Cục Chính Quan
Điều kiện thành cục:
- Không có Quan trùng, không lộ Sát, không hợp Quan, không bị hình xung.
- Thiên can phải lộ Tài hoặc Ấn, hoặc địa chi hội thành Tài hoặc Ấn.
- Không có hình xung phá hại (Tử Bình Chân Toàn cơ bản không nói đến phá hại).
- Bát tự không lộ Tài Ấn là “cô Quan vô trợ.”
1. Quan dùng Tài Ấn cùng lộ, không cản trở nhau:
- Nếu Tài Ấn cùng lộ mà không cản trở, quý khí lớn; nếu cản trở nhau, quý khí nhỏ.
- Vận: Nếu thân hơi nhẹ, cần trợ thân; nếu Quan hơi nhẹ, cần trợ Quan. Quan lộ không được gặp hợp, không được lẫn Sát, không được trùng Quan, kỵ hình xung.
2. Chính Quan dùng Tài:
- Tài sinh Quan, nếu địa chi hợp hóa thành Ấn mà thiên can lộ Tài, không kỵ Tài Ấn cùng xuất hiện.
- Vận: Thích thân vượng, Ấn thụ, kỵ vận Thực Thương. Nếu thân vượng, Tài nhẹ, Quan yếu, vẫn chọn vận Tài Quan.
3. Chính Quan dùng Ấn:
- Địa chi hợp hóa thành Tài, không kỵ Tài Ấn cùng xuất hiện.
- Vận: Thích Tài, Thương, Thực. Nếu Quan nặng, thân nhẹ mà phối Ấn, thích thân vượng, kỵ vận Tài.
4. Cục Quan lộ Thực Thương:
- Gặp Thương thì cần phối Ấn. Quan cục lộ Thương dùng Ấn, kỵ thấy Tài vì Tài phá Ấn. Nếu có Tài mà vẫn quý, là do nguyên cục hợp đi Tài.
- Vận: Quan mang Thực Thương mà dùng Ấn chế, thích Quan, Ấn. Kỵ vận Tài. Nếu nguyên cục Ấn thụ chồng chất, vận Tài cũng không hại.
5. Cục Quan mang Sát:
- Quan Sát lẫn lộn, quý ở chỗ làm rõ. Khi Quan Sát lẫn lộn, theo lệ “hợp Sát lưu Quan.”
- Vận:
- Với ngày chủ dương: Dùng Tỷ Kiếp hợp Sát, các vận khác đều được, trừ vận Sát.
- Với ngày chủ âm: Dùng Thương Quan hợp Sát, chỉ đi được vận Thực, Thương, Tài. Không đi được vận Ấn.
Cục Tài
Tài thích có căn sâu, không nên lộ quá nhiều, lộ một chút thì được, lộ nhiều thì hỏng. Tài vượng sinh Quan thì không kỵ lộ.
1. Tài vượng sinh Quan:
- Thân mạnh, không lộ Thương Quan, không lẫn Sát, là cục quý.
- Vận:
- Tài vượng sinh Quan, không kỵ Tỷ Kiếp, kỵ Thương Quan, vận Sát. Thích thân vượng, Ấn thụ.
- Nếu nguyên cục lộ Ấn, không sợ Thương Quan, chỉ kỵ vận Sát.
- Nếu nguyên cục có Thực Thần, đại vận thích Ấn thụ, chỉ kỵ vận Sát.
2. Tài Thực tương sinh:
- Thân mạnh, không lộ Quan, có một chút Tỷ Kiếp thì có tình. Nếu lộ Quan mà thân yếu, cục bị phá.
- Vận: Tùy thân mạnh yếu. Thân yếu thích Tỷ Kiếp, Ấn thụ. Thân mạnh thích Tài, Thực, Sát. Kỵ Ấn. Đều kỵ vận Quan.
3. Cục Tài phối Ấn:
- Vì cô Tài không quý, phối Ấn giúp thân, tức Ấn mang quý khí. Điều kiện là Tài Ấn không được cùng vị. Nếu cùng vị, dù thân mạnh yếu, đều không thể điều hòa.
- Vận: Tài phối Ấn, thích vận Quan, thân yếu thích đi vận Ấn vượng. Kỵ đất Tài.
4. Tài dùng Thực kiêm dùng Ấn:
- Điều kiện là Thực và Ấn không cản trở nhau, hoặc địa chi có Quan ẩn chế Thực bảo vệ Quan, đều là cục quý. Nếu cản trở nhau, phúc giảm.
- Vận: Thân vượng thích vận Tài, Thực. Thân yếu thích Tỷ, Ấn, Sát. Đều kỵ vận Quan.
5. Tài dùng Thương Quan:
- Điều kiện là Tài lộ không quá vượng, Tỷ Kiếp mạnh, lộ một Thương Quan để hóa giải. Nếu Tài vượng không có Kiếp mà lộ Thương, thì bất lợi.
- Vận: Tài mang Thương Quan, dù thân mạnh yếu, thích vận Tài, kỵ Quan, Sát, Ấn.
6. Tài mang Thất Sát:
- Hoặc hợp Sát lưu Tài, hoặc chế Sát lưu Tài, đều là cục quý.
- Vận: Tài mang Sát, phải chế Sát hoặc hợp Sát. Dù ngày chủ mạnh yếu, Tỷ, Kiếp, Ấn, Thực, Thương là vận cát. Kỵ Quan, Sát, Tài.
7. Tài dùng Sát Ấn:
- Sinh trợ Sát là kỵ, Ấn đến hóa giải, cục thành phú quý, đất mùa đông gặp cục này cũng quý. Nếu Tài dùng Sát Ấn mà Ấn đơn độc (chỉ dùng Ấn, Ấn không lộ thì không được), Tài Sát cùng lộ, không quý cũng không phú.
- Vận: Tài dùng Sát Ấn, dựa vào Ấn hóa Sát. Dù ngày chủ mạnh yếu, vận Ấn tốt nhất, kỵ vận Tài.
8. Đơn lộ Tài cũng quý:
- Vì tháng có Quan ẩn (Nhâm sinh tháng Ngọ, Quý sinh tháng Tỵ). Nhâm sinh tháng Tỵ thì bỏ Tài theo Sát.
9. Cục Tài Tỷ Nhận quá nặng:
- Bỏ Tài theo Sát, luận theo cục Sát.
Cục Ấn Thụ
1. Ấn thụ dùng Quan:
- Thân vượng, Ấn mạnh, không lo quá mức, chỉ cần Quan tinh thuần khiết. Điều kiện là lộ Chính Quan, không bị xung hình, hợp Ấn, hợp Quan, Quan tinh thuần khiết là cục tốt.
- Vận: Quan lộ, Ấn nặng thích vận Tài, vận Thực Thương cũng cát. Kỵ Sát, Nhận.
- Ấn thụ dùng Quan mang Thực Thương mà quý, Thực Thương phải không cùng vị với Quan.
- Vận: Thích Quan, Ấn, Sát không kỵ. Kỵ Thực, Thương.
2. Ấn dùng Thực Thương:
- Phải thân mạnh, Ấn vượng, sợ quá mức, tiết thân làm khí tú. Nếu Ấn nhẹ, thân yếu, là cục nghèo hèn.
- Vận: Kỵ vận Quan. Thích Tài, Thương, Thực, Sát.
3. Ấn thụ dùng Sát:
- Điều kiện là thân nhẹ Ấn nặng hoặc Ấn nhẹ thân nặng, phải có thiếu sót mới có tình. Nếu thân Ấn đều nặng mà dùng Thất Sát, không cô độc thì nghèo.
- Vận: Thích Thương, Thực, thân vượng. Kỵ vận Tài.
- Ấn thụ dùng Sát mang Thực Thương, dùng Sát có chế, sinh thân có tiết, dù thân vượng Ấn nặng, đều quý.
- Vận: Thích thân vượng, Ấn thụ, Thương, Thực. Kỵ Tài, Quan.
4. Ấn thụ dùng Tài:
- Điều kiện là Ấn nặng thân mạnh, lộ Tài để kiềm chế quá mức, chỉ cần Ấn có căn sâu, không ngại Tài phá. Nếu Ấn nhẹ, Tài nặng, không có Tỷ Kiếp cứu, là tham Tài phá Ấn, cục nghèo hèn.
- Vận: Ấn nhẹ thích đất Tỷ Kiếp, Quan, Ấn cũng cát. Kỵ vận Tài. Ấn nặng thích vận Quan Ấn. Kỵ vận Tài.
- Nếu Ấn nặng, Tài nhẹ, kiêm lộ Thực Thương, Tài và Thực tương sinh, nhẹ mà không nhẹ, có thể phú, nhưng không quý. (Nếu quý, là do hợp Tài lưu Thực.)
- Vận: Ấn nhẹ không lợi khi gặp Tài.
5. Cục Ấn lộ Quan Sát:
- Hợp Sát hoặc có chế, đều là cục quý.
- Vận: Thích Thực, Thương, Ấn thụ, thân vượng. Kỵ Tài, Quan, Sát.
6. Hóa Ấn thành Tỷ Kiếp:
- Bỏ Ấn theo Tài Quan.
- Vận: Tài, Quan tốt.
Cục Thực Thần
1. Thực Thần sinh Tài:
- Cục đẹp. Điều kiện là Tài phải có căn, không cần chính thiên chồng chất. Thân mạnh, Thực vượng, Tài lộ là cục đại quý. Thích sinh Chính Tài (cục Chính Tài cao). Tài vô căn không hiệu quả. Nếu thiên can đồng thời thấy chính thiên Tài, chồng chất, phú quý không lớn.
- Vận: Tài nặng Thực nhẹ, thích vận Tài, Thực. Tài, Thực nặng thì thích vận trợ thân. Kỵ Quan, Sát, không phụ thuộc thân mạnh yếu.
- Đặc biệt:
- Thực Thần ẩn ở địa chi, thiên can lộ Thương Quan, chủ nhân tính cách cương liệt (ẩn Thực lộ Thương).
- Hè Mộc Thực Thần sinh Tài, hỏa viêm thổ táo, phú quý đa phần là võ chức.
2. Thực Thần dùng Sát Ấn:
- Thực Thần dùng Sát Ấn, uy quyền hiển hách nhất.
- Vận: Thích vận Ấn vượng. Thân vượng, Thực Thương, Quan Sát cũng tốt. Kỵ vận Tài.
- Thực Thần không Ấn, đơn lộ Sát, chỉ cần không có Tài, cũng là cục quý. Có Tài thì công thân, là cục nghèo hèn.
- Vận:
- Thực Thần mang Sát:
A. Nếu Thực quá nặng, Sát nhẹ, điều kiện là Thất Sát vô căn, vận Ấn tốt nhất, vận Tài cũng tốt (Thất Sát có căn đại kỵ vận Tài), không phụ thuộc thân mạnh yếu.
B. Dù thân mạnh yếu, thích vận Ấn. Thân vượng, Thực, Thương cũng tốt (thân yếu vận bình). Đại kỵ vận Tài. Thân yếu, Sát khắc thân, vận Ấn tốt, Tỷ Kiếp cũng tốt. - Cục đặc biệt:
- Kim Thủy Thực Thần dùng Sát, quý mà tú (Kim Thủy Thực Thần dùng Sát tốt nhất).
- Thực Thần kỵ Ấn, hè hỏa quá viêm, Mộc cháy, lộ Ấn không ngại, Mộc Hỏa Thực Thần không sợ Ấn.
- Thực Thần kỵ Quan, Kim Thủy Thực Thần không kỵ, Kim Thủy Thương Quan có thể thấy Quan.
- Thực Thần không dùng Tài mà dùng Sát, Ấn, chủ quyền quý. Kim Thủy Thực Thần thấy Sát Ấn càng tốt.
3. Thực Thần có khí:
- Đơn dùng Thực Thần, không có Tài Quan Ấn, chỉ có Thực Thần và thân.
- Vận: Có vận Tài thì phú, không vận Tài thì nghèo.
4. Thực Thần mang Ấn (gặp Hiệu):
- 1. Thực Thần quá vượng mang Ấn, căn Ấn không nặng (Thực Thần và Ấn cân bằng) cũng có thể phú quý.
- Vận: Thích Thực, Thương, Tài. Kỵ Ấn, Quan, Sát.
- 2. Thực Thần mang Ấn, gặp Hiệu, lộ Tài để giải, cũng có phú quý.
- Vận: Thích Thực, Thương, Tài. Kỵ Ấn, Quan, Sát.
5. Thực Thần lộ Quan, Sát:
- Thực Thần không Tài, Chính Quan, Thất Sát cùng lộ thiên can, chủ tiểu quý.
- Thực Thần mà Quan Sát cùng xuất, cũng thành cục, nhưng không quá quý (phải chế một, lưu một).
6. Thực Thần lộ Tài Sát:
- 1. Nếu Thực Thần lộ Sát, vốn kỵ thấy Tài, nhưng Tài trước Sát sau, Thực xen giữa, Tài không sinh trợ Thất Sát, cũng có thể quý (Thực Thần dùng Sát mang Tài).
- 2. Thực Thần, Tài, Sát cùng lộ, phải hợp Sát lưu Tài hoặc chế Sát lưu Tài. Nếu không có, phải Tài trước Sát sau, giữa là Thực Thần; nếu Sát trước Tài sau thì không được.
Cục Thất Sát
1. Sát dùng Thực chế:
- Sát vượng, Thực mạnh, thân vượng, cực kỳ quý. Đủ ba điều kiện này thì không ai không quý.
- Điều kiện: Không lộ Tài, không lộ Ấn (vì Tài chuyển Thực sinh Sát, Ấn đi Thực bảo Sát).
- Nếu thiên can lộ Tài, Tài phải trước Thực Thần (“Tài trước Thực sau”). Nếu ngược lại, sẽ vì Tài gây họa, cuối cùng thất bại.
- Nếu thiên can lộ Ấn, Thực Thần phải có nhiều căn ở địa chi (2 trở lên).
- Vận: Sát nặng Thực nhẹ, cần trợ Thực. Thực nặng Sát nhẹ, cần trợ Sát. Sát Thực cân bằng, ngày chủ yếu cần trợ thân. Kỵ vận Quan lẫn lộn, Ấn cướp Thực.
2. Thất Sát dùng Ấn:
- Sát Ấn tương sinh không phụ thuộc vào ngày chủ mạnh yếu, phải Sát Ấn cùng ở một địa chi tháng lệnh lộ ra, nếu không thì vô hiệu. Sát nặng thân nhẹ mà dùng Ấn, dù không cùng tháng lệnh, cũng có tình, nhưng quý khí không lớn.
- Vận: Thương Quan là tốt, Ấn thụ, thân vượng đều là đất phúc. Kỵ vận Tài.
- (Ấn thụ dùng Sát, thân cần một mạnh một yếu, thân vượng lộ Sát thì cô nghèo, thân yếu tốt hơn, kỵ vận Tài, thích vận Thực Thương.)
3. Thất Sát dùng Tài (cứu ứng):
- Điều kiện là Thất Sát gặp Thực chế, thiên can lộ Ấn (Ấn đi Thực bảo Sát), thì Tài phá Ấn, Thực chế Sát.
- Vận: Sát cục dùng Tài, thích Thương, Thực, Tài, Sát. Kỵ Tỷ Kiếp, Ấn.
- Cách dùng đặc biệt: Thân nặng Sát nhẹ, cục Thất Sát hóa thành cục Ấn, dụng thần không rõ, dùng Tài làm rõ cục.
- Vận: Sát yếu dùng Tài, Tài vượng thích Thực Thần, Tỷ Kiếp, Ấn không kỵ. Nếu Tài yếu, thích vận Tài, Sát.
4. Thất Sát mang Chính Quan:
- Phải làm rõ Quan Sát, hoặc đi Quan lưu Sát, hoặc đi Sát lưu Quan. Lưu ý, địa chi có thể dùng xung để đi Quan hoặc Sát.
- Vận: Dù đi Quan lưu Sát hay đi Sát lưu Quan, đại vận liên quan đến thân mạnh yếu, thân nhẹ trợ thân, Thực nhẹ trợ Thực. Không được khắc đi vật làm rõ hoặc thần chế Sát.
5. Sát dùng Dương Nhận:
- Sát không có Nhận thì không hiển, gặp Sát nhìn Nhận là vậy.
- Vận: Sát dùng Nhận, Sát nặng dùng Thực Thương chế, Nhận nặng thì trợ Sát, đại kỵ vận Quan.
6. Bỏ mệnh theo Sát:
Xem xét như cách cục ngoại cách.
- Cục Thương Quan
Hè Mộc gặp Hỏa, đông Kim gặp Thủy, là tú khí đặc biệt nổi bật.
1. Thương Quan sinh Tài:
- 1. Chỉ cần thân mạnh và Tài có căn, là cục quý. Không được thấy Quan.
- 2. Hóa Thương thành Tài, cực kỳ tú khí (đông Kim không quý, vì nước lạnh không sinh được Mộc). Cục hợp hóa Tài.
- 3. Thương Tài có tình. Thương Quan và Tài cùng căn ở tháng lệnh gọi là Thương Tài có tình.
- Thương Quan sinh Tài không kỵ Tỷ Kiếp, xem như trợ thân, Tài không phân chính thiên.
- Vận: Thương Quan dùng Tài, Tài vượng thân nhẹ, thích Tỷ Kiếp, vận Ấn. Thân mạnh Tài nhẹ, thích vận Tài, Thương. Trọng điểm là thân mạnh yếu.
2. Thương Quan phối Ấn:
- Ấn chế Thương là quý. Điều kiện là Thương Quan vượng, thân hơi yếu, mới là tú khí. Ấn lộ cũng phải có căn (hè Mộc gặp nước润, tú khí tăng gấp bội). Không được thiên can có chính thiên Ấn chồng chất, Ấn nhiều thì nghèo. Điều kiện cơ bản của Thương Quan phối Ấn là Ấn vượng thân yếu. Nếu thân mạnh Ấn vượng thì phẩm chất thấp.
- Vận: Thích Quan, Sát, Ấn, Thương, Thực. Đại kỵ vận Tài.
3. Thương Quan kiêm dùng Tài Ấn:
- Vốn không dùng cùng, chỉ cần thiên can hai bên rõ ràng không cản trở. Nếu sinh Tài, Tài quá vượng thì mang Ấn; nếu phối Ấn, Ấn quá nặng thì mang Tài, điều hòa trung hòa, thành cục quý. Có hai trường hợp:
- Tài quá nặng mang Ấn, hai bên không cản trở.
- Ấn quá nặng mang Tài.
- Nếu mệnh cục nặng không cân bằng, tìm cân bằng trong đại vận. Nếu mệnh đã cân bằng thì là người thường.
- Vận: Tài nhiều mang Ấn, thích trợ Ấn. Ấn nhiều mang Tài, thích trợ Tài. Không phụ thuộc thân mạnh yếu, mà ở sự cân bằng giữa Tài và Ấn.
4. Thương Quan dùng Sát Ấn:
- Điều kiện là Thương nhiều, thân yếu, dựa vào Sát sinh Ấn để trợ thân chế Thương, nhưng không được thấy Tài, là quý.
- Vận: Thích Ấn, Thương, Thực. Kỵ vận Tài, Quan.
5. Thương Quan mang Sát:
- Là quý. Mấu chốt là cân bằng giữa Thương Quan và Thất Sát, không liên quan đến thân mạnh yếu.
- Vận: Thương Quan mang Sát, thích Ấn, kỵ Tài. Nếu Thương nặng Sát nhẹ, Ấn, Tài là cát. Nếu Thất Sát căn nặng, thích Thương, Thực, Ấn thụ, Tỷ Kiếp thân vượng. Kỵ Tài.
6. Thương Quan dùng Quan:
- Các trường hợp khác không dùng được, chỉ Kim Thủy Thương Quan có thể. Điều kiện là Kim Thủy Thương Quan thấy Quan, phải có Tài Ấn đi kèm, không được Thương Quan và Quan cùng lộ. Nếu cô Quan vô trợ, hoặc Quan Thương cùng lộ, phúc không lớn.
- Đặc biệt, đông Kim dùng Quan mà hóa Thương thành Tài, là cực tú cực quý. (Nếu không phải Kim Thủy Thương Quan, cần hóa Thương thành Tài, Thương không còn là Thương, xem như Tài vượng sinh Quan.)
- Nếu Thương Quan mà Quan Sát cùng lộ (hợp hoặc chế), chỉ cần thiên can làm rõ, Kim Thủy được thì rõ, nếu không thì vô dụng.
- Vận: Thích Tài, Ấn. Kỵ Thực, Thương. Nếu cục có Quan lộ mà Tài Ấn đều vượng, Tỷ Kiếp, Thương Quan cũng có thể đi.
Cục Dương Nhận
Chỉ có năm thiên can dương (Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm) có, năm thiên can âm không có. Nếu Nhận không ở tháng lệnh, mà ở chi năm, tháng, ngày, giờ, chỉ xem là trợ thân, không tính là cục.
1. Dương Nhận dùng Quan, Sát:
- Điều kiện là có Tài Ấn đi kèm, đặc biệt quý hiển, không được cô Quan vô trợ. Dùng Quan có thể lộ Nhận, dùng Sát không được lộ Nhận (Nhận có thể hợp Sát). Quan Sát chỉ nên dùng riêng, nếu lẫn lộn, phải làm rõ. (Canh sinh tháng Dậu, không sợ Quan Sát lẫn lộn, là cục đặc biệt.)
- Quan Sát chế Nhận cũng có cao thấp:
- Quan, Sát lộ và căn sâu, quý lớn.
- Quan, Sát ẩn không lộ, hoặc lộ mà căn cạn, quý nhỏ.
- Có Quan Sát chế Nhận mang Thực Thương mà quý, vì có Ấn bảo vệ, hoặc Sát quá nặng cần cắt giảm, Quan Sát lẫn lộn thì làm rõ. (Dương Nhận cục, lợi ở lưu Sát.)
- Vận:
- Dương Nhận dùng Quan, thích trợ Quan. Nếu Quan căn sâu, Ấn thụ, Tỷ Kiếp cũng là vận tốt, kỵ Thương, Thực, hợp Quan.
- Dương Nhận dùng Sát, Sát không quá vượng, thích trợ Sát. Nếu Sát quá nặng, thích Tỷ Kiếp, Ấn thụ, Thương, Thực cũng tốt. Sát không nặng, Thương Thực không tốt.
- Nếu Quan Sát một vị lộ ở thiên can, thích vận Tài Sát.
- Dương Nhận Quan Sát cùng xuất, dù đi Quan hay Sát, thích vận chế phục, thân vượng tốt. Kỵ vận Tài, Quan.
- Cục đặc biệt:
- Bính sinh tháng Ngọ, ẩn chứa Kỷ Thổ, có thể khắc Thủy, đặc biệt nên mang Tài phối Ấn.
- Mậu sinh tháng Ngọ, thiên can lộ Bính Hỏa, địa chi hội thành cục Hỏa, hóa Nhận thành Ấn, hoặc Quan hoặc Sát, lộ thì bỏ Nhận lưu Ấn, cục càng rõ. Nếu Tài Sát cùng lộ, phạm kỵ bỏ Ấn lưu Sát, không xem là sinh Sát chế Sát, phú quý đều không.
2. Dương Nhận dùng Tài:
- Điều kiện là Tài căn sâu, dùng Thực Thương để chuyển Nhận sinh Tài, tuy không sánh được với Kiến Lộc, tháng Tỷ Kiếp, không thể lấy quý, nhưng có thể lấy phú. Nếu không, Nhận và Tài tranh đấu, không thành cục.
Cục Kiến Lộc Tháng Tỷ Kiếp
1. Lộc Tỷ dùng Quan:
- Điều kiện là Quan lộ ra là kỳ, phải có Tài Ấn đi kèm, không được cô Quan vô trợ. (Dùng Quan mà cô Quan vô trợ, cục nhỏ, khó lấy quý. Nếu lộ Thực, Thương thì phá cục, hợp đi Thương Quan cũng là quý.)
- 1. Lộ Quan mà Tài Ấn không cùng vị, Quan ngăn cách, cục lớn, gọi là thân mạnh gặp tam kỳ.
- 2. Dùng Ấn bảo Quan, dùng Tài trợ Quan.
- Vận:
- Ấn bảo Quan thích Tài, không sợ Thương Quan, Thực Thần và Tỷ Kiếp. Kỵ hợp Quan, Thất Sát lẫn lộn.
- Dùng Quan dùng Tài sinh, thích Ấn, Quan, Tài. Kỵ Thương, Thực, Sát.
2. Lộc Tỷ dùng Tài:
- Điều kiện là phải mang Thực, Thương. Phải dùng Thực Thương hóa giải, mới có thể chuyển Tỷ sinh Tài, nếu không thì hai Tài khắc nhau. (Dùng Tài mà không lộ Thực Thương, khó phát triển. Nếu thiên can lộ một vị không lẫn lộn, địa chi căn nhiều, có thể phú nhưng không quý.) Hóa Tỷ thành Tài hoặc Tỷ sinh Tài, cực kỳ tú khí.
- Vận: Lộc Tỷ dùng Tài mang Thực Thương. Tài Thực nặng thích Ấn thụ, không sợ Tỷ Kiếp. Tài Thực nhẹ thích trợ Tài, không thích Ấn thụ, Tỷ Kiếp. Sát là vận bình, kỵ Quan.
3. Lộc Tỷ dùng Sát (Thực chế):
- Phải chế phục.
- Vận: Thực nặng Sát nhẹ, vận trợ Sát. Thực nhẹ Sát nặng, vận trợ Thực.
4. Lộc Tỷ dùng Sát mang Tài:
- Dùng Sát vốn không đẹp, nếu đi Sát lưu Tài, lại thành cục quý.
- Vận: Hợp Sát lưu Tài, thích Thương, Thực, Tài, Quan, Tỷ Kiếp. Nếu hợp Tài lưu Sát, dùng Thực chế, Sát nhẹ trợ Sát, Thực nhẹ trợ Thực.
5. Lộc Tỷ dùng Thực Thương:
- Tiết đi quá mức, cũng là tú khí. Chỉ xuân Mộc, thu Kim dùng thì quý, vì Mộc gặp Hỏa thì sáng, Kim sinh Thủy thì linh. Kim Thủy tương hòa, Mộc Hỏa thông minh, là đặc biệt.
- Vận: Thích Tài, Sát. Kỵ Ấn, lộ Quan. Nếu Thực Thương quá nặng, thích Tài, Ấn. Kỵ Quan.
6. Lộc Tỷ mà Quan Sát cùng xuất:
- Phải làm rõ để thành cục quý. Nếu hai Quan cùng xuất, phải chế phục, gọi là tranh Chính Quan không thể thiếu Thương (có Thương Quan chế một). Quan Sát có mà không chế phục, đi vận chế phục, có thể phát tài, nhưng Quan Sát quá nặng khiến thân nguy thì không được (mất mạng). Thích Thương, Thực, Tỷ Kiếp. Kỵ Ấn thụ, Tài, Quan.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.