Bí Quyết Thọ Mệnh Cha

Trong Bát Tự, nếu lấy Thiên Tài làm cha, thì Thiên Tài trong một cách cục nhất định, tất có sự phân chia Hỷ Kỵ. Nhưng bất kể cách cục nào, trong Bát Tự:

Nếu Thiên Tài là Hỷ Dụng, thì lấy Quan Sát làm đường sinh mệnh của cha;

Nếu Thiên Tài là Cừu Kỵ, thì lấy Tỷ Kiếp làm đường sinh mệnh của cha.

Tại sao lại nói như vậy? Hãy nghe Bình Sách từ từ giải thích. Bất kể cách cục nào, trong Bát Tự nếu Thiên Tài là sao Hỷ Dụng, thì Tỷ Kiếp tất nhiên là kẻ thù lớn của Thiên Tài, nếu muốn sao cha khỏe mạnh trường thọ, phải lấy Quan Sát để chế ngự Tỷ Kiếp nhằm bảo vệ sao cha Thiên Tài. Do đó, trong Bát Tự mà Thiên Tài là Hỷ Dụng, Quan Sát trở thành đường bảo hiểm sinh mệnh cho sức khỏe và tuổi thọ của cha. Nếu “đường sinh mệnh” Quan Sát này đi vào đất tử tuyệt, lại gặp lưu niên khắc thương, thì Tỷ Kiếp tất nhiên sẽ hung hãn khắc cha, cha không có cứu trợ tất sẽ qua đời.

Tương tự, trong Bát Tự nếu Thiên Tài là Cừu Thần Kỵ Vật, thì phải lấy Tỷ Kiếp để chế ngự nó mới có thể đảm đương được sao cha này, do đó Tỷ Kiếp trở thành “đường sinh mệnh” cho sức khỏe và tuổi thọ của cha, nếu đường sinh mệnh Tỷ Kiếp này đi vào đất tử tuyệt, lại gặp lưu niên khắc thương, thì Thiên Tài mất đi sự chế ngự mà hung hãn, khó đảm đương được cha mà cha tất sẽ qua đời.

Đến đây, việc luận đoán mệnh lý thọ mệnh của cha đã hoàn toàn rõ ràng. Đông đảo những người yêu thích Chu Dịch có thể nghĩ rằng “chỉ đơn giản như vậy sao”? Bình Sách xin khẳng định một cách hết sức nhẹ nhàng rằng, đúng là đơn giản như vậy! Đây cũng là một minh chứng tuyệt vời cho “đại đạo chí giản chí dị”, hoàn toàn không có gì bí ẩn! Nếu không tin, có thể tự mình suy nghiệm, Bình Sách đảm bảo sẽ khiến bạn thử nghiệm không sai.

Nam mệnh:

Mậu Tý – Tân Dậu – Đinh Tỵ – Quý Mão

Đại Vận: Nhâm Tuất / Quý Hợi / Giáp Tý / Ất Sửu / Bính Dần / Đinh Mão / Mậu Thìn / Kỷ Tỵ

Người này vốn nghe danh mà đến, nhưng lại tỏ ra kiêu ngạo. Đối với người không biết lễ tiết nhân gian như vậy, Bình Sách cố ý làm giảm nhuệ khí của anh ta. Sau khi lập Bát Tự, bày Đại Vận, phân tích sơ qua rồi trong lòng đã có tính toán, Bình Sách quyết định bắt đầu từ cha mẹ của anh ta, dùng phương pháp đoán Đại Vận để tính toán cha anh ta đã mất. Thế là tôi nói thẳng với anh ta: “Cha anh không còn nữa, và đã qua đời từ năm anh 23-33 tuổi (mệnh này 3 tuổi khởi vận)”. Người này thoạt đầu sững sờ, sau đó lại tỏ ra không tin và nói: “Anh phải đoán trúng năm nào, tôi mới phục.” Đối mặt với người ngạo mạn vô lễ như vậy, Bình Sách bình tâm tính toán. Mười lưu niên của Đại Vận Giáp Tý, Bình Sách lần lượt tính toán, kết hợp với mệnh cục, đoán định cha anh ta chắc chắn mất vào năm Tân Dậu, tức là năm 1981. Thế là tôi khẳng định với anh ta: “Năm 1981”. “Một chín tám mốt” còn chưa dứt lời, chỉ thấy lưng của Trương Mỗ đã mềm đi nhiều, cúi đầu rút từ trong túi ra ba tờ một trăm tệ, đặt lên bàn và liên tục nói: “Phục rồi, phục rồi.”

Tại sao lại đoán cha anh ta mất trong khoảng 23-33 tuổi? Lại tại sao mất vào năm 1981?

Nhật chủ Đinh Hỏa sinh vào tháng Dậu là yếu! Tân Tài thấu can gặp Mậu sinh mà hao thân có lực; Sát ở trụ giờ là Quý Thủy thông căn ở Tý trụ năm và gặp Dậu vượng tương sinh, sát gần chế thân lực mạnh mà thân chủ rất yếu! May mắn ngồi dưới Tỵ Hỏa Dương nhận được Mão Mộc ở trụ giờ tương sinh có lực giúp thân, do đó thân yếu mà không theo; chính cục thân yếu!

Rất rõ ràng, Thiên Tài Tân Kim trong cục là Cừu Thần Kỵ Vật, theo luận “Thọ Mệnh Cha Mẹ” của Bình Sách, Tỵ Hỏa trong cục là “đường sinh mệnh” của cha anh ta. Tỵ Hỏa tuyệt ở Tý, mệnh này 23-33 tuổi đi vào Đại Vận Giáp Tý, do đó đoán cha anh ta chắc chắn mất trong khoảng 23-33 tuổi. Tại sao lại đoán vào lưu niên Tân Dậu? Rất đơn giản. Tuy Tỵ Hỏa vào đất tuyệt ở vận Tý, nhưng can vận Giáp Mộc vẫn có lực sinh Hỏa, chỉ có năm Giáp Mộc bị thương không có lực sinh trợ Đinh Hỏa mới ứng nghiệm cha mất. Lưu niên Tân Dậu, Tân khắc Giáp, Giáp bị thương không sinh Đinh Hỏa, Dậu sinh Tý, Tý tăng lực khắc tận Tỵ Hỏa, đến đây “đường sinh mệnh” của sao cha, cọng rơm cứu mạng này đã bị nhổ tận gốc, cha mất.

Có bạn bè có thể hỏi tại sao không đoán vào lưu niên Canh Thân năm 1980? Canh Thân và Tân Dậu chẳng phải đều có thể khắc Giáp sinh Tý sao? Hơn nữa lực khắc Giáp sinh Tý của Canh Thân còn lớn hơn Tân Dậu? Anh em tự suy ngẫm nhé.

 Bí Quyết Thọ Mệnh Mẹ

Nếu Ấn tinh là vật Hỷ Dụng, thì lấy Tỷ Kiếp làm “đường sinh mệnh” của mẹ;

Nếu Ấn tinh là Cừu Thần Kỵ Vật, thì lấy Tài tinh làm “đường sinh mệnh” của mẹ.

Nữ mệnh

Đinh Mùi – Kỷ Dậu – Quý Mùi – Canh Thân

Đại Vận: Canh Tuất / Tân Hợi / Nhâm Tý / Quý Sửu / Giáp Dần / Ất Mão / Bính Thìn / Đinh Tỵ

Người phụ nữ này đến tìm Bình Sách xem mệnh vào năm 2000, sau khi báo giờ sinh thì không nói gì thêm. Do công việc của Bình Sách bận rộn, vốn định tập trung dự đoán những việc mà cô quan tâm, nhưng người này lại nói “xem hết chuyện trước sau, phí dự đoán có thể trả thêm”. Đành phải vậy, Bình Sách bèn xem từ đầu. Bát Tự này là phản cục tòng nhược Tài Sát cách. Ấn tinh là Kỵ lại gần sinh thân là hung, mẹ chắc chắn không tốt. Ấn tinh là Kỵ thì lấy Tài tinh làm “đường sinh mệnh” của mẹ cô, hiện đang đi vào Đại Vận Nhâm Tý, Đinh Hỏa Tài tinh ở đất tuyệt tại Tý, mẹ cô chắc chắn mất trong vận này. Bình Sách nghiên cứu kỹ mười lưu niên của vận này, rồi nói với cô: “Mẹ cô mất năm 98 rồi!” Nghe vậy, người phụ nữ này và người bạn đi cùng nhìn nhau, rồi hỏi tôi mẹ cô ấy có phải đúng là mất vào năm đó không? Tôi nói: Mệnh đã định.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc