Ngũ Ngôn Thủ Dụng Quyết:

Luận Mộc:

Mộc sinh tháng Xuân vượng, Thủy nhiều chủ tai ương.
Chẳng phải nghèo khốn giữ, chính là chết yểu vong.
Rất thích Mậu Kỷ Thổ, gặp Hỏa đại cát tường.
Gặp Quan trái không Quan, Canh Tân mệnh chẳng cường.
Hè Mộc chẳng phải điêu, Hỏa viêm sợ Thổ táo.
Hỏa thịnh cần Thủy dưỡng, Thủy thịnh Mộc ắt trôi.
Rất thích gặp Dần Mão, Tý Thìn cũng là tốt.
Tài Quan nếu căn nhẹ, Ngọ Mùi vận chẳng cao.
Mộc sinh Tứ Quý tiết, sao đem Mậu Kỷ khắc?
Cầu gặp Nhâm Quý Thủy, lại nên Kim trùng điệp.
Thìn Sửu nên dùng Hỏa, Mùi Tuất Thủy Mộc phò.
Toàn là Hỏa Thổ hiện, Thổ vận cũng khả an.
Thu Mộc gặp vượng Kim, Kim vượng tức thương thân.
Chẳng nên gặp lại Thổ, Can đầu yêu Bính Đinh.
Kim Mộc nếu tương chiến, Tài vận ngược lại sa vào.
Nhâm Quý nếu tương trợ, định rằng danh lợi hanh.
Đông Mộc lá khô héo, Thủy lạnh sợ Kim gọt.
Có Thổ gặp được Hỏa, ấm áp nảy mầm non.
Đông thiên Thủy Mộc lan, danh lợi đều hư không.
Vận gặp Hỏa Thổ trợ, danh lợi mới tự như.

Luận Hỏa :

Hỏa đến Xuân thấy Dương, Mộc thịnh Hỏa ắt mạnh.
Thủy vượng Kim chẳng vượng, phú quý lẽ đương nhiên.
Hỏa nhiều Mộc ắt cháy, rất thích gặp Quan hương.
Chi trung thấy nhiều Mão, ngược lại thành tai ương.
Hè Hỏa chẳng tầm thường, Mộc nhiều chủ chẳng lành.
Thủy vượng cần Kim tương, mới tỏ rõ cao cường.
Hỏa thịnh Thổ ắt khô, không Thủy sao tốt được?
Nên Nhâm chẳng nên Quý, chẳng cần Dần Mão quanh.
Hỏa sinh Tứ Quý suy, Thủy nhiều thường có hại.
Dùng Kim chẳng hòa hợp, Giáp Kỷ thích tương ái.
Mùi Tuất nhiều cô quả, Sửu Thìn là lương tài.
Chớ gặp Mậu Kỷ vượng, tất định có họa ương.
Tháng Thu Hỏa chẳng mạnh, chỉ thích Giáp Bính giúp.
Dùng Mộc còn dùng Thổ, Thổ nặng tức là ương.
Tuế vận gặp Hỏa địa, tự nhiên Tài hưng vượng.
Thủy thịnh rất vô tình, chẳng yểu mắt cũng mù.
Hỏa sinh Đông chẳng vượng, Tứ trụ sợ Kim hương.
Yêu dùng Giáp Ất Mộc, Can hợp Mậu Kỷ hương.
Nhân sinh nếu gặp đây, tất định là quan lang.
Chỉ sợ Tài Sát vượng, hình xung gặp Diêm Vương.

Luận Thổ :

Tháng Xuân sinh Mậu Kỷ, khó địch Giáp và Ất.
Dùng Kim ắt có lợi, có Hỏa mới là kỳ.
Chẳng lo Xuân Thủy vượng, thân suy ngược không nương.
Thủy Hỏa lưỡng tương tế, mới có thể danh lợi.
Mậu Kỷ tháng Hè sinh, Can đầu thích thấy Kim.
Vượng gặp Hỏa Bính Đinh, không Thủy chẳng hiển vinh.
Thủy Hỏa tên ký tế, Mậu Kỷ được an sinh.
Chỉ lo Mộc Hỏa thổ, khô nóng thân chẳng yên.
Tứ Quý Mậu Kỷ vượng, chẳng nên Hỏa viêm hương.
Giáp Ất thích tương phùng, dùng Thủy định cát tường.
Sửu Thìn đơn dùng Hỏa, Mão vượng danh tiếng vang.
Tuất Mùi Thủy Mộc hương, Mậu Kỷ kỵ lại giúp.
Tháng Thu gặp Mậu Kỷ, Kim vượng tiết Thổ khí.
Dùng Hỏa mới thành khí, dùng Thủy chẳng tương nghi.
Lúc này lo Mộc vượng, sao không có tai ương?
Hoặc là bị người bắt nạt, hoặc là có tàn tật.
Mậu Kỷ gặp Đông sinh, thấy Kim tức chẳng vinh.
Giáp Ất tuy là bệnh, có Hỏa là công khanh.
Chi trung nếu không căn, làm người định phiêu lưu.
Phải được Mậu Kỷ giúp, Hợi Tý là Tài hương.

Luận Kim :

Kim sinh tháng Xuân địa, sao dùng Giáp Ất được?
Dùng Thổ còn thương Hỏa, không thương chẳng là kỳ.
Kim Mộc nếu tương chiến, hai Đinh danh lợi tề.
Nếu là thích Thủy vượng, hưu tù khổ không nương.
Canh Tân tháng Hè sinh, mỗi sáng gặp Bính Đinh.
Chớ dùng Giáp Ất Mộc, Nhâm Quý Thủy đảm đương.
Chẳng nên lại gặp Hỏa, Hỏa vượng Kim ắt tan.
Mậu Kỷ Thổ đến giúp, tất định danh lợi hanh.
Tứ Quý vượng sinh Kim, mẹ vượng con tương sinh.
Dùng Mộc chính dùng Thủy, chỉ sợ Thủy chôn Kim.
Tuất Mùi gặp vượng Hỏa, thấy Thủy được an sinh.
Sửu Thìn dùng Bính Đinh, Mộc hương có danh tiếng.
Tháng Thu Kim vượng nặng, Thủy Thổ đều vô công.
Hỏi anh dùng cái gì, rất thích Tài Quan phùng.
Vượng Hỏa đúc kim chung, Tuế gặp danh lợi thông.
Anh Hoặc không căn khí, nghèo hèn cửu lưu đồng.
Canh Tân sinh ở Đông, Đông Thủy vượng vô cùng.
Thủy vượng Kim ắt chìm, sớm chết tuổi thiếu đồng.
Chi an căn lộc nặng, Ấn sinh mới thái bình.
Tuy rằng thích gặp Thổ, không Hỏa chẳng hiển vinh.

Luận Thủy :

Xuân Thủy chẳng đương quyền, Mộc thịnh đoạt Thủy nguyên.
Dùng Kim lễ tương kiến, thấy Hỏa vui phong nguyên.
Thủy Mộc Thương Quan cách, thích thấy Tài cùng Quan.
Thủy Mộc lưỡng tương kiến, không đến nhân thế gian.
Thủy sinh tháng Hè thiên, Mộc nhiều Hỏa viêm viêm.
Chớ nói Tài Quan vượng, chỉ cần chẳng khô nguồn.
Kim Thủy nếu tương hàm, danh lợi lưỡng tương hoan.
Thổ táo Kim chẳng thấy, chẳng thể thành phương viên.
Thủy sinh Tứ Quý nhược, Thổ vượng chẳng tương hợp.
Dùng Kim lo gặp Hỏa, dùng Mộc sợ Kim nhiều.
Thổ vượng ác Sát xâm, một mệnh gặp Diêm La.
Sửu Thìn là căn nó, Tuất Mùi rất sợ Hỏa.
Nhâm Quý sinh ở Thu, sinh người vui ung dung.
Mậu Kỷ thích tương phùng, có Hỏa vui phong lưu.
Chẳng nên Kim lại vượng, danh cao ngược chẳng cao.
Tài Quan nếu tương vượng, phúc thọ độ xuân thu.
Đông Thủy vượng vô cùng, Kim Mộc đều vô công.
Can thấu Mậu Kỷ Thổ, phú quý Bính Đinh phùng.
Chỉ lo Kim Thủy vượng, Phụ tinh ngược bị xung.
Tổ nghiệp khó nương tựa, cắm rễ Hỏa Thổ trung.

Đoán Vận Thiên :

Mệnh định Bát tự ba đời lành, quý tiện cao thấp vận khí tường.
Trường Sinh gặp Sát rất có tai, Mộc Dục xung cung sợ hình thương.
Quan Đới Lâm Quan sợ Quan vận, Thất Sát phùng Tài không thể đương.
Kiếp sợ thấy Tài, Tài sợ Kiếp, Tài Quan rất kỵ nhập Không Vong.
Quan hành Quan địa Quan bị hại, một thấy Thương Quan một bị thương.
Mộc phùng Nhâm Quý chủ phiêu lưu, Nhật chủ vô căn độ xuân thu.
Tuế vận gặp phải Tài Sát vượng, phùng hung hóa cát phú ung dung.
Nhâm Quý nhiều gặp Mậu Kỷ thương, Sát tinh cần Mộc đến hàng.
Tuy rằng danh lợi lên cao hiển, nhưng mà bình sinh tồn chẳng dài.
Thu Thổ dưỡng địa Đông phương hại, năm đường Âm Dương phải suy tường.
Nhật gặp Hỏa địa phát vinh triệu, vượng hưu cường nhược đoán tai ương.
Giáp Thân Kỷ Dậu là Không Vong, Canh Ngọ Kỷ Mùi đại bất tường.
Bính Tân Thìn Tị gặp bất hạnh, Đinh Mão Nhâm Dần bệnh tai ương.
Mậu Quý vốn không Tý Sửu, tuyệt lộ Không Vong thọ chẳng dài.
Trường Sinh đáng phát trung niên phúc, thân mạnh khỏe mạnh tài nguyên vượng.
Lưỡng Quý tương phát danh tiếng hiển, mua bán kinh doanh làm ruộng trang.
Sinh Vượng thai nguyên căn cơ dày, gốc sâu lá tốt hưởng lộc vua.
Phụ Mẫu tương sinh anh em tốt, vợ chồng ân ái con thành hàng.
Quan Đới Lâm Quan trung niên tốt, Tài Quan song toàn công danh vang.
Lão niên hành giao Dưỡng tự vận, con hiếu cháu hiền phúc đầy nhà.
Thiếu niên chẳng nên gặp Suy Tuyệt, hình xung phá hại sợ Không Vong.
Tổ nghiệp phá bại khó giữ được, lẽ đáng khắc cha hoặc xa quê.
Cô khổ linh đinh dựa người khác, ít vợ không nghề đi tha hương.
Đám Âm đám Dương sinh tai bệnh, trong miếu an thân đi thắp hương.
Tam Quan Tứ Sát chớ gặp phải, vô căn định chủ thấy Diêm Vương.
Tử Mộ Tuyệt Thai trung niên sợ, Tài hành tuyệt địa sợ Không Vong.
Không lập vạn quan gia tài sản, như gió thu sương trên cỏ.
Quan Ấn thấy Thương, Thương đoạt Ấn, Quan xung Kiếp Nhận có trở thương.
Tài hành Tài địa Tài bị hại, Ấn hành Ấn địa Ấn có thương.
Long Hổ rất sợ Thiên La Võng, Tý Ngọ Mão Dậu Ấn có thương.
Lão niên rất sợ Trường Sinh vận, nếu gặp hình xung khó hoàn dương.
Kim sợ Lâm Quan Mộc sợ Suy, Thổ hành Mộc Dục ắt thấy tai.
Hỏa đến Tử địa không có gì, Thủy về Tuyệt địa chẳng về quê.
Trường Sinh Suy tự thuộc Kim đồng, Đế Vượng Mộ tự cùng Mộc hành.
Mộc Dục Bệnh Tuyệt Thai thuộc Thủy, Lâm Quan Tử tự như Hỏa hồng.
Quan Đới Suy tự cùng thuộc Thổ, mười hai Trường Sinh phân Ngũ Hành.
Trường Sinh rất sợ Kiếp Tài giáng, Mộc Dục một thấy Tỷ Kiên vong.
Quan Đới rất sợ Kiến Lộc tai, Lâm Quan gặp Kiếp cũng khó phòng.
Quan Đới rất sợ Thương Quan thấu, Suy sợ Chính Thiên lưỡng Tài hương.
Tử tự Chính Quan Mộ Sát hương, Dưỡng gặp Tỷ Kiên đại bất lương.
Già sợ Đế Vượng trẻ sợ Suy, trung niên rất sợ Tử Tuyệt Thai.
Kim Suy Mộc Tuyệt Thổ sợ Dưỡng, Hỏa gặp Bệnh tự chẳng dài lâu.
Thổ mệnh sinh người sợ vượng Mộc, Thủy gặp Tử Tuyệt là tai ương.
Tuế vận phùng xung nhiều có họa, Thực Thần gặp hình thấy Diêm Vương.
Kim Suy ắt ở trên Hỏa chết, Hỏa chết tất định trên Thủy vong.
Thủy Bệnh vốn sợ Mậu Kỷ, Mộc Tuyệt không thể về Tây phương.
Đây là một bộ Đoán Vận Thiên, giang hồ thuật sĩ nên tham tường.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc