Phàm xem nữ mệnh, trước xem chồng con hưng hay suy, phải nghiên cứu vinh hay khô, thứ xem ngày giờ khinh hay trọng. Quan là chồng, Tài là cha, Tài vượng Phu vinh; Thực là con, Ấn là mẹ, Ấn thịnh con suy, nhật can không cần thái vượng, nguyệt khí ắt phải trung hòa.

I. Luận Tổng Quan Về Nữ Mệnh

  • Nhật chủ vượng tướng: Đoạt quyền chồng mà cô khổ.
  • Nguyệt lệnh hưu tù: Vốn yên phận mà chăm lo gia đình.
  • Quan tinh đắc địa: Chồng chủ vinh hoa.
  • Thương quan không khắc: Con tất quý hiển.

Có Quan không thể thấy thêm Sát, có Sát mà không thể gặp Quan. Giả sử Quan Sát hỗn tạp, là người được yên ổn an tường không? Quan tinh không khắc, gặp Nhị Đức, có thể phong tước lưỡng quốc. Thất Sát có chế, gặp Tam Kỳ là địa vị nhất phẩm. Thêm Thực thần chế Sát sinh Tài, nắm Thương quan mà cướp khí khắc chồng, tham Tài phá Ấn, sao là người lương thiện chứ?

Dụng Sát gặp Quan, không phải là người đàn bà tiết hạnh, cô bần hạ tiện. Bởi vì Tử tinh ở tử, hưu tù, phú quý tranh vanh. Chỉ vì Phu tinh hưng thịnh, Tử tinh vượng. Quan thái vượng, công thọ khó kéo dài.

  • Tài quá nhiều: Là lão bà sớm chết.
  • Thân ở vượng địa: Tuy phú đủ, Phu Tử hình thương.
  • Nhật chủ gặp đất suy: Dù bần hàn mà phu tử đoàn tụ.
  • Nhật vượng: Khéo léo ở nghề nghiệp phụ nữ.
  • Nhật chủ suy: Vụng về ở nữ công.

Quý thần một vị, không phú cũng vinh. Số hợp thần nhiều, không phải gái điếm cũng là ca kỹ. Quý nhân còn có Dịch Mã, quyết chủ phong trần mỹ kỹ.

  • Quan tinh mang Đào hoa: Định là người lương thiện trong thâm viện.
  • Đơn độc một Thực thần: Yên ổn mà có con, có thọ.
  • Hợp nhiều quý nhân: Kiều mị mà nhiều tiện lại đa tình. Đào hoa không nên Đảo Sáp.
  • Mộc dục tối kỵ lỏa hình: Phạm nhiều là kẻ nô tỳ, gặp nhất định làm sư ni.
  • Tứ Trọng (Tý Ngọ Mão Dậu) đủ: Chính là nữ tửu sắc hoang dâm.
  • Tứ Mạnh (Dần Thân Tị Hợi) đủ: Chính là người phát sinh thông minh.
  • Sửu Mùi hình mà không kỵ, Thìn Tuất xung chỗ không phải tốt.

Đại để phu tinh phải gặp kiện vượng, bản thân phải được trung hòa. Thực thần không thể hình thương, Tử tinh phải đến sinh địa. Ấn tinh sinh thân nên có một vị, thì có Tài thần phát phúc, thấy nhiều không có tổn thương.

Tài cường thân nhược, không thể phát phúc. Thân cường Tài nhược, an thân là tốt sao?

  • Gặp nhiều Thương quan: Là người khắc phu tinh mà tái giá.
  • Ấn thụ quá nhiều: Phụ nữ không chết do giải phẫu cũng phải khốn khổ vì sinh đẻ.
  • Hình xung Dương Nhận: Là ngu muội vô tri.
  • Phá hại Kim thần: Bệnh huyết khó sinh sản.
  • Tứ trụ không có phu tinh: Không làm vợ bé cũng làm vợ kế.
  • Bát tự có Không vong: Không là quả phụ cũng là cô loan.

Đại khái phụ nữ xem quý tiện phải xem ngôi vị phu tinh, vinh khô (sang hèn) thì nghiên cứu Tài Quan. Chỗ này gọi là “Thiên y hồ địa, Địa phụ hồ thiên” (trời dựa đất, đất nương trời), cho nên quý là theo chồng mà quý, bần dựa theo chồng mà bần là vậy.

II. Tám Loại Mệnh Cách Tiêu Biểu Của Nữ Mệnh

Nữ mệnh trong Bát tự có tính đại biểu gồm 8 loại mệnh cách:

  1. Vượng phu thương tử: Cách này lấy trụ giờ mà suy đoán. Giờ là đất quy về, hai sao Phu, Tử dẫn quy về trụ giờ. Phu tinh sinh vượng, Tử tinh suy bại.
    • Ví dụ: Bính Tuất, Bính Thân, Đinh Tị, Tân Hợi. Đinh tọa Tị là tự vượng, lấy Nhâm thủy là phu tinh. Trụ giờ là đất Phu tinh lâm quan, trong chi tháng Thân kim là đất phu tinh trường sinh. Lấy Tân kim là Tài, tháng 7 kim vượng, so với hai Bính, Tài Ấn đều tọa dưới phu. Cho nên chủ phu tinh thông minh thanh tú phú quý. Đinh lấy Mậu là Tử tức, dẫn đến trụ giờ thấy Hợi, trong Hợi có Giáp mộc có thể khắc Mậu thổ, tức là Tử tinh bị khắc. Cho nên mệnh chủ là Vượng phu thương tử.
  2. Vượng tử thương phu: Lấy trụ tháng và giờ suy đoán. Gọi khắc Ta là Quan là chồng, là Phu tinh. Đắc khí, đắc thời thì chồng phát phúc. Nếu can chi thất vị không được khí tháng, trong trụ lại gặp xung khắc, trụ giờ lại không có vượng khí mà để sinh con dẫn tới trụ giờ gặp đất trường sinh, lâm quan, đế vượng, lại không có hình khắc tức là cách Vượng tử thương phu.
  3. Thương phu khắc tử: Phu tinh có can chi thất vị, tháng sinh thất thời, trong trụ lại gặp xung khắc, chi giờ cũng không có tọa giúp đỡ. Kiêm có Ấn thụ nhiều cướp khí Phu tinh, khắc tử nặng. Phu, tử không thể vượng, chính là cách này.
  4. An tĩnh thủ phận: Phu tinh có khí, can tháng tự vượng, không gặp hình xung, Tài Thực được chỗ tức là vợ chồng hài hòa là cách An tĩnh thủ phận.
  5. Thiếu niên yểu tử: Thân nhược mà gặp Sát nhiều khắc thân, lại mang hình xung phá bại. Hoặc trong mệnh gốc có Quan tinh bị thương, hành vận lại gặp đất Quan. Hoặc không có Quan mà thấy Thương, vận phục đất Quan. Hoặc mang Nhận không có chế, vận hành hợp đất Nhận cùng Vong thần, Kiếp sát, tức thành cách này. Không luận mệnh nam nữ gặp cách này đều là chủ hung tai, cũng có họa gian dâm mà chết.
  6. Phúc thọ đều đủ: Thân tọa đất vượng, thông ở khí tháng, can chi giúp nhau, lại mang Tài Quan Ấn thụ, tất cả đều được ngôi vị. Hoặc thân vượng mà vận hành đất Tài Thực, tức là cách này.
  7. Chính Thiên cùng chỗ: Một vị phu tinh, hai vị thê tinh. Nếu bản thân tự vượng, thân kia gặp suy, tứ trụ không xung thì Ta là chính còn kẻ kia là Thiên. Nếu kẻ kia vượng còn ta suy, tứ trụ xung ta thì kẻ kia là Chính ta là Thiên. Cả hai đều là Chính Thiên cùng chỗ là cách Phu phụ tương hợp.
  8. Lấy chồng không chắc chắn (Chiêu giá bất định): Trong chi tháng có Phu tinh thấu can cùng bản thân ta tương hợp, bản thân theo phục tùng. Phu tinh lại vô khí vô thời, dẫn đến Phu tinh hoặc Sát tinh, lại vừa thừa vượng địa đến khắc bản thân, gọi là cách Chiêu giá bất định. Nếu Phu tinh không vượng hoặc bị khắc chế, tất lấy chồng muộn, hoặc chồng không có gì là khá hơn, hoặc là có ngoại tình.

III. Luận Giải Chi Tiết Tám Cách

  1. Vượng Phu Khắc Tử Nữ nhân tại sao gặp Vượng Phu khắc Tử? Chỗ này thì phải theo trụ giờ mà suy đoán, bởi vì trụ giờ là chỗ quy về của Phu tinh, Tử tinh. Bất kể dạng nào, sau cùng tóm lại phải dẫn quy về trên trụ giờ, mà Phu tinh kiện vượng, Tử tinh sẽ lại thành nhược.
    • Ví dụ: Năm Bính Tuất, tháng Bính Thân, ngày Đinh Tị, giờ Tân Hợi. Bản thân Đinh hỏa sinh ở tháng Thân, chi ngày lại làm cho ở nơi xứ đế vượng, bản thân tự vượng. Đinh hỏa lấy Nhâm thủy làm Phu tinh, chi giờ lại vừa đúng Nhâm thủy ở đất lâm quan lộc địa, mà phu tinh Nhâm thủy và chi tháng Thân lại ở xứ trường sinh. Lại lấy Tân kim là Tài, tháng 7 kim vượng, so với 2 Bính, Tài Ấn đều tọa phu tinh. Cho nên chồng chủ thông minh tuấn tú mà phú quý. Đinh lấy Mậu là Tử tức, dẫn tới thời thượng thấy Hợi, trong Hợi có Giáp mộc khắc Mậu thổ, là Tử tinh bị khắc mà gặp khó khăn vậy. Cho nên là chủ Vượng phu khắc tử.
  2. Vượng Tử Thương Phu Có vượng tử thương phu là sao vậy? Phép này chuyên lấy trụ tháng và giờ mà đoán. Gọi là khắc Ta chính là Quan là phu tinh. Có khí đắc thời thì chồng phát phúc. Nếu can chi thất vị không được nguyệt lệnh, trong trụ lại gặp xung khắc, trụ giờ lại không có vượng khí, mà bản thân sinh con dẫn tới trụ giờ, gặp vị trí trường sinh, lâm quan, đế vượng, lại không có hình khắc, là Vượng tử thương phu vậy.
    • Ví dụ: Ất Mão, Giáp Tuất, Ất Mão, Mậu Dần. Ất dụng Canh là phu tinh, tháng 9 Canh kim vô khí. Ất dụng Bính là Tử tinh, Bính hỏa trường sinh ở Dần, cùng Tuất hội cục đều thuộc hỏa. Nguyệt lệnh vừa không có khí kim, dẫn đến giờ là tuyệt địa, lại bị hỏa khắc, là hại Phu tinh, mà vượng Tử tức. Cho nên gọi là Vượng tử thương phu.
  3. Thương Phu Khắc Tử Thương phu khắc tử, là can chi phu tinh thất vị, tháng sinh thất thời, trong trụ lại gặp xung khắc, chi giờ lại không sinh phù. Còn kiêm Ấn thụ gặp nhiều cướp khí phu tinh, khắc Tử tức nặng. Phu tử đều không thể vượng, trái lại tuyệt ở trụ giờ chính là cách này vậy.
    • Ví dụ: Bính Tý, Canh Tý, Ất Hợi, Bính Tý. Ất lấy Canh làm phu tinh, tháng Tý kim hàn thủy lạnh, lại kim tử ở tử địa. Chi Hợi Tý thủy cướp khí kim hết tận, trụ không có thổ sinh trợ Quan tinh. Hỏa nhiều cho nên hại phu tinh. Ất mộc lấy Bính hỏa làm Tử tinh, dẫn tới trụ giờ, là đất thủy vượng hỏa bị diệt. Cho dù can trụ năm và giờ có 2 Bính hỏa, bị quần thủy vây khắc, phu tử đều chết. Cho nên viết Thương phu khắc tử.
  4. An Tĩnh Thủ Phận An tĩnh thủ phận, là phu tinh có khí, nhật can tự vượng, quân bình không có khắc, không gặp hình xung, là chỗ được Tài Thực vậy.
    • Ví dụ: Quý Tị, Canh Thân, Ất Mão, Tân Hợi. Ất tọa Mão là chuyên lộc tự vượng, lại được chi giờ có chữ Hợi hợp cục, là bản thân vượng vậy. Lấy Canh kim là phu tinh, tháng 7 Canh kim đắc lộc, lại được chi năm Tị là đất kim trường sinh, là phu tinh vượng vậy. Trong Hợi có Nhâm thủy là Ấn thụ chỗ sinh bản thân. Chỗ này chính là bản thân và phu tinh cả hai đều không hại nhau, tất cả đều thừa vượng khí, không có hỗn loạn, vợ chồng hài hòa, là cách An tĩnh thủ phận vậy.
  5. Thiếu Niên Chết Yểu (Hoành Yểu Thiếu Niên) Hoành yểu thiếu niên là, chỗ tạo hóa cùng tuyệt, cách cục biến dị vậy. Có nhiều biểu hiện như huyền lương (treo cổ tự tử), nịch thủy (chết đuối), huyết sản (bệnh về sinh sản), chết sớm, bị người giết… là tại sao vậy? Chính là thân nhược mà gặp Sát trọng, Sát nhiều thì khắc thân, lại mang hình xung phá bại. Hoặc trong mệnh vốn có Quan tinh bị thương, hành vận lại gặp đất Quan. Hoặc không có Quan mà thấy Thương, vận lại ở đất Thương quan. Hoặc thấy Nhận không có chế, lại hành hợp đất Nhận, cùng Vong thần, Kiếp sát (nam nữ xem chung).
    • Ví dụ: Đinh Mão, Quý Sửu, Canh Thìn, Bính Tý. Canh dụng Đinh làm Quan, bị Quý thủy Tý Thìn Thương quan gặp trùng điệp, khắc quá nặng, thủy đa kim trầm. Vào vận Đinh Tị, là Thương quan kiến Quan, lại gặp Bính Sát khắc thân, cho nên bị chết đuối.
  6. Phúc Thọ Đều Có Phúc thọ lưỡng bị (đều có), tạo hóa trung hòa, là cách cục thuần túy vậy. Là thân tọa đất vượng, thông ở khí tháng, can chi giúp nhau, lại kèm theo Tài Quan Ấn thụ, tất cả đều được vị trí, không hành thoái tài, phá Ấn cùng Thương quan cục, càng hỷ Thực thần, Thiên trù. Nếu thân vượng mà hành đất Tài Thực, chỗ này đều là phúc thọ lưỡng bị.
    • Ví dụ: Bính Tý, Canh Tý, Tân Dậu, Quý Tị. Tân tọa chi Dậu, là chuyên lộc tự vượng. Giờ Quý quy lộc ở Tý là Thực thần, Thọ tinh, Tử tinh đắc địa. Tân dụng Bính là Quan, Bính lộc quy về ở Tị, là phu tinh đắc địa, lại sinh ở tháng 11, gọi là tượng kim bạch thủy thanh. Kiêm cả can chi trên dưới giúp nhau, đều không bị tổn thương, thân không tòng hóa. Cho nên chủ là người có mỹ mạo đoan chính, chồng con quân bình, là cách phúc thọ đều có.
  7. Chính Thiên Tự Xứ Chính thiên tự xứ, là phụ nữ phát sinh tương hợp, lại gặp Tỉ kiên phân tranh, như một vị phu tinh cùng ngôi vua thê tinh tương hợp, gọi là Tranh hợp. Như bản thân ta tự vượng, nó gặp suy, tứ trụ không xung, thì ta là Chính mà nó là Thiên. Bởi vì ta sinh vượng mà có khí, thì chồng theo ta là Chính. Thân ta suy mà nó vượng, thì chồng theo nó, ta trái lại là Thiên, gọi là gặp vượng đoạt khử mất chồng ta, ta chỉ được là Thiên. Hoặc tự vượng thái quá, trụ không có phu tinh, cũng là Thiên; hoặc Quan Sát hỗn tạp, hoặc Thương quan quá trọng, cũng là Thiên, càng dâm lạm.
    • Ví dụ 1: Nhâm Tý, Bính Ngọ, Tân Dậu, Tân Mão. Tân dụng Bính là phu tinh. Ta tọa chi Dậu, là chuyên lộc là tự vượng, lại có trụ giờ dẫn kim Tân Mão là ta vượng, nó thì vô lực. Cho nên ta là Chính mà nó là Thiên. Chỗ này là hai nữ tranh một chồng, là Chính Thiên tự xứ.
    • Ví dụ 2: Quý Mùi, Nhâm Tuất, Quý Tị, Nhâm Tý. Quý lấy thổ là chồng. Quý ở Tị là thủy nhược, Nhâm Tý là thủy vượng. Ta không thắng nổi nó, bị Nhâm thủy tranh mất Mậu thổ là chính phu, ta chỉ được là Thiên. Nhưng mà Nhâm thủy trọng mà quá lạm, lại mang Đào hoa, không thể tự xứ (tự ở với nhau).
  8. Chiêu Giá Bất Định (Lấy Chồng Không Chắc Chắn) Chiêu giá bất định (lấy chồng không chắc chắn), là trong nguyệt lệnh có phu tinh, can tú xuất ra cùng bản thân tương hợp, bản thân lại ở nơi ẩn phục, chỉ thích nghe theo. Nhưng mà khí lực phu tinh lại suy vi, trụ giờ lại dẫn phu tinh hoặc Sát tinh, đến đất vượng thịnh mới cầu tìm lực lượng khắc chế bản thân. Dạng này lại chỉ thích chiều theo tình phu, cho nên mới gọi là Chiêu giá bất định. Nếu như phu tinh không kiện vượng, bị gặp khắc chế, nhất định là kết hôn muộn. Có cùng chồng cảm tình không hòa hợp, có chồng tầm thường không có gì nổi bật, có ngoại tình, có tình riêng.
    • Ví dụ: Quý Dậu, Giáp Tý, Kỷ Mùi, Ất Hợi. Kỷ dụng Giáp là phu tinh, sinh ở tháng 11 là mất thời lệnh, không kiện vượng. Chi giờ Hợi làm cho phu tinh Giáp mộc dẫn tới đất trường sinh mà kiện vượng, lại không có cách nào thấu đến can năm hoặc trên can tháng, không thể hợp cục. Mà làm cho Ất mộc chế phục Kỷ Mùi thổ, Mùi là mộ khố của Ất mộc. Giáp mộc sinh ở tháng Tý, khiến cho phu tinh chỗ ở đất bại địa, mà chi giờ Hợi lại là Giáp mộc đất trường sinh. Loại này là nhớ Giáp mà lấy chồng Ất, tình huống này chính là “Chiêu giá bất định”.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc