chính là độ lớn năng lượng của Thực Thương, Ấn Kiêu, Hoa Cái, Thái Cực. Lượng lớn thì duyên sâu, lượng nhỏ thì duyên cạn.
  250. Mang một loại Dụng Thần nào đó thì có một loại năng lượng nào đó nên được hưởng lợi từ nó. Không có một loại năng lượng nào đó nên không được hưởng lợi từ nó. Dụng Thần đều là cứu người vào những lúc then chốt.
  251. Quan Sát đại diện cho việc gài bẫy bạn; hình dạng của nó là một vòng tròn, những người, sự vật có tính chất giống vòng tròn đến khắc bạn, ví dụ như miệng (khẩu thiệt), nhà tù, chất độc (độc chính là miệng), cạm bẫy.
  252. Tượng đến từ tính chất; có tính chất nào thì sẽ tương ứng với hiện tượng thực tế đó. Ví dụ, tính chất của Thực Thương là biểu đạt bằng lời nói, trưng bày, biểu diễn, tương ứng với các nghề nghiệp thực tế như giáo viên, luật sư, v.v… Tượng tương ứng không phải là một loại hình cố định.
  253. Thủy vượng thích hợp học Dịch, vì Âm khí nặng, huyền bí, thích sự thần bí. Bát Tự toàn Âm cũng thích hợp học Dịch. Âm khí càng nặng thì càng có thể nhìn thấy những hiện tượng vô hình (người bình thường không nhìn thấy được), có chức năng siêu trước, nên thích hợp với nghề dự đoán thông tin.
  254. Bí quyết đặt tên mấu chốt là phải tăng lực cho Dụng Thần thực tế đã xuất hiện trong mệnh cục. Dụng Thần hư (không có gốc hoặc bị khắc) không thể tăng lực cho các chữ trong mệnh cục; cho dù có vượng cũng không nhập cục, nên vẫn là Nhàn Thần.
  255. Tôi cuối cùng cũng hiểu tại sao tu Phật lại phải niệm kinh rồi. Đó là để gột rửa não bộ và linh hồn của mình, khiến tâm niệm, ý niệm của mình trở nên ngay thẳng, trở về với cái tâm ban đầu nhất, thoát khỏi sự ô uế của bụi trần, tu thành chính quả mà vào được đạo Bồ Tát.
  256. Xem xét Lưu Niên là tìm ra quy luật chung, dùng những nội dung có tính phổ biến, tính khái quát để luận đoán; độ chính xác sẽ cao đến bất ngờ.
  257. Cảnh giới cao nhất của đời người là sự hoàn mỹ. Vì không hoàn mỹ (có thiếu sót) nên nhân gian mới có đủ loại tai họa, tai ương bất ngờ ập đến, không kịp đề phòng.
  258. Phóng sinh chính là đặt mình vào vị trí của người khác, suy bụng ta ra bụng người. Quả báo của việc phóng sinh chính là sự cảm ứng cứu giúp trong lúc nguy cấp.
  259. Kiêu Ấn chính là thần của sự tiêu điều, trộm cắp.
  260. Thương Quan nhiều ý nghĩ ranh ma, quỷ quái.
  261. Chỉ có một Chính Quan thấu lộ hợp thân cho thấy quan niệm tình cảm của mệnh chủ rất đơn thuần, không phức tạp, cả đời gắn bó với chồng, đi đâu cũng có nhau.
  262. Tổ hợp Tài Ấn trong Lưu Niên, nội bộ đơn vị không ổn định, có xu hướng cải cách.
  263. Bát Tự thực ra là một loại xu thế, khuynh hướng chứ không phải là thế cục cố định; là lực hút, sự lôi kéo của từ trường do năng lượng Can Chi phát ra.
  264. Thất nghiệp là do Quan Sát, Ấn Kiêu trong Lưu Niên bị Xung quá mạnh, bị Khắc quá mạnh gây ra; có vấn đề về mức độ vượng suy.
  265. Nữ mệnh Quan Sát vượng là Kỵ Thần khắc Thân, chồng không cần bạn, công việc không cần bạn.
  266. Chính Quan có trách nhiệm với gia đình, rất coi trọng gia đình, bảo thủ, không ngoại tình.
  267. Tỷ Kiếp có khả năng chống chọi mạnh mẽ. Tỷ Kiếp vượng thì độc lập tự chủ, có chủ kiến riêng.
  268. Lưu Niên khắc mất Ấn Tinh, Quan Sát là bất bình, bất mãn với đơn vị, lãnh đạo, cơ quan quản lý. Khắc là một loại cảm xúc bất bình, bất mãn.
  269. Thất nghiệp là tình trạng năng lượng khắc sao công việc (Quan Sát, Ấn) quá lớn, quá mạnh. Đôi khi nhiều sao công việc cùng lúc gặp Xung, tạo ra sự rung chuyển dữ dội, tượng dao động rất không ổn định cũng là mất việc. Nếu nhất định phải đi ngược dòng thì môi trường làm việc thay đổi lớn, số lần thay đổi nhiều.
  270. Kiêu Thần phản ứng nhanh nhạy, nên làm nghề trộm cắp, học mọi thứ nhanh, có thể suy một ra ba.
  271. Thương Quan rất nổi loạn, thích cãi lại người khác.
  272. Chính Ấn là người lo lắng cho bạn.
  273. Quan Phù là Tượng chỉ thể hiện khi Quan Sát vượng. Quan Sát yếu chỉ là chuyện buồn phiền, bị oan uổng, bị bắt nạt.
  274. Quan Sát vượng là Kỵ Thần, giao du với hạng người tà ác, dễ đồng lõa với kẻ xấu, hạng người tà đạo.
  275. Quan khí thông thân, mẹ đứng ra làm mai mối cho chuyện hôn nhân, chồng ở nhà nấu cơm, chăm sóc bản thân.
  276. Thương Quan có mắt nhìn cao, những chàng trai bình thường cô ấy đều coi thường. Sự nghiệp tâm mạnh, thích thể hiện bản thân với người khác, thích khoe khoang, thích sự hào nhoáng.
  277. Nhập Mộ là tài năng không được phát huy và thi triển.
  278. Thực Thương là giáo viên, viết văn, nhà văn.
  279. Thực Thương bị Ấn Tinh khắc chế, đối mặt với một số vấn đề không nói nên lời, rất khó nói, đôi khi có một nỗi khổ khó nói không tên.
  280. Tỷ Kiên là sao phấn đấu.
  281. Thất Sát là một ông chủ.
  282. Chính Ấn là đồ vật lớn.
  283. Phục Ngâm trên Ấn, Kiêu là Kỵ Thần, phiền não chuyện gia đình đến thấu tim.
  284. Kiêu có sức cảm ứng hơn người.
  285. Mệnh lý giải thích trạng thái cuộc đời là một khái niệm mang tính xu hướng, không phải là mối quan hệ cố định một-một, hai-hai; có sự phân biệt rõ ràng về mức độ, đôi khi thậm chí không cảm nhận được. Độ lớn của năng lượng quyết định mức độ nặng nhẹ; người vượng thì biểu hiện cát hung rất rõ ràng, do đó gây ra chuyện lớn. Năng lượng nhỏ thì không có chuyện lớn, ở trạng thái trung bình; đó là một xu thế vượng suy.

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc