Dương Mộc (Giáp Mộc)
Nguyên văn:
Dương mộc tối hỷ kiến Canh Đinh, tứ thời trú dạ yếu thông căn,
Kiến Thìn hóa vi Thanh Long quý, kiến Tuất Khôi Cương thuộc Phúc tinh,
Ngọ hỏa vi tử bản tiêu diệt, âm thủy xâm thực phản thương thân.
Dịch nghĩa:
Giáp Mộc thích nhất gặp Canh, Đinh, suốt bốn mùa ngày đêm đều cần thông căn (có rễ),
Gặp Thìn hóa thành Thanh Long quý hiển, gặp Tuất có Khôi Cương là sao Phúc tinh,
Gặp Ngọ là nơi tuyệt diệt, bản chất tiêu tan, gặp Quý Thủy xâm hại thì tổn thân.
Âm Mộc (Ất Mộc)
Nguyên văn:
Ất can kiến Canh tuy vân hợp, dương kim lợi nhận hạn chế đa,
Hợi Tý tề lai tùy thủy khứ, nhất ngộ mộ khố tất tha thoa.
Ất mộc thiên can hỷ hướng dương, Bính hỏa Ngọ hỏa danh tính dương,
Vũ lộ tư nhuận Kỷ bồi căn, phú quý vinh hoa gia thế xương.
Dịch nghĩa:
Ất Mộc tuy hợp với Canh Kim, nhưng lưỡi dao bén của dương kim gây nhiều áp chế,
Hợi Tý cùng đến thì theo thủy trôi đi, một khi gặp mộ khố thì trắc trở khó thành.
Ất Mộc trên thiên can ưa ánh dương, Bính Hỏa, Ngọ Hỏa làm rạng danh,
Gặp Quý Thủy tưới nhuần, gặp Mùi nuôi rễ, phú quý vinh hoa, gia tộc hưng thịnh.
Dương Hỏa (Bính Hỏa)
Nguyên văn:
Bính dương ưu úy Kỷ Quý xâm, can đầu hiển Nhâm Tân càng cấm,
Vân che vụ chắn danh lợi bại, sương nặng tuyết dày họa bản thân,
Đơn Giáp chỉ Dần phú quý chí, duy khủng trùng trùng che nhật lâm.
Dịch nghĩa:
Bính Hỏa sợ nhất bị Kỷ, Quý xâm hại, càng ngại trên thiên can có Nhâm, Tân lộ,
Mây mù sương phủ làm hại danh lợi, sương tuyết dày đặc gây tai ương,
Chỉ cần có Giáp và Dần là phú quý đến, chỉ sợ Quý Thủy trùng trùng xâm lấn che mất ánh dương.
Âm Hỏa (Đinh Hỏa)
Nguyên văn:
Âm hỏa đích mẫu bất nhất ban, chế Thương hóa Sát lợi lộ khoan,
Ngọc Đường Thiên Ất năng trợ ngã, nhược bất hào phú diệc chưởng quyền,
Kế mẫu tàng thấu giai vi kỵ, huynh đệ tranh đoạt chủ hung ngoan.
Dịch nghĩa:
Đinh Hỏa với mẹ Giáp là quý hiếm, chế được Mậu, hóa được Quý thì con đường hanh thông,
Tài (Dậu), Quan (Hợi) trợ giúp, nếu không phú quý thì cũng quyền hành,
Ất Kiêu (mẹ kế) lộ ra thì là điều kỵ, huynh đệ tranh đoạt tất sinh hung hiểm.
Dương Thổ (Mậu Thổ)
Nguyên văn:
Mậu Thổ ưu ái tứ khố lâm, hình xung Tài Quan phản vi chân,
Châu ngọc Thương Quan năng vi họa, đoạt thực Kiêu Ấn thị chân thần.
Chuyên Lộc hoa thảo nguyệt thời kiến, thất quý thất thân bán sinh bần,
Thê lai tựu ngã vinh hoa chí, Sát Ấn tương sinh tất thành danh.
Dịch nghĩa:
Mậu Thổ rất thích gặp bốn kho (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi), hình xung Tài Quan lại thành thật cách,
Tân Kim làm Thương Quan có thể gây họa, đoạt Thực bởi Bính Kiêu là thần thực,
Gặp Tỵ Lộc, Mão hoa (cỏ), tháng sinh thấy thì mất quý, mất thân, nửa đời nghèo khổ,
Vợ đến bên mình thì phú quý đến, Sát – Ấn sinh lẫn nhau ắt thành danh.
Âm Thổ (Kỷ Thổ)
Nguyên văn:
Điền viên bất hỷ hoa thảo xâm, chính mẫu thiết thân Dậu tương thân,
Sát Kiêu điệp kiến trùng trùng họa, nhược bất tảo yểu nhất thế bần.
Âm Thổ hỷ ái kiến Tài Quan, chính Lộc chính Mã nghi thấu can,
Dần Hợi tử địa bất vi phúc, thân xử bại hương phạ kim đạn.
Dịch nghĩa:
Kỷ Thổ không thích bị Ất Mộc xâm phạm, mẹ Bính thân cận, Dậu tương hợp,
Ất Kiêu, Đinh Sát trùng trùng hiện diện thì đại họa, nếu không chết yểu thì cũng suốt đời nghèo khổ.
Kỷ Thổ thích gặp Tài (Nhâm), Quan (Giáp) – lộ ra thiên can là tốt,
Dần, Hợi là tử địa không phải phúc, thân ở đất bại thì sợ bị Kim đánh (sát hại).
Dương Kim (Canh Kim)
Nguyên văn:
Dương Canh giai hỷ Thổ bao tàng, Thiên Hà Thiên Tinh lợi danh dương,
Thiên Ấn trùng điệp nan thành sự, tuyệt xứ phản hỷ Thổ dương cương,
Thương Quan bản thị nhạ họa vật, thân đáo tử hương bại nhất trường.
Dịch nghĩa:
Canh Kim thích được Thổ bao bọc, Nhâm (Thiên Hà), Đinh (Thiên Tinh) trợ giúp làm rạng danh,
Mậu Kiêu (Thiên Ấn) trùng điệp khó thành việc, gặp tử tuyệt lại thích Mậu trợ,
Quý Thương là vật gây họa, thân đến đất tử thì bại vong.
Âm Kim (Tân Kim)
Nguyên văn:
Châu ngọc bản lai ái Nhâm hương, Nhâm Bính giao huy định cát xương,
Lộc địa sinh địa đô vi phúc, chỉ phạ huynh đệ kiếp nhất trường.
Tân Kim nhuyễn nhược bất tỷ Canh, tứ khố vô xung nghiệp nan hưng,
Mậu Kỷ trần phong bất vi quý, nhi tôn tao ương bần tiện chân.
Dịch nghĩa:
Tân Kim vốn thích Nhâm làm Thương, Nhâm Bính rực rỡ là cát vượng,
Gặp đất Dậu (Lộc), Tý (Sinh) đều là phúc, chỉ sợ Canh huynh đến đoạt một phen,
Tân Kim mềm yếu không bằng Canh, bốn kho không xung thì nghiệp khó hưng,
Mậu, Kỷ bị che lấp thì không quý, con cháu gặp họa, thật sự nghèo khổ.
Dương Thủy (Nhâm Thủy)
Nguyên văn:
Giang hà bản hỷ Mậu đê phòng, phùng Canh tắc biến hoạt lực dương,
Thần Long hấp thủy đáo Thiên Môn, Thực Thần Tài Tinh hiển cát tường.
Đại giang Đông khứ nhất phiến thương, tử mộ tuyệt địa thiết nghi phòng,
Quan tinh bản thị vinh thân vật, Hoàng Hà nhất phiến thủy mang mang.
Dịch nghĩa:
Nhâm Thủy vốn thích Mậu làm đê ngăn, gặp Canh thì hóa thành sức sống dồi dào,
Rồng Thìn hút nước đến cửa Hợi, Giáp (Thực), Bính (Tài) lộ ra là tốt lành.
Vận đi đến Ất, Mão là toàn một vùng thương tổn, Mão Thìn Tỵ nên tránh,
Kỷ Quan là vật làm rạng thân, sông đục như Hoàng Hà nước mênh mông.
Âm Thủy (Quý Thủy)
Nguyên văn:
Vũ lộ tối phạ kiếm phong kim, hàn kim kết lộ tất định ngưng,
Nhật xuất triêu hà kham vi mỹ, vũ hậu hồng kiều phú quý chân.
Châu ngọc bảo bối năng tác phúc, Sát tinh hữu hóa bất yểu bần,
Lão Dương thiếu Âm can đầu hợp, Lý dược Long Môn đáo triều đình.
Dịch nghĩa:
Quý Thủy sợ nhất gặp Kim Dậu, Kim lạnh sinh sương, chắc chắn kết băng,
Gặp Bính, gặp Mậu là đẹp, Mậu Quý hợp lại là phú quý thực sự.
Tân Kim là báu vật có thể sinh phúc, Sát có hóa thì không chết yểu cũng không nghèo,
Mậu Thổ, Quý Thủy hợp trên thiên can, cá chép vượt Long Môn đến chốn triều đình.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.