Sách “Tố Vấn Khí Giao Chiến Đại Luận” ghi chép: Ngũ Hành: KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ vừa có mặt tốt cũng vừa có mặt xấu. Dùng nó có thể đoán biết sinh tử hay thành bại của một kiếp người. Đối với xã hội loài người, việc mất cân bằng còn hệ trọng hơn nhiều so với sự vận động thông thường. Sự thay đổi của trời đất tuy là điềm dự báo phúc họa trong nhân gian, nhưng nguồn gốc sâu xa của phúc họa đó lại nằm chính trong hành vi của con người. Việc vận dụng ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH – tức là những yếu tố biểu thị sự cân bằng hay mất cân bằng giữa các Can Chi trong Tứ Trụ, cụ thể là dùng Can Chi để đo lường, phán đoán sự mạnh yếu của Khí Kim, Khí Hỏa, Khí Mộc, Khí Thủy, Khí Thổ – để đoán biết cát hung, họa phúc của con người, chính là kết tinh quý báu của các cao nhân Bách Việt và người Hoa cổ đại. Lấy sự sinh khắc, chế hóa của NGŨ HÀNH để điều hòa sự mất cân bằng trong mệnh cục, từ đó hướng đến điều tốt, lánh xa điều xấu mới là ý nghĩa chân chính của việc làm chủ vận mệnh.
Sách “Chu Dịch” có viết: Mọi việc, mọi vật trong thế gian đều thống nhất ở Thái Cực. KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ – năm yếu tố NGŨ HÀNH này là sự thể hiện rõ ràng và bao quát nhất của vạn vật. Do đó, mọi việc, mọi vật đều thống nhất trong ÂM DƯƠNG và NGŨ HÀNH. Con người là một trong vạn vật, tất nhiên cũng tham gia vào sự vận động không ngừng của vũ trụ. Lý học Tứ Trụ, với tư cách là sự giải thích toàn diện về cuộc sống con người (được ví như một “tiểu thiên địa”), chính là môn học về quy luật sinh mệnh. Nó vận dụng quy luật NGŨ HÀNH để giải thích mối quan hệ giữa con người và trời đất.
Bản tính của con người chính là những phẩm chất bẩm sinh vốn có. Tính tình, tức là biểu hiện của sự MỪNG, GIẬN, BUỒN, YÊU, GHÉT VÀ NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN, luôn có mối quan hệ gắn chặt với KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Mặc dù bản tính con người có thể thay đổi tùy theo ảnh hưởng của các yếu tố hậu thiên như hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục, nhưng về căn bản, thiên tính của con người – vốn được thể hiện qua sự vượng suy và sinh khắc của ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH trong Tứ Trụ – thì không dễ dàng thay đổi.
Những biểu hiện của NGŨ HÀNH như tính tình, màu sắc, mùi vị, các mối quan hệ nhân thế, bốn mùa, phương vị đều là những đặc tính căn bản. Trong Tứ Trụ, NGŨ HÀNH có thể thiên lệch về vượng hoặc về nhược. Mặt vượng chỉ những đặc tính lộ rõ, trội nổi; mặt nhược chỉ những tính chất chìm ẩn hoặc yếu hơn. Những mặt thiếu khuyết trong Tứ Trụ có thể được bổ sung một cách tương ứng để hướng tới điều tốt, tránh điều xấu. Ví dụ: một người có hành Mộc vượng trong Tứ Trụ, nếu đạt được sự cân bằng tổng thể, sẽ thể hiện rõ tính Mộc. Ngược lại, nếu hành Mộc không đủ (khuyết Mộc) hoặc bị khắc, điều này không chỉ có thể nhận thấy qua vóc người, cá tính, tướng mạo, sức khỏe, mà còn có thể đoán biết qua việc người đó thường thích ăn đồ chua. Việc thích ăn chua chính là một sự bổ sung theo bản năng sinh lý. Vậy, “bổ” như thế nào? Đó chính là “bổ khí”. Người xưa thường nói: người sống nhờ thở khí. Theo học thuyết ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH, việc con người hít thở khí trời đất để sống chính là một hình thức “bổ khí”, và khí đó chính là KIM, MỘC, THỦY, HỎA, THỔ. Khí của ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH bao hàm cả khái niệm không gian và thời gian của vũ trụ. “Khí của trái đất” mà một người nhận được tại thời điểm và địa điểm sinh ra chính là tinh khí từ sự vận động của ngũ tinh (năm hành tinh) trong vũ trụ.
Điều quan trọng cần ghi nhớ: NGŨ HÀNH là Khí, không phải là Hình. Khi nói Mộc là cây cối, Thủy là nước, hay Kim là kim loại, đó chỉ là những hình ảnh tượng trưng, dùng các vật chất hữu hình mà con người có thể thấy được để biểu thị đặc điểm và tính chất của NGŨ HÀNH.
Tính tình tương ứng
Mộc chủ về nhân, tính thẳng, tình ôn hòa. Người mộc thịnh thì tầm vóc cao, tay chân dài, phong cách đẹp, khóe miệng tươi, sắc mặt trắng xanh, có lòng bác ái thương người, thanh cao khẳng khái, chất phác, không giả dối. Người mộc suy thì vóc người gầy, tóc thưa, tính cách hẹp hòi, đố kị, bất nhân. Người mà mộc khí tử tuyệt thì lông mày không ngay ngắn, cổ dài, yết hầu lồi, da thịt khô, hay lừa dối, biển lận.
Hỏa chủ về lễ, tính nóng nhưng tình cảm lễ độ. Người mà hỏa thịnh thì đầu nhỏ chân dài, vóc người trên thon dưới nở, mày rậm, tai nhỏ, tinh thần hoạt bát, cung kính lễ độ với mọi người, tính nóng gấp. Người mà hỏa suy thì dáng người gầy gò khẳng khiu, da vàng, nói năng hỗn xược, dối trá, cay độc, làm việc có đầu, không có đuôi.
Thổ chủ về tín, tính tình đôn hậu. Người thổ thịnh thì thắt lưng tròn, mũi nở, lông mày thanh tú, mắt đẹp, tiếng nói vang và lưu loát, trung hiếu, chân thành, độ lượng, giữ lời hứa, hành động chắc chắn, kết quả. Người mà thổ khí mạnh quá thì đầu óc cứng nhắc, hiếu biết chậm, tính tình hướng nội, thích trầm tĩnh. Người mà thổ khí không đủ thì sắc mặt ủ rũ, mặt mỏng, mũi ngắn, lòng dạ ác độc, bất tín, vô tình.
Kim chủ về nghĩa, tính tình cương trực, mãnh liệt. Người mà kim thịnh là người không béo không gầy, mặt trắng trẻo, lông mày cao, mắt sâu, sức khỏe tốt, tinh thần minh mẫn, tác phong quyết đoán, trọng nghĩa khinh tài, tự trọng. Người mà kim mạnh quá thì hữu dũng vô mưu, tham muốn, bất nhân. Người mà kim không đủ thì vóc người gầy nhỏ, tự cách vô tình, có khi nham hiểm, ham dâm, háo sát, biển lận, tham lam.
Thủy chủ về trí, thông minh hiền lành. Người mà thủy vượng sắc mặt hơi đen, nói năng nhẹ nhàng, rành rọt, hay lo cho người khác, túc trí đa mưu, học nhanh hơn người. Người mà thủy mạnh quá thì hay cãi cọ, tính tình linh tinh. Người mà thủy không đủ thì vóc người thấp bé, tính tình bất thường, nhát gan, vô mưu, hành động không có thứ tự.
Bản chất của nghề nghiệp, phương vị có thể thông quan Ngũ hành mà suy đoán.
Thuộc mộc. Phương Đông. Làm nghề mộc, nghề giấy, nghề trồng cây, trồng hoa, chăm sóc cây non hay các phẩm vật tế lễ, hương liệu hoặc các nghề kinh doanh về các mặt hàng đó.
Thuộc hỏa. Phương Nam. Làm các nghề chiếu sáng, quang học, nhiệt độ cao, các dung dịch nóng, các chất dễ cháy, các loại dầu, rượu, thực phẩm, thức ăn nóng, nghề cắt tóc hay các đồ hóa trang, đồ trang sức, công tác văn nghệ, văn học, văn phòng phẩm, văn hóa, văn nhân, nhà sáng tác, biên soạn, nghề giáo viên, thư kí, xuất bản, công vụ và công việc kinh doanh về những mặt đó.
Thuộc thổ. Vùng giữa, hay ở ngay vùng đó. Làm các nghề về thổ sản, đất đai, ở nông thôn, chăn nuôi các loại gia cầm, làm về vải vóc, trang phục, thêu dệt, vẽ đá, vẽ than, vẽ vùng núi, vẽ xi măng, kiến trúc, mua bán nhà ở, áo đi mưa, ô dù; đắp đập, sản xuất các loại bình lọ, thùng chứa nước, làm người trung gian, môi giới, nghề luật sư, nghề quản lí, buôn bán, thiết kế, cố vấn, nghề an táng xây mộ, quản lí nghĩa trang, tăng ni và những công việc, kinh doanh liên quan đến các mặt đó.
Thuộc thủy. Phương Bắc. Làm nghề hàng hải, buôn bán những dung dịch không cháy, nước đá, các loại cá, thủy sản, thủy lợi, những đồ ướp lạnh, đánh lưới, chỗ nước chảy, cảng vịnh, bể bơi, ao hồ, bể tắm. Người đó thường hay phiêu bạt bốn ba, lưu động, hay thay đổi. Tính thủy, thanh khiết, là những chất hóa học không bị bốc cháy, làm nghề trên biển, di động, có kĩ năng khéo léo, biết dẫn đạo, du lịch, đồ chơi, ảo thuật, là kí giả, trinh sát, du khách, làm những công cụ dập tắt lửa, câu cá, nghề chữa bệnh hoặc kinh doanh dược liệu, làm thầy thuốc, y tá, nghề chiêm bốc.
Thuộc kim. Phương Tây. Theo đuổi các nghề hoặc kinh doanh có liên quan với vật liệu kim loại, tính cách cứng rắn, quyết đoán, biết võ thuật, giám định, là quan thanh liêm, tổng quản; làm các nghề về ô tô, giao thông, kim hoàn, công trình, trồng cây; khai thác mỏ, khai thác gỗ, nghề về cơ khí.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.