Nữ mệnh sinh năm 67: Đinh Mùi, Mậu Thân, Giáp Tuất, Ất Hợi (Lệnh khí – Canh)
1 tuổi bắt đầu Đại Vận: Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu.
Mệnh này xem con trai thế nào? Phân chia Âm Dương trong Bát Tự: Năm Tháng là Thiên đạo, Ngày Giờ là Địa đạo. Hơn nữa, Năm là Dương, Tháng là Âm, Ngày là Dương, Giờ là Âm. Còn khi luận Nhân đạo thì: Lấy Nhật can phối với Địa chi của Lệnh tháng, mà sinh khắc khác nhau, Cách cục từ đó phân định.
Tại sao luận cát hung của mệnh người phải lấy Nhật can phối với Địa chi Lệnh tháng? Đó là vì Ngày là Dương, Tháng là Âm, Thiên đạo và Địa đạo kết hợp, con người mới là sản phẩm của sự kết hợp Âm Dương đó. Thánh nhân xưa nói: “Một Âm một Dương gọi là Đạo”. Cho nên luận mệnh người, không thể tách rời tư tưởng lấy Nhật chủ làm trung tâm để xét Cục của Ngũ hành và lấy Chi Tháng để luận Cách thần là khí Nhân nguyên phân dã tư lệnh. Đây chính là kinh chỉ “Cách cục phân yên” của thánh nhân xưa, cũng là tư tưởng chỉ đạo “Một Âm một Dương là Đạo”, thiết lập nên mô hình Thái cực tương ứng “Thiên Nhân hợp nhất”, con người hợp với vũ trụ thời không, đồng khí tương cầu. Vì vậy, nhập môn học Bát Tự, trước tiên phải hiểu rõ câu đầu tiên của Bát Tự: “Lấy Nhật can phối với Lệnh tháng”, ý nghĩa của Dương và Âm kết hợp, mới không đi lệch khỏi đạo của Cách cục. Bất luận lập cực cho Lục thân nào cũng đều dựa vào đây, đây chính là căn cứ để suy lý Bát Tự. Dù là dùng Trụ Năm luận mệnh, Nạp Âm luận mệnh, Trường Sinh quyết, hay các phương pháp bỏ qua Nhật chủ như Chân Tông Cách Cục pháp v.v., đều không phải là cách luận Cục Ngày Cách Tháng của mệnh người theo nguyên lý “Một Âm một Dương gọi là Đạo”.
Lý lẽ của Âm Dương Hình Khí Pháp chính là theo Tử Bình Chân Thuyên: “Lấy Nhật can phối với Chi Tháng”, sinh khắc khác nhau, mà sinh ra Cục và Cách, mới có “Cục định bản thể, Cách quyết định công dụng”, phù hợp với sự kết hợp Thiên đạo và Địa đạo của thánh nhân xưa, “Một Âm một Dương gọi là Đạo”. Sinh khắc của Ngũ hành khác nhau, cát hung của mỗi mệnh cục cũng khác nhau. Thập thần đảm nhiệm vai trò khác nhau ở Chi Tháng, quyết định Cách cục có tình hay vô tình cũng khác nhau.
Sản phẩm của Nhật (Dương) và Nguyệt (Tháng – Âm). Con người hấp thụ thiên phú khí của mặt trời, mặt trăng. Vậy thì, khi Bát Tự suy tính Lục thân, bắt buộc phải có đủ điều kiện kết hợp giữa Nhật can và Chi Tháng này mới có thể suy ra các Thái cực Lục thân khác nhau. Hiểu và diễn giải chính xác, do mỗi người khác nhau nên các sách viết khác nhau.
Chúng ta bình thường xem Cha, chỉ biết Thiên Tài là Cha, dù tham khảo thêm Vượng Suy Tứ Trụ và Thập thần để phán đoán chứ chưa thực sự lĩnh hội được: Trụ Ngày và Trụ Tháng là chuyện gì, nên đa số trường hợp suy đoán không chuẩn. Phương pháp luận mệnh trước đây là dùng một Bát Tự để luận tất cả Lục thân, không phù hợp với chủ đề “Mỗi vật một Thái cực”. Bởi vì Trụ Ngày không đổi, vẫn là Thái cực ban đầu. Ngay cả khi bạn lấy Lục thân làm Nhật chủ riêng để phán đoán, thực chất vẫn là luận trên Thái cực của Nhật chủ gốc.
Vậy “Mỗi vật một Thái cực” là sự thay đổi nào gây ra biến đổi Thái cực? Chính là Nhật chủ của Lục thân khác nhau. Điều này cho thấy Thiên đạo vĩnh viễn không đổi (Trụ Năm Tháng không đổi), Địa đạo (Trụ Giờ) không đổi, chỉ có Trụ Ngày tương ứng với Lục thân là bắt buộc phải thay đổi, đó mới là Thể Dụng bẩm sinh của Bát Tự Lục thân mới. Vậy mệnh nữ này luận về con trai, Thương Quan là con trai là rõ ràng nhất. Đinh trong Mùi Tuất thấu ra ở Can Năm. Nếu chúng ta lấy Trụ Ngày Đinh làm Nhật can của con trai để luận, thì đó vẫn là kết quả phân tích từ Thái cực của người mẹ, chứ không phải là luận Thái cực lấy con trai làm trung tâm với Nhật can đặt tại Tứ Trụ. Cho nên cách xem chính xác và không sai sót, là phải đặt Thiên Can đại diện cho con trai (Đinh) vào vị trí Thiên Can Ngày của người mẹ (Giáp), thay thế toàn bộ Trụ Ngày của mẹ (Giáp Tuất) bằng Trụ Ngày của con, đó mới chính là “lấy Nhật can của con phối với Chi Tháng (Thân)”, Cách cục từ đó mới phân định được. Nếu nhìn từ Thái cực của mẹ, Đinh Hỏa nằm trong Tuất là bản thể của mẹ. Nhưng nếu lấy Đinh Mùi làm Nhật chủ (của con) để xem thì không có Tuất, Thái cực đã khác. Nhưng thông tin cát hung sẽ không thay đổi, thông tin của mỗi Lục thân chắc chắn phải đồng bộ.
Từ Thái cực của mẹ suy ra Thái cực của con, ta có Tứ Trụ:
Thái cực của con: Đinh Mùi, Mậu Thân, Đinh Mùi, Ất Hợi
Chỉ có Trụ Ngày thay đổi, Nhân đạo xảy ra thay đổi, Thiên đạo Địa đạo không thay đổi, đây chính là điều chúng ta cảm ứng hàng ngày: “Một Âm một Dương gọi là Đạo”. Thái cực của con trai (Đinh) có Cục cát nhưng Cách hung. Thiếu Âm Ất mộc nhập Mộ ở Trụ Năm (Mùi), thiếu dương Thương Quan (Mậu Thổ) ở Tháng, có thể biết con trai mệnh không dài, có thông tin bị tai nạn chết yểu. Vậy chết vào Đại Vận nào trong Thái cực Bát Tự của người mẹ? Đại Vận Nhâm Tý. Tý xuyên Mùi làm động, Nhâm hợp Đinh. Trụ hạn theo Thái cực của con trai là Trụ Năm Đinh Mùi, cho thấy con trai 18 tuổi chắc chắn gặp hung, tức là con trai có tai họa trước 41 tuổi (trong Đại vận của mẹ). Thực tế là bị tai nạn xe vào năm Canh Thìn. Trong Thái cực của mẹ, Thìn Tuất xung Mộ. Còn trong Thái cực của con trai, Canh hợp Ất, Thìn phá Mùi, là tai họa phá thân dẫn đến tử vong. Trong nguyên cục Thái cực của mẹ không có Ấn khắc Tử (con), tại sao hành vận Ấn (Nhâm Tý) lại chết con? Nguyên nhân chủ yếu là do Cách cục trong Thái cực của con trai là hung, Thiếu Âm có Mộ. Như vậy luận đồng thời cả Thái cực của mẹ và con, kết quả đưa ra sẽ đồng bộ thông tin. Chi Ngày của con trai phải dựa vào đâu để định? Là “Thượng hạ tương tu nhất thể” (Can Chi trên dưới cùng cần một thể).
Mệnh này nếu luận chồng là Chính Quan, thì đổi Trụ Ngày như thế nào? Nữ mệnh có Chính Quan, phải tìm Chính Quan. Trong Tuất có Tân Đinh Mậu. Có thể cùng Nhật can Tân tạo thành thể là: thể của Đinh là Ngọ, thể của Mậu là Tuất. Nhưng Tân với Ngọ Tuất căn bản không thành lập được “y hình phụ khí” (dựa hình bám khí) vì không có tổ hợp Tân Ngọ và Tân Tuất. Vậy Tân phải dựa vào cái gì? Mùi phá Tuất, lập tức biết Tân Mùi chính là Nhật chủ của chồng. Nếu chỉ luận Tân Đinh Mậu trong Tuất, Đinh khắc Tân, thì không phải chồng chết hoặc tàn tật thì cũng là ly dị. Thực tế không phải vậy. Cho nên “Mỗi vật một Thái cực” mới là pháp bảo để luận mệnh. Về việc làm sao tìm ra thể của Ngày, hãy thực hành nhiều, tự nhiên sẽ có kết quả. Trụ Ngày và Trụ Tháng là Nhân đạo, Cục Cách. Ba người con ba Thái cực, mỗi người mỗi khác, hãy tự mình lĩnh hội. Sinh đôi, anh chị em, tất cả Lục thân đều lập cực như thế nào, một pháp thông thì vạn pháp đều thông, pháp không có định pháp. Ví dụ, con trai út của nữ mệnh này có Nhật chủ là Đinh Mão. Trong Mùi có Đinh Ất Kỷ, can thấu Ất sinh Đinh, tổ hợp thành Nhật chủ Đinh Mão. Phương pháp này ít nhất có thể luận được Thái cực của sáu người con, mỗi Lục thân bất kỳ đều tương ứng Thái cực riêng. Chết vì bệnh là Cục hung, chết vì tai nạn là Cách hung, thương tật.





Gửi phản hồi cho #78. Khí chất âm dương của can chi – Tử Bình Thuật Hủy trả lời