Nhân Nguyên là Thần dụng sự, trong chương 《Thông Thần Luận》 của sách 【Trích Thiên Tủy】. Trong lúc suy xét mối quan hệ tác dụng “Hợp, Xung, Hình, Hại, Phá, Tuyệt” giữa các Địa Chi, nhận thức căn bản là tổ hợp tác dụng này không phải để luận cát hung của Lục Thân, và kết quả suy đoán trước đây càng không phải là kết quả cát hung của Lục Thân. Thánh hiền xưa đã có chân kinh tổng kết: 【Vinh khô đắc thất, có hết ở trong sinh khắc; Phú quý vinh hoa, không vượt ra ngoài trung hòa】. Giữa các mối quan hệ Hợp, Xung, Hình, Hại, Phá, Tuyệt của Địa Chi, vốn không luận công danh phú quý, thọ yểu cát hung; xét cho cùng, thực chất vẫn là quan hệ tác dụng sinh khắc giữa “Khí và Khí” ẩn tàng bên trong Nhân Nguyên. Chỉ có sự tác dụng qua lại giữa khí Âm Dương của Thập Thiên Can mới là chân chính của 【Đại Pháp Sinh Khắc】! Hình vốn là chân hình có thể nhìn thấy được, Khí thì là chỗ Thần Khí dựa vào trên Hình. Mà không phải như một vài tài liệu viết Kim Thủy là Hình, Mộc Hỏa là Khí. Điều này làm cho người ta có cảm giác sâu sắc về sự kỳ diệu của tư duy Thái Cực trong việc đoán mệnh, hiển lộ công năng thần diệu của Âm Dương Đế Tải trong thực tiễn “Đồng khí tương cầu, Thiên Nhân hợp nhất”!

Trên đường đi, hai chúng tôi cùng nhau thảo luận những điều thấy được về cát hung của Âm Dương trạch, Long nhập thủ qua hạp, Tổ phụ Tử tôn Sơn Loan, Long thoát xác khai bình, và cuối cùng làm sao tìm được Long tự nhiên, tất có Án tự nhiên cùng Huyệt tự nhiên. Nửa đường xuống xe, chúng tôi bình xét kỹ về phép xem cát hung một ngôi mộ Âm trạch, lấy Hình xét Khí, lấy Khí luận Hình; làm sao Khí theo Thổ đi, Hình dừng Khí tụ mà Âm dưỡng Dương. Phải chăng hài cốt đón nhận Long Khí, làm sao hóa sinh vạn vật có thể che chở cho con cháu đời sau.

Hai chúng tôi không muốn lưu lại trên đường quá lâu, chỉ đơn giản trò chuyện về phép xem Hình Loan Sa Thủy, rồi nhanh chóng đến trước nhà phúc chủ. Cả nhà phúc chủ đang đợi, mời chúng tôi ngồi dùng trà. Uống xong, tôi gọi đệ tử lấy La Bàn ra để xem tọa sơn triều hướng của Dương trạch, xác định điểm Thái Cực lớn hay nhỏ. Trung tâm lập cực là sơn Thìn hướng Tuất, cửa chính nhà thiên về bên trái, mở ra ngay vị trí Dậu. Xung quanh Dương trạch có tường thành và lan can liền nhau, mặt trước bằng phẳng rộng rãi hơn khoảng 10m. Bên ngoài tường là xa lộ và nhà láng giềng. Đường đi vào từ chỗ dốc cao hướng Đông mà đi xuống, ôm quanh bên ngoài bờ tường hướng về phía thấp Tây Nam mà đi. Cổng nhà phúc chủ mở ra ở trục tuyến có vị trí phía trước là hướng Tây Bắc, cổng hướng Ngọ sơn Tý, thuận lợi cho xe cộ ra vào. Kề bên lộ Tây Bắc phía dưới có nhà phụ nhỏ, ngoài 100m có chỗ khắc đá và lò vôi. Chính phương Tây, gần 300m có núi cao, ở giữa mở rộng, mạch dừng ở trên trục tuyến về phía trước. Cự ly đến nhà ước khoảng 150m. Phía trước, giữa nhà và núi, chỗ thấp là ruộng trũng. Hai bên làng gần nhà xinh đẹp, cùng ngăn cách bởi nhà kề bên có xóm làng với bụi trúc và cây nhãn cao vút xanh tốt, phương này là phía Nam. Sau nhà có tường thành, mới trồng cây nhỏ bên trong tường, cách nhà mấy mét. Ngoài tường có đường lộ ở giữa núi. Toàn bộ cây cối phía sau nhà phúc chủ không có làng xóm phía sau hưng thịnh, nhìn xa có khí khô héo tiêu điều, phía sau này là phương kiêm cả Đông Nam. Phía Đông Bắc nhà chủ là nhà phụ liền nhau, có chuồng gia súc. Ngoài tường là đường lộ đi vào. Căn cứ vào những gì quan sát ở trên, có thể suy đoán rằng phúc chủ những năm gần đây không được tốt lành, trong khoảng thời gian trước có người nhà bệnh nặng hoặc tổn hại nhân đinh. Tây Bắc là Càn, tượng trưng cho cha; lò nung vôi là Sát, Hỏa khắc Kim là tổn thương cha già. Chính hướng không xa có mạch núi nhỏ từ hướng Tây đi xuống, dừng ở trục phía trước là Bạch Hổ án đường, chủ về bệnh tật cho con trẻ, không tốt. Phương Nam có sinh khí, cây cối phát triển mạnh ở hướng Đông Bắc; nhà này vượng nữ nhân hoặc chủ nhà là nữ nhi. Đông Bắc là Cấn ở Hậu Thiên, Chấn là Tiên Thiên, có một cây Tùng ở bên cạnh nhà phụ, rất lợi cho sự nghiệp của phòng Tử Tinh (con út hoặc con trai). Toàn bộ ngoại hình khí vượng cho nữ đinh, mà không vượng nam đinh.

Sau khi xem Dương trạch, chúng tôi lập tức đi đến trước phòng bên trái, đối diện bên sườn núi, là phần mộ Âm trạch của Tổ phụ. Xem qua phần mộ tổ phụ, thấy mộ được an táng gần làng bên cạnh, cắt ngang dãy núi, đo được sơn Mùi hướng Sửu. Phía sau không có núi tựa, trên hướng Sửu đúng là lò nung vôi cao vút. Bên cạnh mộ hướng Mão có một cây Tùng đại thụ to cao, còn một bên mộ phía hướng Dậu có nhiều bụi cây sồi xanh. Địa thế bên trái phía Tây thì cao, còn bên phía Đông thì thấp, hình tượng mộ có huyệt nằm nghiêng. Minh đường cùng triều án hết sức không đúng như tên gọi (ý là không tương xứng, không đẹp). Phía trước bên trái không gian hẹp, phía trước bên phải không gian rất lớn. Phía trước núi lõm có Kim hình lông mày án sơn Mùi, trái lại hướng triều Kim hình tròn sơn loan cùng bên trái kề ngay sơn mạch giáp nhau, khiến người ta cảm thán thầy phong thủy bản địa làm chuyện hại người. Mộ này nhân đinh đa số là phát nữ, ít phát nam, thời gian lâu dài có họa tuyệt tự, xem mà làm cho người ta không lạnh mà run. Phúc chủ trả lời rằng từ sau khi an táng tổ phụ, cha chú cùng người trong nhà vận khí đều không tốt, tài vận không tốt, nam giới trong nhà đa số đau bệnh, chỉ phát nữ đinh. Sau đó, tôi nói cho phúc chủ biết làm sao để bố trí hình cục tụ khí, dần dần cải hung thành cát, cũng làm cho tầm mắt của đệ tử được mở rộng. Thấu hiểu sự tinh túy của Thiên theo Hình, Địa theo Khí; Khí Hình ở Địa, Hình lệ ở Thiên; ngoại khí hoành hành, nội khí chỉ sinh; lấy Âm chứa Dương, lấy Dương trợ Âm; lấy vật hữu hình xem khí vô hình, lấy Khí định cát hung; Âm Dương tương kiến, phúc lộc vĩnh trinh!

Dưới đây là dạy cho đệ tử từ trong Bát Tự thấu hiểu thiên cơ thông thần của mệnh lý và phong thủy là Âm Dương tương thông, là trình bày bí mật làm sao phát sinh “Thiên Cảm Nhân Ứng”.

Đầu tiên là nói rõ tại sao Tổ phần là sơn Mùi hướng Sửu. Tổ phụ (ông nội) Lục Thân tinh là Ất Mộc Thiên Ấn, tàng ở trong Mùi khố. Lấy Ất làm Thái Cực mà luận tổ phụ, khí Ất sinh ở Kỷ lệnh là thất thời tuyệt khí, cục không có thông căn ở Mão, chỉ được Quý thủy hóa Tân Sát để tăng thế là cát, nên Cục là cát. Ất thấy Mậu là Chính Tài, tức thê tử (vợ). Trong chi giờ Tuất có Mậu, tất là vợ của Ất tổ phụ (bà nội), nguyên nhân là do có hai thể Mùi Tuất phá nhau. Trong Tuất có tổ hợp Tân Đinh, ngoài có tổ hợp Đinh Canh, phản ánh tổ mẫu có họa khắc con. Bởi vì Tân Kim là con của tổ mẫu Mậu Thổ, trong cục có hai chỗ kề nhau tương khắc, còn có Mùi Tuất hình xung với Sửu là cung con cái của tổ mẫu. Lục Thân tinh nhược mà bị khắc, vượng mà được sinh, lại còn đồng thời có Mộ ở trong nguyên cục, thì Lục Thân tất có họa bi ai chết yểu. (Phúc chủ trả lời, hiện chỉ còn lại một mình ông chú ruột, những người khác đều yểu mệnh). Luận thọ mệnh của tổ phụ tổ mẫu, tất trước tiên phải định Cục của họ. Tổ mẫu Mậu sinh Kỷ lệnh là vượng, có Canh tiết tú bảo hộ, tất phải cao thọ. Ất Mộc tuy có Đinh Thực Thần hộ vệ là trường thọ, nhưng so sánh tuổi thọ thì không thể qua Mậu Thổ. Mộ của Tổ phụ ở cung hạn trụ ngày, mà Mộ của tổ mẫu ở cung hạn trụ giờ, một trước một sau, hết sức lộ rõ thiên cơ là ai chết trước. Đại vận Ất Mão, tổ phụ từ trong Mùi khố xuất ra, gặp năm Sát vượng tất là tổn hại đến bản thể. Cẩn thận tra xét 10 năm lưu niên này, chỉ có năm Canh Thìn và Ất Dậu là đại hung. Nghiên cứu tỉ mỉ một chút, trong Thìn có Quý Thủy sinh Ất Mộc, ngoài hung mà trong cát, tất có thể hóa hiểm thành bình yên. Năm Ất Dậu, bản trụ gặp tử tuyệt, Dậu xung Mão, bản thể Ất bị Sát khắc chế, trúng phong mà bệnh chết.

Âm sinh Dương tử, Dương sinh Âm tử, Âm Dương sinh tử đều không ly khai khỏi Ngũ Hành sinh khắc. Sau khi Lục Thân tử vong, an táng ở địa phương nào, cõi đi về có triều hướng như thế nào, thực ra đã sớm được định sẵn ở trong mệnh. Tổ phụ Ất Mộc tàng ở dưới chi ngày, Mùi là cõi kết cục quay về của Ất Mộc, mộ địa sớm đã có sự an bài ở trong mệnh cục, chẳng qua chỉ đợi thời gian ứng kỳ. Mùi là chỗ Nhật chủ tọa, trong phong thủy, Thiên Can là mặt sau, ở trên; Địa Chi là ở dưới, phía trước. Mùi ở quẻ Khôn, là vị trí phương Tây Nam. Từ trên nguyên mệnh cục nhìn ra, sau khi tổ phụ chết, tất sẽ được an táng ở phía trước nhà, gần chỗ hướng Tây Nam, đối diện dưới sườn núi. Hơn nữa, phần phách của Tổ phụ tất ở trong Mùi Mộ vô cùng yên ổn. Tàng Can có thể là chất đất của huyệt mộ: có Hỏa, có Thổ, có Mộc, không có Kim, không có Thủy; thuyết minh đất ở trong huyệt mộ có màu đỏ nâu (Đinh Mùi), không có tảng đá (Tân), không thấm nước (Quý), có rễ cây (Ất). Trong Bát Tự có Mùi xung Sửu, Mùi là tọa sơn, Sửu là triều hướng. Sửu là Kim khố, chính hướng là dãy núi trong sân có khắc đá. Giữa sân có đá nát vụn do máy móc tự động quả thực là hình tượng tàng Can trong Sửu (Quý Tân Kỷ tương sinh). Trong sân có lò nung đá thành vôi cao ngất chính là Tuất trước Sửu. Tuất là lò nung luyện gia công (Đinh Hỏa khắc Tân Kim). Tuất hình Sửu chính là mộ huyệt ở chính hướng phương Sửu, có Sửu làm nơi chứa đá cát, còn có lò nung đá là Tuất cao vút. Tuất phá Mùi mộ huyệt, sản sinh Sát khí vô hình gây tổn đinh phá tài. Sửu thuộc quẻ Cấn, hướng Đông Bắc. Cấn là núi, núi sông thông khí, đường đi cùng mạch phát của nhân đinh chủ quản phần mộ. Tiên Thiên là Thể, là Chấn, là bản thể tự nhiên của phòng lớn, chủ quản về thọ yểu, tật bệnh, cát hung của nam đinh phòng lớn. Có Hình Sát (Tuất) phá mộ phần (Mùi), phòng lớn thì nhân đinh bất lợi. Thể Tiên Thiên của phòng nhỏ ở Hậu Thiên là vị trí Càn. Vị trí này không có Sát, cho nên phòng nhỏ không có họa chết yểu. Hậu Thiên Bát Quái, quẻ Chấn ở cung Mão, chuyên luận công danh xã hội của con cháu đại phòng. Vị trí này có cây tùng làm vật dụng, biểu thị vị trí này có con cháu đại phòng thành tài. Công danh của phòng nhỏ ở hướng Đông Bắc, chính là vị trí Cấn Tuất Sát ở Hậu Thiên, biểu thị rõ ràng con cháu đời sau của phòng nhỏ không có đại phú đại quý, lại xuất hiện con cháu bất hiếu. Từ chỗ này mà suy, mỗi phòng nam nữ con cháu đều đã được định sẵn số mệnh trong Âm trạch, vận hạn năm tháng chính là thời kỳ ứng nghiệm cát hung của mỗi phòng nam nữ.

Phong thủy Dương trạch thì không giải thích rõ, hiện tại chỉ luận về miệng cổng của tường thành nạp khí. Cửa là nơi vạn vật ra vào, quan hệ đến sự an nguy của toàn gia chủ ít nhiều, không thể không biết. Phúc chủ Thân nhược kỵ Thất Sát, hiện tại cổng thành chính là tọa Nam triều Bắc (sơn Ngọ hướng Tý), chuyên nạp khí Sát của phương Bắc là Hợi Tý Sửu. Đối với Nhật chủ mà nói, khí Quý ở trong Tý chính là khí Thất Sát, tà quỷ mang đến tai họa ngập đầu, làm cho người ta sợ hãi lạnh thấu xương. Năm nay lưu niên Giáp Ngọ, Ngọ là Lộc của Thân ở chi ngày, cũng là bản thể, lại là chủ một nhà. Ngọ Tý tương xung mà gây nên Sát khí, thảo nào tháng Ngọ vợ bị đẻ non, cha mắc chứng bệnh ung thư gan mất ở tháng Tuất, Nhật chủ tự mắc chứng ung thư tràng vị đang trị liệu. Dương trạch định vận, hiện hành vận Bính Thìn, đúng là kỳ Sát khí quay trở vào nhà (Thìn). Thìn là Thương Quan của Nhật chủ, ở vận này chú định mắc bệnh phẫu thuật, khó tránh lưu lại vết sẹo. Lưu niên Mậu Tuất có nghiệm chứng việc tổ mẫu qua đời, được an táng ở bên cạnh tổ phụ… .

Các bạn hữu hiện tại hẳn đã ngộ ra, Bát Tự cùng phong thủy chỗ định sẵn cát hung của Lục Thân cũng không phải là trùng hợp ngẫu nhiên. Điều này phản ánh vạn vật là do khí Âm Dương định sẵn sự sinh thành, mà không phải do bất cứ năng lượng nhân lực hay đại hoàn cảnh nào tác động. Âm trạch định mệnh, Dương trạch định vận, thực tế là định luật nghìn năm bất biến. Hiểu ngộ Bát Tự thì sẽ bao hàm những thông tin dự báo đã được định sẵn về phong thủy. Phong thủy Âm Dương trạch chẳng qua chỉ là sự kéo dài thông tin từ trong Bát Tự mà thôi. Cho nên, Pháp Năng đề xuất việc thao tác phong thủy Âm Dương trạch tất phải cần 【Lấy người làm gốc】 mới là Đại Đạo. Vứt bỏ Bát Tự mà luận phong thủy là hết sức sai lầm. Mà không phải là mọi người bình luận các loại Tam Hợp, Tam Nguyên, Huyền Không, Thiên Tinh… đều là sai lầm. Nếu muốn chân chính làm một vị minh sư, bất cứ vạn pháp nào, trước tiên phải hiểu thông mệnh lý Thập Thần mới là kim chỉ nam sáng suốt.

Rõ Địa đức, lập Nhân đạo, Nhân biến hóa, Nguyên thủy chung, trước đây vẫn là dựa vào kinh phổ xem Đế Tải cùng Thần Công! ! !

Nguồn: Lesoi sưu tầm dịch.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

1 bình luận cho “#71. Thiên Cơ âm dương mệnh lý cùng phong thủy”

  1. […] #70. Âm dương hình khí pháp – luận lục thân #71. Thiên Cơ âm dương mệnh lý cùng phong thủy […]

    Thích

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc