1. Nghĩa tượng “lấy Ấn hóa Quan Sát”
Đó là dùng học vấn để giành được danh vọng, dùng tri thức để đạt được lợi ích. Tất nhiên, Ấn không nên quá nhiều, nếu quá nhiều sẽ khiến con người trở nên lười biếng, thiếu ý chí cầu tiến, từ đó làm giảm đi khí chất cao quý. Nữ mệnh nếu Quan tinh quá yếu thì chồng sẽ không có tiền đồ lớn. Quan Sát càng nhiều thì áp lực càng lớn, buộc con người phải không ngừng nỗ lực, cố gắng vươn lên, thành tựu thu được cũng theo đó mà lớn hơn. Cho nên cổ nhân nói:
“Chúng Sát cuồng loạn, một Nhân có thể hóa;
Sát Ấn tương sinh, công danh vượt trội;
Quan Ấn tương sinh, xuất sĩ vang danh;
Lấy Sát hóa Quyền, chắc chắn hiển quý từ hàn môn;
Ấn nặng Quan nhẹ, địa vị thấp hèn;
Ấn nặng Quan nhẹ, ngồi đường chiêu phu;
Kiêu Ấn chồng chất, là phụ nữ ly biệt sinh tử.”
2. Nghĩa tượng “lấy Thực Thương chế Sát”
Dùng Thực Thương chế Sát là lấy trí tuệ khống chế cái ác, dùng kỹ nghệ để đạt được danh lợi. Thất Sát tượng trưng cho bệnh tật, tai họa, tai ương, bạo quân, tiểu nhân, đại diện cho mọi thứ có hại cho ta. Dùng Thực Thương chế Sát chính là hàng long phục hổ, trừ ác bảo thiện, tiêu tai giải nạn. Có các nghĩa tượng như: giết địch lập công, trị bệnh cứu người, biện luận thắng địch. Nếu không chế nổi Thất Sát thì nó sẽ trở thành hiểm họa tấn công ta bất cứ lúc nào. Nếu chế quá mức thì Thất Sát mất đi uy phong vốn có, anh hùng không có đất dụng võ. Chỉ cần Thực Thương vừa đủ chế ngự Thất Sát, thì dù Thất Sát có hơi vượng một chút cũng không sao, mệnh chủ sẽ có thể xuất chúng, làm nên sự nghiệp. Vì vậy mệnh thư có viết:
“Thực Thần chế Sát, anh hùng áp vạn người;
Thực Thần chế Sát, văn chương xuất chúng khi còn trẻ;
Thực Thần chế Sát, áo cơm sung túc;
Thương Quan hữu tình hợp Sát, tên đề bảng vàng là chắc;
Thực cư tiên, Sát cư hậu, cả đời phúc lộc dồi dào;
Sát nhẹ chế nặng, tuy học mà chẳng thành;
Sát nhẹ chế nặng, đến cuối cùng vẫn vất vả;
Sát nặng chế nhẹ, lúc nào cũng gặp hiểm họa;
Thực nặng thì cô đơn goá bụa…”
3. Nghĩa tượng “Thương Quan khắc Quan”
Dùng Thương Quan khắc Quan là hành sự không theo quy tắc, tùy ý làm bậy. Bởi vì Quan đại diện cho quy tắc, pháp luật, chuẩn mực, cho nên Thương Quan khắc Quan nghĩa là phá vỡ trật tự cũ, phủ định quyền uy, lật đổ điều được xã hội công nhận, đề cao sự dị biệt, tự cho mình đúng. Thương Quan là phản nghịch, là cách mạng, là nghịch thiên nghịch đạo. Tất nhiên, hành sự không theo quy củ cũng đồng nghĩa với việc phá cũ lập mới, dễ chuốc họa vào thân, thậm chí ngồi tù, bị chém đầu, cuộc đời nhiều biến động, bôn ba, lao lực. Nữ mệnh có Thương Quan khắc Quan sẽ hay chống đối chồng, không thích bị ràng buộc. Nếu Thương nặng Quan nhẹ thì xem thường chồng, nếu Thương nhẹ Quan nặng thì dễ bị chồng sỉ nhục. Mệnh thư có nói:
“Nam gặp Thương Quan thì phải ngồi tù,
Nữ gặp Thương Quan thì phải tái giá.”
Dĩ nhiên điều này còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể chứ không phải ai cũng vậy. Nếu Thương Quan làm tổn thương hoàn toàn Quan tinh, tức là đạp đổ hết quan lại, thì bản thân sẽ thành người có địa vị cao nhất. Cho nên có câu:
“Thương Quan thương tận, quý không thể tả.”
Nữ mệnh nếu Thương Quan thương tận Quan tinh, cũng sẽ không phóng đãng, mà là người phụ nữ rất tiết hạnh. Nếu gặp vận Tài thì vẫn có chồng vì Tài vượng sinh Quan. Mệnh thư còn nói:
“Thương Quan chưa hết lại gặp Quan, đủ loại tai họa giáng xuống.
Gặp vào tháng xung phụ tử bất toàn, ngày xung chủ thân tàn tật, giờ xung con cái khốn đốn, giàu sang chẳng trọn vẹn.
Nếu Thương Quan cư Thái Tuế, tất có họa bất ngờ trong năm đó.
Thương Quan gặp Quan, hoặc mất chức hoặc mắc trọng bệnh.
Một Quan bị một Thương phá, nhẹ thì phá tài, nặng thì chết sớm.
Thương Quan vốn là thần của tài sản, nếu thương tận thì là đại quý nhân.
Nếu Thương Quan chưa thương tận mà Quan đến vượng, tai họa chẳng nhẹ.
Thương Quan có chí kiêu ngạo vương hầu, thích tranh đấu vượt lên.
Người có Thương Quan thường kiêu ngạo.
Nữ mệnh Thương Quan thì phúc không thực, không Tài không Ấn, giữ cô đơn nghèo khó.
Nhật tọa Thương Quan thì hay mắng chồng.
Thương Quan thương tận thì là nữ tử tiết hạnh liệt nữ…”
4. Ý tượng Tài Tinh khắc Ấn Tinh
Tài là của cải, là vật chất, là thực dụng; Ấn là tri thức, là học vấn, là danh dự, là người dưỡng dục. Tài khắc Ấn, tức là vật chất khắc chế tri thức, lợi ích đè nén đạo đức, thực dụng thắng lý tưởng. Do đó, có tượng ham tài quên nghĩa, vì danh lợi mà từ bỏ chí hướng ban đầu, hoặc vì mưu sinh mà buông bỏ việc học, không trọng người dưỡng dục (cha mẹ, thầy cô).
Tài còn là vợ (trong nam mệnh), Ấn là mẹ, do đó Tài khắc Ấn còn có tượng mẹ con bất hòa, vợ chồng không thuận, hoặc vì bên vợ mà xa lánh bên mẹ. Nếu mệnh không có dụng Ấn mà Tài vượng, thì không lợi cho việc học, hay bỏ dở việc thi cử, cũng có thể do nghèo mà không học được. Nếu ngược lại, Ấn là dụng, mà gặp Tài khắc, thì chủ phá cách, hoặc bị đoạt mất danh dự, thi cử không thành.
Trong nữ mệnh, Tài là bản thân, Ấn là mẹ chồng, là lễ giáo, nên Tài khắc Ấn cũng có thể là không chịu gò bó, không hợp với gia đình chồng, hay trái đạo làm dâu.
Một số câu luận thường gặp:
- Tài nhiều khiến Ấn Thụ bị thương, khắc mẹ, phụ ân.
- Tài nặng phá Ấn, tuổi trẻ học hành khó thành.
- Nữ mệnh Tài vượng khắc Ấn, mẹ chồng nàng dâu bất hòa.
- Trong mệnh kỵ Ấn, gặp Tài chế khắc, là người vì lợi quên nghĩa.
- Tài tinh phá Ấn, tuy giàu nhưng không có danh.
5. Ý tượng Tài Tinh khắc Quan Sát
Tài là của cải, Quan Sát là quyền lực, là luật pháp, là quản lý, là chồng (trong nữ mệnh). Tài khắc Quan Sát, tức là tiền tài làm hư hỏng quan quyền, lợi lộc làm đảo lộn kỷ cương, có ý dùng tiền mà khuynh đảo chính quyền, hoặc vì lợi mà làm trái pháp luật, dám chống lại áp lực bên trên. Cho nên, Tài khắc Quan thường chủ không thuận quan hệ với cấp trên, hoặc không hợp với chồng (trong nữ mệnh), dễ xảy ra mâu thuẫn, không phục tùng.
Trong nam mệnh, Quan là chức vụ, là quyền uy, nên Tài vượng khắc Quan có thể vì ham tiền mà bỏ mất chức, bị liên lụy bởi chuyện tiền bạc. Nhưng nếu mệnh cần Tài, lại gặp Quan yếu, thì chủ kinh doanh thành công, làm ăn tự do, không bị kềm chế.
Trong nữ mệnh, Tài là bản thân, Quan là chồng, nên Tài khắc Quan là người phụ nữ mạnh mẽ, không chịu phục tùng chồng, dễ gây mâu thuẫn, cãi vã hoặc khắc phu. Nếu Quan tinh là dụng, mà Tài đến phá, thì tình cảm dễ trục trặc.
Một số khẩu quyết thường thấy:
- Tài nặng phá Quan, danh lợi đều mất.
- Nữ mệnh Tài nhiều, ứng nghiệm khắc phu.
- Tài có thể chế Sát, là người quyết đoán.
- Tài phá Quan tinh, mưu mô xảo quyệt.
- Tài nhiều không thấy Quan, mệnh làm thương nhân.
6. Ý tượng Tài Tinh khắc Tỷ Kiếp
Tài là của cải, Tỷ Kiếp là anh em, bạn bè, cũng là kẻ tranh đoạt. Tài khắc Tỷ Kiếp, tức là vì giữ của mà đề phòng người thân, hoặc vì tiền mà sinh mâu thuẫn với người quen. Tỷ Kiếp vốn có tượng đoạt tài, nếu Tài vượng khắc lại Tỷ Kiếp thì là người biết giữ của, đề phòng, có năng lực giữ tiền, ít bị bạn bè lừa gạt.
Tuy nhiên, nếu mệnh chủ yếu về tình cảm, đạo nghĩa, thì Tài khắc Tỷ cũng có thể biểu hiện là vì tiền mà mất bạn, vì lợi mà tổn nghĩa. Nếu mệnh có Kiếp Tài làm dụng, mà Tài tinh đến khắc, thì thành phá cách, mất cơ hội quý nhân giúp đỡ.
Một số trường hợp thường thấy:
- Tài vượng khắc Tỷ, là người cô độc, ít thân hữu.
- Tỷ Kiếp là kỵ, Kiếp đến chế, chủ phá tài.
- Anh em trở mặt vì tiền.
- Tài vượng Kiếp yếu, là mệnh làm kinh doanh.
- Tỷ nhiều Tài yếu, bị bạn bè đoạt lợi.
7. Ý tượng Tài Tinh khắc Thực Thương
Tài là tiền bạc, Thực Thương là lời nói, tài năng, con cái. Tài khắc Thực Thương, tức là vì kiếm tiền mà làm mai một tài năng, vì danh lợi mà làm tổn hại sự sáng tạo, hoặc vì lợi ích mà hy sinh con cái, hoặc bỏ qua những niềm vui cuộc sống. Cũng có thể vì quá mưu cầu vật chất mà làm giảm năng lực biểu đạt, không còn sự hồn nhiên, dễ bị gò bó.
Thực Thương là biểu hiện tình cảm và biểu đạt của bản thân, nên bị Tài khắc thì dễ có biểu hiện ngại nói, ít bộc lộ, không thích thể hiện. Trong một số trường hợp, nếu Thực Thương là kỵ thần, gặp Tài đến khắc thì lại tốt – giúp ổn định, giảm bớt sự phù phiếm, đa đoan.
Một số câu luận thường gặp:
- Thực Thương bị Tài chế, tài năng khó lộ.
- Tài nhiều khắc Thực, con cái ít duyên.
- Tài chế Thương Quan, tổn hại danh tiếng.
- Tài vượng làm chết Thực Thương, thông minh hóa thành ngốc nghếch.
8. Ý tượng Tài Tinh khắc Tài Tinh
Kiếp khắc Tài là hiện tượng tranh đoạt lẫn nhau, tiền tài xung đột, lợi ích đè lợi ích. Trong cùng một mệnh, nếu Tài Kiếp lẫn lộn, có tượng tiền vào cửa trước ra cửa sau, kiếm được mà không giữ được. Nếu Tài là dụng thần mà bị Kiếp đến khắc, chủ phá tài, tiêu hao, cạnh tranh khốc liệt.
Kiếp khắc Tài còn chủ ý nghĩa người thân bất hòa vì tiền, vợ lấn át vợ (trong trường hợp có thiên tài, chính tài hỗn tạp), hoặc vì nhiều nguồn thu mà rối loạn chi tiêu.
Khẩu quyết thường thấy:
- Tài nhiều thân yếu, nhà giàu người nghèo.
- Hai Tài tranh hợp, chủ hôn nhân không tốt.
- Tài tinh hỗn tạp, tiêu tiền như nước.
- Tài nhiều mà không tụ, vì lợi vất vả.
9. Ý tượng Quan Sát khắc Tỷ Kiếp
Quan Sát là pháp luật, là kỷ cương, là chế ước, là người lãnh đạo, là thượng cấp, là quyền uy; Tỷ Kiếp là bản thân, là huynh đệ, là bạn bè, là sự tranh đoạt. Dùng Quan Sát để khắc Tỷ Kiếp, tức là dùng kỷ cương chế ngự lòng ham muốn, dùng lý trí khắc chế dục vọng, dùng tổ chức chế ngự cá nhân, dùng quyền lực khắc phục sự ngang bướng, phản loạn. Cho nên, Quan Sát khắc Tỷ Kiếp, là dùng quy củ mà lập thân, dùng phép tắc mà thành công. Là biểu tượng của người biết giữ quy củ, phục tùng lãnh đạo, hoặc do bị hoàn cảnh ép buộc mà không dám làm càn, không dám tranh giành, do đó giảm bớt tai họa và thị phi.
Quan Sát còn là bệnh tật, là tai nạn, là hoạn nạn. Tỷ Kiếp là bản thân, nên Quan Sát khắc Tỷ Kiếp cũng có ý nghĩa thân thể bị bệnh hoạn, hoặc bị tai ương đè ép. Đặc biệt là khi Tỷ Kiếp quá nặng, mà gặp thêm Quan Sát chế khắc, thì càng dễ dẫn đến bị áp bức, gò bó, chịu thiệt thòi. Tuy nhiên, nếu thân quá vượng, tức Tỷ Kiếp quá mạnh, thì việc gặp Quan Sát lại là tốt, giúp trung hòa lại sự ngông cuồng, giữ cho bản thân không bị vượt quá giới hạn.
Trong nữ mệnh, Tỷ Kiếp là tình địch, Quan Sát là chồng, nên Quan Sát khắc Tỷ Kiếp còn có ý tượng người vợ đánh bại tình địch, giữ được chồng. Nhưng nếu Quan Sát yếu, mà Tỷ Kiếp lại mạnh, thì tình địch sẽ lấn át, dễ dẫn đến ly hôn hoặc tình cảm rạn nứt.
Cho nên trong mệnh lý có nói:
- Tỷ Kiếp nặng gặp Quan Sát, ắt có thương tổn, phá bại.
- Quan đến chế ngự Tỷ Kiếp, danh lợi đều có.
- Quan Sát mạnh khắc Tỷ Kiếp, anh em bất hòa.
- Sát nặng Tỷ nhẹ, thì con người dễ bị áp bức; Tỷ nặng Sát nhẹ, thì người ấy dễ ngông cuồng.
- Quan tinh khắc Kiếp Tài, sự nghiệp thành công; Quan yếu mà Kiếp mạnh, sự nghiệp trắc trở.
- Nữ mệnh Tỷ Kiếp trùng trùng, gặp Quan Sát chế phục thì chồng yên ổn; ngược lại thì hôn nhân khó thành.
- Tỷ vượng Quan nhẹ, mệnh chủ không chịu kỷ luật; Tỷ nhẹ Quan vượng, mệnh chủ phục tùng quy củ.
10. Ý tượng Quan Sát khắc Thực Thương
Quan Sát là quyền lực, luật pháp, là kỷ cương phép tắc; Thực Thương là sự biểu đạt, là tài năng, là cảm xúc và sáng tạo, cũng là con cái (đặc biệt trong nữ mệnh). Quan Sát khắc Thực Thương, là dùng quy tắc gò bó sự biểu đạt, lấy kỷ luật hạn chế sáng tạo, có ý tượng “ép buộc cá tính”, “khuôn mẫu hóa sự sáng tạo”, nên thường có tượng bị cấm đoán, bị hạn chế phát biểu, phải tuân theo khuôn phép mà không được tự do phát huy năng lực cá nhân.
Nếu Thực Thương là tài năng, Quan Sát đến khắc chế, thì chủ kém cởi mở, khó thể hiện bản thân. Trong trường hợp cực đoan, có thể bị đàn áp tư tưởng, cảm thấy gò bó, uất ức, sống theo quy tắc chứ không theo cảm hứng. Nhưng nếu Thực Thương là kỵ thần, lại gặp Quan Sát đến khắc, thì có thể là điều tốt: giúp người đó giảm bớt chủ quan, tự mãn, biết giữ quy củ, tránh xa thị phi, hoặc giữ được nề nếp trong học hành và sự nghiệp.
Trong nữ mệnh, Thực Thương còn đại diện con cái và khả năng sinh nở, nên nếu bị Quan Sát khắc mạnh có thể ám chỉ khó sinh nở, hoặc con cái bị áp lực từ người cha hay xã hội.
Một số luận đoán thường gặp như:
- Thực Thương bị Quan chế, là người sống nguyên tắc, ít biểu lộ cảm xúc.
- Quan Sát khắc Thực Thương, dễ bị o ép mà không được bộc lộ tài năng.
- Quan Sát mạnh Thực Thương yếu, là người có khuynh hướng sống theo nguyên tắc, có thể trở thành người bảo thủ, khuôn mẫu.
- Thực Thương quá vượng gặp Quan khắc, lại trở nên biết giữ mình, từ đó tiến thân.
- Nếu Quan yếu mà Thực Thương mạnh, dễ xảy ra xung đột với cấp trên, không chịu ràng buộc.
- Trong nữ mệnh, Quan khắc Thực còn có thể chỉ khó khăn trong việc sinh con, hoặc con cái không nghe lời, hay bị áp lực giáo dục từ sớm.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.