Ca quyết Chính Quan cách

Chính khí Quan tinh dụng chi tháng,
Hỷ gặp Tài Ấn đến năm giờ;
Phá hại xung Không đều không phạm,
Phú quý song toàn báo bạn biết.

Quan tinh đại để phải thân cường,
Thân nhược phải cầu phương khí vượng;
Kiêm hành Ấn thụ Tài vượng địa,
Không xung không phá là vinh xương.

Tháng sinh Quan tinh tọa đất Lộc,
Nhật thần sinh vượng phúc vô biên;
Có Tài có Ấn không thương phá,
Thiếu niên thành danh tọa Ngọc đường.

Tháng gặp Chính Lộc hào chân Quan,
Không phạm hình thương Lộc rất rộng;
Nhật chủ thịnh hưng hiển lợi danh,
Vận gặp Tài Ấn bước Kim Loan.

Ấn nhiều Quan nhiều là quý mệnh,
Quan vượng thân suy lại là bệnh;
Quan nhiều thân vượng hóa thành tài,
Tài vượng thân suy là bần bệnh.

Chính Quan đại để phải thuần hòa,
Tứ trụ không hại lấy vẻ vang;
Trụ giờ hỷ gặp Tài kiện vượng,
Trong trụ mừng thấy Ấn sinh nhiều.

Đề cương chỉ một là chân quý,
Ở năm lại gặp là quá nhiều;
Xứ khác nếu có Sát đến hỗn,
Lại thành lao khổ chạy bôn ba.

Chính Quan nhân đức tính tình thuần,
Từ Quán văn chương có lập thân;
Quan Ấn tương sinh gặp tuế vận,
Ngọc đường Kim mã tọa triều thần.


Ca quyết Thất Sát cách

Thiên Quan không thể liền nói hung,
Có chế nó vẫn đầy y lộc;
Can đầu Thực thần Chi mang hợp,
Con cháu đầy mắt được tước phong.

Thân gặp Thất Sát đề cương vượng,
Chỉ vì can suy thụ thương lớn;
Chính Lộc giao sai hình Sát nhập,
Cả đời không miễn bị tai ương.

Đề cương Thất Sát vốn phải lo,
Chỉ vì thuần phục hỷ không sầu;
Cả đời chính trực không tà khúc,
Chức vị cao phong vạn hộ hầu.

Nguyệt lệnh Thiên Quan vốn Sát thần,
Có chế vẫn tôn nơi Nhất phẩm;
Giả như bản thân vinh quý muộn,
Cũng phải là phúc cùng cháu con.

Nguyệt lệnh Thiên Quan tối kị xung,
Thương quan Dương Nhận hỷ tương phùng;
Nhật can vượng tướng đều là quý,
Chế phục không quá trăm việc thông.

Thiên Quan có chế hóa thành quyền,
Anh tuấn văn chương phát thiếu niên;
Thân vượng định bước lên đài khách,
Ấn trợ phù Quan truyền liên tục.

Nếu gặp Thất Sát hóa thành quyền,
Vũ chức công danh tấu cửu thiên;
Uy trấn biên cương công cái thế,
Mây giữ Tỳ hưu (*) tận trời oai.

Sát thần nguyên có chế Thương thần,
Chế phục thân cường phúc lộc hưng;
Như thấy chế phục trước có tổn,
Trái ngược phú quý biến tai ương.

Thương quan Thất Sát trong mệnh sợ,
Chế phục điều hòa có nắm quyền;
Nhật nhược lại không có chế phục,
Lo âu như ôm Hổ mà ngũ.

Thân nhược Sát cường không thần chế,
Sinh nhiều tai họa không thể kham;
Sao kham càng nhập đất Quan cường,
Gặp hình mang tật tang thân này.

Thiên Quan lúc chế phục thái quá,
Sinh đến bần nho chớ nghi ngờ;
Sinh thời nhược gặp Tài vượng địa,
Sát tinh sống lại phát quyền uy.

Thiên Quan như Hổ sợ xung nhiều,
Vận vượng thân cường lo gì sợ;
Thân nhược Hổ cường thành họa hoạn,
Thân cường chế phục quý trung hòa.

Thiên Quan có chế hóa thành quyền,
Ai thủ đăng vân phát thiếu niên;
Tuế vận nếu hành thân vượng địa,
Công danh đại dụng phát song toàn.

(*) Tỳ hưu: Con Gấu trắng (Bạch Hùng), một giống thú rất mạnh, cho nên đời xưa các dũng sĩ gọi là Tỳ Hưu.


Ca quyết Thực thần cách

Thực thần chế Sát cát phi thường,
Tài vượng vợ vinh con càng mạnh;
Trong trụ không có Thôn Đạm Sát,
Quản giáo kim điện phò quân vương.

Thực thần gặp Lộc tên Thiên Trù,
Xung khắc Không vong Quan không Sát;
Vận lâm tử tuyệt Thiên Ấn địa,
Là hợp Thọ tinh phúc đến chăng.

Thực thần Ấn thụ không nên gặp,
Chỉ thấy Tài Quan phúc càng hưng;
Thực thần hỷ hành thân vượng địa,
Gặp Kiêu gặp Kiếp mãi thành không.

Thực thần sinh vượng là đứng đầu,
Chỉ có thủy mộc kim thổ tốt;
Quan Sát chớ nên đến hỗn tạp,
Cả đời y lộc hưởng vinh hoa.

Thực thần ở trước Sát ở sau,
Y lộc cả đời phúc rất dày;
Sát kề Thực thần lại có tai,
Cả ngày đầy bụi bôn ba chạy.

Người Giáp thấy Bính vốn cướp khí,
Bính khử sinh Tài gọi Thực thần;
Bụng rộng thân béo dày y lộc,
Nếu lâm Thiên Ấn chủ cô bần.

Thực thần có khí thắng Tài Quan,
Bản can trước cần thân cường vượng;
Nếu là phản thương đến đoạt Thực,
Bận bịu lao khổ họa đủ đầy.

Thực thần sinh vượng không hình khắc,
Mệnh gặp cách này thắng Tài Quan;
Lại được thân vượng gặp Tài địa,
Thanh xuân niên thiếu bước Kim loan.

Thực thần không tổn thọ vững bền,
Trên Ấn gặp nhau không thể đương;
Nếu không Thiên Tài đến cứu hộ,
Mệnh như cây cỏ gặp sương Đông.

Trụ tháng Thực thần gọi Thiên Trù,
Sinh mệnh gặp đây phú có dư;
Thiết kị Kiêu đến diệt phúc rõ,
Sợ nhất xung khử ám tiêu trừ.

Sinh Tài hóa Kiếp kiêm không bệnh,
Chế Sát là tin có nhiều cát;
Sĩ tử nếu gặp đăng khoa Giáp (_),
Phong quan tiến chức nhận thiên thư.

Thực thần sinh vượng hỷ sinh Tài,
Nhật chủ cương cường phúc lộc đến;
Thân nhược Thực nhiều lại thành hại,
Hoặc gặp Ấn thụ sẽ sinh tai.

(_)

Đời xưa khoa cử, thi tiến sĩ lấy nhất giáp, nhị giáp, tam giáp để chia hơn kém. Cho nên bảng tiến sĩ gọi là Giáp bảng. Nhất giáp chỉ có ba bực: (1) Trạng nguyên, (2) Bảng Nhãn, (3) Thám Hoa gọi là Đỉnh Giáp.


Ca quyết Thương quan cách

Thương quan vốn là thần sản nghiệp,
Thương tận đúng là đại quý nhân;
Nếu là Thương quan thương không tận,
Quan đến nhận vượng họa không khinh.

Nguyệt lệnh Thương quan ở đất Thương,
Thương khinh giảm lực vẫn không ngại;
Nếu thấy hình xung sao phá hại,
Định biết là quan không lâu dài.

Thương quan thương tận lại sinh Tài,
Tài vượng sinh Quan lại hỗ hoán;
Tứ trụ nếu không Quan hiển lộ,
Liền nói phú quý chớ nghi ngờ.

Thương quan thương tận là tốt nhất,
Lại e Thương nhiều lại không nên;
Trong cách cục này nhiều biến hóa,
Cần nên cẩn thận dụng tâm cơ.

Trụ năm Thương quan là sợ nhất,
Trọng thì thương thân thọ không dài;
Thương quan thương tận sinh tài quý,
Tài tuyệt gặp Quan họa đến liền.

Thương quan không kị gặp Tỉ kiên,
Thất Sát Thiên quan lý cũng đồng;
Nếu là không Quan nên kị Tỉ,
Như gặp thân vượng lại sợ nhiều.

Thương quan thương tận lại sinh Tài,
Khí chất cương minh đầy to lớn;
Dẫu cho tổ tài không có chia,
Ngọc ngà châu báu trời sẽ ban.

Thương quan thương tận là đứng đầu,
Phúc lộc tài hoa cũng lâu dài;
Tuế vận lại hành thân vượng địa,
Gặp Tài thân vượng quý không sai.

Thương quan không tận lại gặp Quan,
Dứt chặt đường đi họa đủ điều;
Tháng phạm cha con không trọn vẹn,
Ngày phạm bản thân chủ thương tàn.

Giờ phạm con cái nhiều lang sói,
Nên biết phú quý không chu toàn;
Nếu là Thương quan ở Thái tuế,
Năm này tất gây ra nhiều họa.

Hỏa thổ Thương quan nên thương tận,
Kim thủy Thương quan phải thấy Quan;
Mộc hỏa thấy Quan Quan phải vượng,
Thổ kim Quan khử lại thành Quan;

Duy có thủy mộc Thương quan cách,
Tài Quan cùng thấy mới là hay.
Thương quan không thể nói là hung,
Có chế nó vẫn đầy y lộc;

Can đầu Thực thần Chi mang hợp,
Con cháu đầy mắt thọ như tùng.

Thương Quan gặp nhau vốn không nên,
Tài có Quan không là nền móng;
Cách cục Thương quan tháng ngày giờ,
Vận hành Tài vượng quý không sai.

Thương quan thương tận là đứng đầu,
Gặp thêm Thương quan họa lại theo;
Ý mình phạm người tâm háo thắng,
Cốt nhục hình thương không có thể!

Giáp mộc Thương quan Dần Ngọ đủ,
Hỏa sáng mộc tú lợi danh bền;
Vận hành rất sợ Tài Quan vượng,
Hành vận thấy Tuất thọ nguyên dừng.

Ất mộc Thương quan hỏa mạnh nhất,
Vận hành Quan Sát chuyển thành cát;
Chỉ sợ thủy nhiều thương không tận,
Danh lợi cả đời có trái ngược.

Bính hỏa Thương quan táo thổ trọng,
Vận hành Tài vượng phúc thịnh hưng;
Như gặp thủy vận gặp thương diệt,
Đời người rối rít mãi là không.

Đinh hỏa Thương quan hỏa lại nhược,
Chủ người kiêu ngạo có mưu cơ;
Vận gặp Ấn thụ liền Quan Sát,
Buông tay thành gia ai sáng bằng.

Mậu thổ Thương quan kim rất sợ,
Trong trụ sợ nhất hỏa đến phạm;
Kim suy không hỷ hành Tài vận,
Thổ đã tiêu ma kim lại chìm.

Ngày Kỷ Thương quan kim rất vượng,
Cường kim nhu thổ hỷ Tài hương;
Vận gặp Quan Sát mãi có họa,
Danh lợi hưng suy không lâu dài.

Canh kim Thương quan hỷ thấy Quan,
Vận gặp Quan Sát quý muôn vàn;
Chính là Ngoan kim gặp hỏa luyện,
Thiếu niên bẻ quế thượng kim loan.

Tân kim Thương quan Thân Tý Thìn,
Thương quan thương tận hỷ Tài tinh;
Hành vận Đông Nam hỏa cháy mạnh,
Đến hành bối lộc tử tế ngâm.

Nhâm thủy Thương quan sợ trôi mộc,
Thấy Quan thấy Sát lại là thù;
Lại hành Tài vượng sinh Quan địa,
Tài lộc không thiếu đạt đến đầu.

Quý thủy Thương quan sợ thấy Quan,
Sợ nhất Mậu Kỷ thấu thiên can;
Lại hành Tài vượng sinh Quan địa,
Cả đời lao đao họa đủ điều.


Ca quyết Ấn cách

Ngôi sao Ấn thụ phúc đứng đầu,
Lại có quyền sát ở nơi đâu;
Bỗng nhiên hợp thủ nơi nguyên vị,
Thanh chấn triều đình vị không hư.

Ấn thụ cùng được sinh nơi Sát,
Sát đồng tâm nhận lại to lớn;
Vận hành liền có chức trong quân,
Chỉ sợ tương lai tốt không trọn.

Mệnh gặp Ấn thụ phúc không nhẹ,
Thiếu niên theo phep thành hưởng thụ;
Vượng tướng Ấn nhiều thiên phúc hậu,
Thụ ân thừa ấm lập công danh.

Tháng gặp Ấn thụ hỷ Quan tinh,
Vận nhập đất Quan thanh phúc lộc;
Vận đến tử tuyệt thân bất lợi,
Lại hành Tài vận việc không thành.

Ấn thụ không thiếu hưởng phúc đủ,
Làm quan thừa ấm có trang viên;
Quan được tuyên sắc đầy của cải,
Thường dùng bàn ăn phí vạn tiền.

Trùng trùng Ấn thụ cách thanh kỳ,
Trong chi càng phải suy cẩn thận;
Chi gặp Hàm Trì Can mang hợp,
Phong lưu lãng đãng con phá nhà.

Ấn thụ trùng trùng thành hưởng thụ,
Chỉ ngại Thực thần ám tương hình;
Lúc nhỏ nếu không là chết yểu,
Cô khổ ly hương bệnh đủ đầy.

Ấn thụ căn nhiều Tài không sợ,
Hỷ gặp Tỉ Kiếp phúc phôi thai;
Ấn tinh phá tán Quan đến cứu,
Phúc thọ cả đời mệnh mang theo.

Ấn thụ không cần thân thái vượng,
Dẫu có vô sự cũng bình thường;
Trừ phi nguyên mệnh nhiều Quan Sát,
Lại có thanh danh làm cột trụ.

Ấn thụ can đầu trùng thấy Tỉ,
Như hành vận trợ tất thương thân;
Chớ nói cách này không kỳ diệu,
Vận nhập đất Tài phúc lộc chân.

Ấn thụ kị hành đất tử tuyệt,
Sợ nhất Tài vượng lạc Tài hương;
Tuế vận chi tháng trùng hội tụ,
Lại chủ bản thân định tử vong.

Người sinh Ấn thụ thuần khí vượng,
Gặp nhiều Quan Sát chuyển tinh thần;
Ấn hành tử tuyệt cùng Tài địa,
Hết cứu cuối cùng đến tử vong.

Bính Đinh tháng Mão nhiều Quan Sát,
Nhật chủ vô căn không có ích;
Tuế vận nếu gặp Tài vượng địa,
Phản hung thành cát gặp vương hầu.

Nhâm Quý gặp Thân sợ hỏa phá,
Trong cục có thổ quý mới biết;
Bắc phương thủy vận đều là cát,
Như gặp Dần xung mãi không nên.

Nhâm Quý gặp Thân tháng gốc kim,
Trong chi có thổ là chân phúc;
Mười phần hỏa trọng cần Tây Bắc,
Ngoài đây ngừng đến vọng tử thần.

Mậu Kỷ thân suy hỷ thấy Dần,
Sinh gặp Quan Sát cũng vinh thân;
Như gặp hỏa thổ hưng danh lợi,
Vận đến Tây phương sợ Dậu Thân.

Ngày Tân tháng Sửu là Ấn thụ,
Can Quý tháng Dậu thần như nhau;
Tân kim hỷ hỏa sợ Tây Bắc,
Quý thủy cần kim sợ hỏa xâm.

Nhâm Quý sinh gặp tháng bảy tám,
Tài nhiều thổ dày hỷ bắc phương;
Không thương không phá nên hành thủy,
Đế vượng Lâm quan lại không nên.

Bính Đinh tháng Mão Ấn tinh mạnh,
Rất sợ Canh Tân Dậu Sửu thương;
Thủy vận hưng dần mộc hỏa vượng
Hành vận Tây phương định tai ương.

Ấn thụ như gặp ở trong tháng,
Định người tí ấm hiển anh hào;
Đa năng ít bệnh tính cần hỏa,
Có Ấn không Quan phúc cũng cao.

Trên dưới cần nhất gặp Quỷ vượng,
Trung gian thiết kị cùng Tài giao;
Vận đến tử tuyệt thân không nắm,
Tức nhập hoàng tuyền không thể tránh.
Ấn thụ không thiếu dựa tổ tông,
Tài sản nhà cửa đổi môn phong;
Vận khí lưu niên gặp Quan vượng,
Phú quý song toàn bước Nguyệt cung.
Tháng sinh nhật chủ hỷ Quan tinh,
Vận nhập đất Quan lộc tất thanh;
Dung mạo đường đường nhiều sản nghiệp,
Quan cư cứu miếu làm công khanh.
Trùng trùng sinh khí nếu không Quan,
Nên lấy thanh cao kỹ nghệ xem;
Quan Sát không đến không tước lộc,
Dẫu có kỹ nghệ cũng cô hàn.
Can chi Ấn thụ hỷ tự nhiên,
Công danh hào phú lộc thăng cao;
Nếu gặp Tài vận đến thương Ấn,
Thoái chức bãi quan họa khó miễn.
Tham Tài phá Ấn chớ nói hung,
Cần phải tham tường diệu lý thông;
Nếu vận khử Tài vẫn còn phúc,
Tiếp hành Tài vận hết thọ nguyên.
Ấn thụ như qua đất tử tuyệt,
Sợ Tài vẫn còn sợ Không Vong;
Gặp nhau định chủ nhiều hung họa,
Rơi sông, điện giật, tự vẫn chết.


Ca quyết Dương Nhận cách
Dương nhận ở giờ chớ nói hung,
Thân khinh được giúp trái lại thành;

Chỉ sợ năm tháng cùng gặp mặt,
Chớ nắm sinh thời lấy nộ cung.
Dương Nhận sợ xung hợp Tuế quân,
Lưu niên mà gặp chủ họa tai;
Tam hình Thất Sát như giao ngộ,
Tất định Diêm Vương đến dẫn đường.
Giờ gặp Dương Nhận hỷ Thiên Quan,
Nếu thấy Tài tinh họa đủ điều;
Tuế Vận tương xung sao tương hợp,
Đột nhiên họa khởi đến cửa nhà.
Dương Nhận trùng gặp hợp có Thương,
Tâm tính chủ nhân khí cao cường;
Hình xung quá trọng nhiều hung hiểm,
Có chế mới có thể cát xương.
Nhận gặp Thất Sát thích đất Quan,
Chỉ sợ hình xung lộc không thịnh;
Hội hợp lại gặp vận Tài vượng,
Ứng phòng tai vạ làm hại thân.
Tỉ kiên Dương Nhận cách phi thường,
Cần thấy Quan tinh và đất Sát;
Nguyên thần nếu không chế Quan Sát,
Tiếp hành Tỉ Kiếp họa khó đương.
Kiếp tài Dương Nhận thân bất kham,
Tứ trụ không Tài cả đời bần;
Xuất họ quy tông khách hoàn tục,
Tất nhiên tàn tật cũng hại thân.
Nhật can vượng thịnh ở năm tháng,
Thân vượng Chuyên Lộc Tài Quan tuyệt;
Sao chịu Kiếp Nhận cùng gặp mặt,
Mọi chuyện cơ xảo xấu gấp đôi.
Nhật can vượng thậm không chỗ dựa,
Lại hỷ tuế vận đất gặp Tài;

Nguyên mệnh có Tài thấy tài phát,
Không Tài thấy Tài hết thọ nguyên.
Tài tinh khinh nhược Nhận cương cường,
Ở đất thân vượng cát không nhiều;
Phượng quả Loan cô oán đêm lạnh,
Vợ khắc đợi nhàn hai ba chỗ.
Dương thần vốn vượng nhật can cường,
Tứ trụ không Tài bị khắc thương;
Trùng phạm Không Vong Hoa Cái vị,
Áo bào quan miện bái hư không.
Nhận gặp Thất Sát vận đất Quan,
Phá hại hình xung quý dị thường;
Thiết kị hợp gặp đất Tài vượng,
Tất gặp họa tai phản hình thương.
Nhật can Dương Nhận nên gặp Sát,
Vận chuyển Tài Quan quý tất nhiên;
Hình hại đều đủ là cát địa,
Tài thần hội hợp là năm tai.
Xuân mộc Hạ hỏa gặp thời vượng,
Thu kim Đông thủy giống như nhau;
Dương Nhận không nên thiên can lộ,
Tuế vận gặp nhau mọi việc hung.
Bính sinh tháng Ngọ là gốc Nhận,
Đến vận giang hồ chân lợi danh,
Quan vượng hỷ hành Dần Ngọ Tuất,
Không Quan phải cần Thân Tý Thìn.
Canh kim tháng Dậu trọng sinh vượng,
Trừ phi hỏa luyện khí mới thành;
Hành vận Đông Nam tài danh phát,
Tây Bắc gặp nhau họa đến liền.
Nhâm sinh Đông vượng tất phải lo,
Thấu Ấn tàng Quan cục lợi lộc;
Bất phân thuận nghịch vẫn phú quý,

Thương hình còn phá nguyệt lệnh hưu.
Thủy vượng lại sinh cung Tý Hợi,
Thủy nhiều hỏa nhược gặp cách trọng;
Trọng hành hỏa thổ Tài Quan vượng,
Đến vận Tây Bắc bước bước hung.
Dương Nhận thường cục ở trước Lộc,
Tính cương quả nghị ít hiền từ;
Không nên hội hợp phòng tai đến,
Nếu thấy Tài tinh họa tất vây.
Có Quan có Sát danh hiển đạt,
Không xung không phá lộc vinh thiên;
Lại thêm Khôi Cương sao hình hại,
Phát tích biên cương nắm trọng quyền.


Ca quyết Tài cách
Chính Tài hỷ vượng Thực đầy đủ,
Nhật chủ cương cường lực có thắng;
Nếu là Tài đa thân tự nhược,
Cả đời phá bại việc không thành.
Chính Tài cũng giống như Quan tháng,
Can chi rất sợ gặp phá xung;
Tuế Vận nếu đến đất Tài vượng,
Cần giảng được phú thắng Đào Công.
Thân nhược Tài đa lực không thắng,
Sinh Quan hóa Quỷ lại đến xâm;
Tài đa thân mạnh mới là quý,
Nếu là thân suy họa càng lâm.
Chính Tài thiết kị thần Kiếp tài,
Phá hại hình xung không thể nói;
Tuế Vận sao kham đất gặp Nhận,
Mệnh mời không chết cũng gặp khó.

Tài tinh đắc địa chính nắm quyền,
Nhật chủ cao cường danh lợi đủ;
Ấn thụ nếu gặp cùng trợ giúp,
Vàng bạc châu báu để đầy nhà.
Thân vượng không Quan chỉ thủ Tài,
Tài thần xung phá lại thành tai;
Thân suy Tài vượng vẫn biết yểu,
Quan thịnh thân cường phúc lộc nhờ.
Tài đa cần dựa Ấn phù thân,
Nhà thanh cao cây có tiếng cũ;
Không những vợ hiền mà con đẹp,
Về già tài bạch tích nghìn vàng.
Tài đa làm sao không phát tài?
Chỉ vì thân nhược thiếu bồi dưỡng;
Vận đến Tỉ kiên thân vượng địa,
Phú quý vinh hoa thứ tự đến.
Tài đa thân nhược chớ lao nhọc,
Cửa lớn nhà hư lại chịu bần;
Có bạn giao tài thường oán hận,
Phú quý vinh hoa thứ tự lại.
Tài suy thân vượng Nhận cương cường,
Ở đất thân vượng không tốt lắm;
Phượng quả Loan cô oán đêm lạnh,
Trong phòng vợ khóc hai ba bàn.
Tài mệnh tương đương người tất chịu,
Cả đời an nhiên thân mạnh khỏe;
Dẫu có lưu niên gặp đất Tài,
Họa nhỏ nỗi lên không có ngại.
Tài thần kị thấu chỉ nên tàng,
Thân vượng gặp nhau đại cát xương;
Thiết kị Tỉ Kiếp cùng gặp mặt,
Danh lợi cả đời bị phân tranh.

Nhật chủ vô căn Tài phạm trọng,
Toàn dựa thời Ấn trợ cung thân;
Phùng sinh tất có hưng gia phúc,
Phá Ấn phân chia mãi là không.
Chính Tài không phá thì sinh Quan,
Thân vượng Tài sinh lộc vị rộng;
Thân nhược Tài đa chỉ phí lực,
Tài khinh phân đoạt họa đủ điều.
Tài đa thân vượng đủ vinh quang,
Thân vượng Tài đa hóa làm Quan;
Thân suy Tài đa mình buồn Tài,
Thị phi không mạnh khởi tranh giành.
Tài tinh khí thịnh hỷ sinh Quan,
Thân vượng nên xem là mệnh tốt;
Nếu còn Tài thịnh thân lại nhược,
Lại gặp Quan vượng chủ bần hàn.
Thiên Tài cách gặp rất khó tỏ,
Nhật vượng lại cần cao lộ hành;
Cả đời vì tài người chê bai,
Tài đa thân nhược càng sinh tai.
Thiên Tài không là tài của mình,
Rất sợ Tỉ kiên đến cùng chỗ;
Kiếp Bại không gặp nhật chủ mạnh,
Của nhà đang phát anh cả nếm.
Thiên Tài vốn là của mọi người,
Tối kị can chi huynh đệ đến;
Thân cường Tài vượng đều là phúc,
Nếu mang Quan Sát càng đẹp thay!
Nếu là Thiên Tài mang Chính Quan,
Kiếp tinh nếu lộ phúc khó thành;
Không nên Kiếp vận đến hợp trọng,
Xứ này mới biết họa đủ điều.
Thiên Tài thiên vị phát đất khách,

Rộng rãi phong lưu tính cần mạnh;
Biệt lập gia cư hai ba xứ,
Vì danh vì lợi bận vì nhà.
Thiên Tài biệt lập nơi đất khách,
Sợ vợ yêu thiếp lại chịu hại;
Đa dục đa tình nhiều thê thiếp,
Càng thích làng tửu cùng hương hoa.
Thiên Tài thân vượng là anh hào,
Dương Nhận không xâm nhiều phúc lộc;
Có tình kết thực nên khảng khái,
Nếu còn thân nhược chớ lao công.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc