1) Luận thập can thập nhị chi
Khí trời đất động tĩnh mà phân âm dương, có già trẻ mà chia ra tứ tượng. Già là ở lúc cực động (thái dương) hay cực tĩnh (thái âm). Trẻ là ở lúc vừa bắt đầu động (thiếu dương) hay vừa bắt đầu tĩnh (thiếu âm). Chỉ có tứ tượng, mà chứa đủ cả ngủ hành trong ấy. Thủy tức là thái âm; Hỏa tức là thái dương; Mộc tức là thiếu dương; Kim tức là thiếu âm; Thổ tức, âm dương lão thiếu, là nơi kết của các xung khí Mộc Hỏa Kim Thủy.
Đã có ngũ hành, sao lại có 10 can 12 chi? Có âm dương mà sanh ra ngũ hành, trong ngũ hành đều có âm dương. Tức luận Mộc cũng có chia ra Giáp dương Ất âm vậy. Giáp là khí của Ất; Ất là chất của Giáp. Giáp là sanh khí trên trời, lưu hành ư vạn vật, Ất là vạn vật ở dưới đất tiếp nhận thêm sanh khí đó. Lại chia nhỏ thêm, sanh khí tán cho ra là Giáp của Giáp, sanh khí ngưng thành là Ất của Giáp. Vạn Mộc nhờ Giáp của Ất mà đâm cành ra lá. Cành cành lá lá của vạn Mộc là Ất của Ất vậy. Ất nhờ Giáp mà được đủ khí; Giáp nhờ Ất mà (kiên) hình chất được đầy chắc. Như Mộc cũng có chia ra âm dương Giáp Ất như vậy.
Như Giáp Ất phục ở Dần Mão cũng có chia ra âm dương thiên địa. Như Giáp Ất mà phân âm dương thì Giáp dương, Ất âm, Mộc hành trên trời có chia ra âm dương như vậy. Như Dần Mão mà phân âm dương thì Dần dương, Mão âm, Mộc tồn dưới đất cũng có chia ra âm dương như vậy. Như gộp cả Giáp Ất Dần Mão mà phân âm dương, thì Giáp Ất là dương Dần Mão là âm, Mộc ở trên trời thì thành tượng ở dưới đất thì thành hình. Giáp Ất hành thiên mà Dần Mão thụ chi; Dần Mão nhờ có Giáp Ất mà được yên. Nên có câu Giáp Ất như trưởng quan, Dần Mão như cai quản địa phương. Giáp lộc ở Dần, Ất lộc ở Mão, như phủ quan đi đến quận, huyện quan đi đến ấp, nắm lệnh các ty suốt 1 tháng.
Giáp Ất ở thiên can, hễ động thì không yên. Gặp tháng Dần tất đương lúc Giáp khởi? Gặp tháng Mão, tất đương lúc Ất khởi? Dần Mão tại địa chi, dừng lại mà chẳng dời đi. Nguyệt gặp Dần hoán đổi được với Giáp; nguyệt gặp Mão hoán đổi được với Ất. Luận về khí, Giáp vượng ở Ất; Luận về chất, Ất bền chặt ở Giáp. Như tục thư nói xằng, rằng Giáp là rừng lớn dày đặc nên chẳng sợ bị chặt, ất như cỏ non, yếu mà chẳng gãy, thực là chẳng biết lý âm dương vậy. Lấy 1 loại hành mộc như trên thôi, ta còn có thể biết, đến như bàn đến lý âm dương khí chất của Thổ là xung khí của Mộc Hỏa Kim Thủy, nhờ đó mà vượng ở tứ thời, sao có thể nói giống như vậy được. Người học trước phải biết rành thuyết can chi, rồi mới có thể nhập môn.
2) Luận Âm Dương sinh khắc
Nguyên văn: Vận 4 mùa, tương sanh mà thành, nói Mộc sanh Hỏa, Hỏa sanh Thổ, Thổ sanh Kim, Kim sanh Thủy, Thủy lại sanh Mộc, tức theo thứ tự tương sanh, tuần hoàn xoay vần, đi hoài chẳng hết. Như đã có sanh tất phải có khắc, có sanh mà không có khắc, tất cũng chẳng thành 4 mùa vậy. Khắc, vì vậy kiềm chế mà dừng lại, khiến thu liễm lại, nên lấy làm kỵ của phát tiết, có câu “thiên địa có tiết chế mới thành tứ thời”. Tức lấy mộc luận, mộc thịnh ở hạ, Sát ở thu, nhờ có Sát, bên ngoài thì khiển phát tiết, bên trong thì tàng thu lại, ấy là lấy chánh Sát làm sanh vậy, kinh dịch lấy kiếm thu làm tính tình thật, nói Đoài là nơi làm đẹp vạn vật, quả đúng vậy ! thí dụ như phép dưỡng sanh, nói ăn uống để mà sống, như ăn uống suốt ngày, chẳng đợi đói 1 chút mới ăn, làm sao mà sống lâu được? 4 mùa xoay vần cũng vậy, sanh với khắc cùng dụng, khắc với sanh cùng công.
Nguyên văn: Như lấy ngũ hành gộp lại mà luận thì tất Thủy Mộc tương sanh, Kim Mộc tương khắc. Lấy ngũ hành chia riêng từng cặp âm dương, tất trong chỗ sanh khắc, lại có khác nhau. Như đều lấy thủy để sanh mộc, mà Ấn có chia ra thiên chánh; kim khắc mộc, mà cục có chia ra Quan Sát vậy. Cùng là Ấn thụ, thiên chánh gần giống nhau nhưng sanh khắc có khác biệt, nên để ý mà luận; trong chỗ tương khắc, một Quan một Sát, hiền ác chia riêng, đạo lý đó luôn phải chú ý.
Nguyên văn: Tức lấy Giáp Ất Canh Tân mà nói thì. Giáp là dương mộc, là sanh khí của mộc; Ất là âm mộc, là hình chất của mộc. Canh là dương kim, là khí túc sát của mùa thu; Tân là âm kim, là chất của ngũ kim (vàng, bạc, đồng…). Giáp mộc là sanh khí, gửi ở mộc mà hành ở thiên, cho nên gặp mùa thu là Quan, trong khi Ất thì ngược lại: Canh là Quan, Tân là Sát. Lại nói về Bính Đinh Canh Tân thì. Bính là dương hỏa dã, khí lửa sáng nóng rực bốc tận trời; Đinh là âm hỏa như hỏa của ngọn lửa củi. Khí túc sát mùa thu, gặp khí lửa sáng nóng thì bị khắc mất nhưng kim loại ta hay dùng thì lại chẳng sợ khí lửa, nên nói Canh lấy Bính làm Sát, mà Tân thì lấy Bính làm Quan. Những chất kim loại ta hay dùng, gặp lửa củi thì lập tức tan chảy ra trong khi khí túc sát lại chẳng sợ lửa củi. Bởi vậy nên Tân lấy Đinh làm Sát mà Canh lấy Đinh làm Quan vậy. Lấy đó mà suy ra, ta nên biết cho rành cái lẽ tương khắc.
3) Luận âm dương sanh tử
Nguyên văn: Thuyết ngũ hành can chi, xem thêm thiên can chi cho rõ. Can động chẳng nghỉ, chi tĩnh lẽ thường. Lấy mỗi can lưu hành 12 tháng mà an Sinh Vượng Mộ Tuyệt.
Nguyên văn: Dương chủ tụ, lấy tiến làm tiến, nên nói chủ thuận; âm chủ tán, lấy thối làm thối, nên nói chủ nghịch. Như Trường sinh Mộc dục cùng hạng, cho nên dương thuận âm nghịch có khác. Vận 4 mùa tuần hoàn, công thành thì thoái, cùng dụng thì tiến, nên nói mỗi tháng tuần hoàn, mà Sinh Vượng Mộ Tuyệt lại nhất định. Nơi dương sanh thì âm tử, thay phiên tuần hoàn, là lẽ xoay vần của tự nhiên. Như lấy Giáp Ất mà luận, Giáp là dương mộc, là mộc cành lá, thụ khí trời sinh, tự thu tàng no đủ, có thể dùng để khắc phát tiết phát động, nên sinh ở Hợi. Khí hậu tháng Ngọ, mộc đang lúc cành lá sum xuê, sao Giáp lại tử? Lại chẳng xét bên ngoài tuy phồn thịnh, mà trong thì sinh khí phát tiết đến hết, bởi vậy nên nói Tử ở Ngọ vậy. Ất mộc ngược lại, tháng Ngọ cành lá phồn thịnh, tức là được sinh, tháng Hợi cành lột lá rụng, tức là Tử. Luận theo chất khác với theo khí vậy. Lấy Giáp Ất làm ví dụ trên minh họa. Nguyên văn: Chi có 12 tháng, lại nói mỗi can từ Trường sinh tới Thai Dưỡng, cũng chia ra 12 ngôi. Khí chi bởi thịnh mà suy, suy rồi thịnh lại, chia nhỏ kể ra thành 12 tiết. Như Trường sinh Mộc dục cùng tên, mượn từ để mà hình dung. Trường sinh như người ta lúc mới sanh ra. Mộc dục như người ta sau khi sanh tắm gội cho sạch; như hột trái cây đã thành; trước phải thanh vỏ, sau mới rửa sạch. Tới Quan đới thì hình khí lớn dần, quan đới như người đến tuổi trưởng thành vậy. Lâm quan là đã trưởng thành lúc đang mạnh mẽ (30 tuổi), như người có khả năng có thể ra làm quan. Đế vượng là khi tráng thịnh đến cùng cực, như đại thần phò vua giúp nước. Thịnh cùng cực thì suy kém, suy là lúc vật bắt đầu biến vậy. Bệnh là lúc đã quá suy. Tử, khí tận hết chẳng còn. Mộ, tạo hóa thu tàng, như người lúc chôn xuống đất vậy. Tuyệt là khí trước đã tuyệt, khí sau chưa tiếp nối. Thai như sau khi khí tiếp nối kết tụ thành bào thai. Dưỡng như bào thai được nuôi dưỡng trong bụng mẹ. Bởi nối tiếp như thế mà trường sanh tuần hoàn không dứt.
Nguyên văn: Người lấy chi ngày làm chủ, chẳng gặp sanh gặp lộc vượng nơi nguyệt lệnh, tất hưu tù, như giờ hay năm, được trường sinh lộc vượng, yên mà chẳng nhược, hay gặp được mộ khố, đều là có căn. Nhân trường sanh nhờ khố mà xung ra, như tục thư nói xằng không đúng, chỉ có dương trường sanh mới có lực, mà âm trường sanh chẳng có chút lực nào, nhưng lại cũng chẳng nhược. Như gặp khố, tất dương
có căn mà âm thì không có dụng. Dương lớn bao trùm âm nhỏ, dương kiêm được âm mà âm chẳng kiêm nổi dương, lý tự nhiên là vậy.
4) Luận Thiên can phối hợp tính tình
Nguyên văn: Ý nghĩa hợp hóa lấy 10 can âm dương phối với nhau mà thành. Hà đồ thuật số, lấy một hai ba bốn năm phối sáu bảy tám mười theo tiên thiên. Nói thủy là thái âm thủy, gặp thổ xung khí thì hết, lấy khí mà thì sanh là vậy. Trước khi có ngũ hành, tất đã có âm dương lão thiếu, rồi sau khí mới xung ra, nói nhờ thổ sanh. Xét ngũ hành, tất vạn vật lại sanh ở Thổ, như Thủy Hỏa Mộc Kim, đều gửi thân yên nơi Thổ, nói lấy Thổ trước tiên. Nên đầu tiên Giáp Kỷ tương hợp tất hóa Thổ; Thổ sanh Kim, nên Ất Canh kế tiếp hóa Kim; Kim sanh Thủy, nên Bính Tân kế tiếp lại hóa Thủy; Thủy sanh Mộc nên Đinh Nhâm kế tiếp lại hóa Mộc; Mộc sanh Hỏa nên Mậu Quý kế tiếp lại hóa Hỏa, ngũ hành theo vậy mà an. Lấy Thổ làm đầu, theo thứ tự tương sanh, lẽ tự nhiên là vậy. Ý nghĩa 10 can hợp hóa là vậy.
Nguyên văn: Tính tình ra sao? Đã có phối hợp, tất có mặt trái. Như Giáp lấy Tân làm Quan, thấu Bính tác hợp thì Quan ấy không còn là Quan nữa; Giáp lấy Quý làm Ấn, thấu Mậu tác hợp, Ấn ấy không còn là Ấn nữa; Giáp lấy Kỷ làm Tài, Kỷ tách riêng ra cùng Giáp tác hợp, Tài ấy không còn là Tài nữa. Như năm Kỷ tháng Giáp, năm là Tài, bị tháng hợp mất, thì dù là Giáp Ất ngày chủ cũng chẳng tách ra nổi; năm Giáp tháng Kỷ, tháng là Tài, bị năm hợp mất, thì Giáp Ất ngày chủ không giống như vậy. Giáp lấy Bính làm Thực, Bính Tân tác hợp, Thực ấy không còn là Thực nữa, ấy là 4 hỉ thần bị hợp mà không có dụng vậy.
Nguyên văn: Đã có hợp tất có sở kị, gặp cát chẳng cát nổi, gặp hung chẳng sợ hung. Tức lấy lục thân mà nói, như nam lấy Tài làm vợ, Tài bị can khác hợp mất, vợ ấy sao còn có thể yêu chồng nổi? Nữ lấy Quan làm chồng, Quan bị can khác hợp mất, chồng ấy sao còn có thể yêu vợ nổi? Bàn đến tính tình phối hợp, vì hướng bối nhi thù dã.
5) Luận thập can hiệp nhi bất hiệp
Nguyên văn: Ý nghĩa 10 can hóa hợp, thiên trước có nói rõ, nhưng mà cũng có hợp và không hợp là tại sao?
Nguyên văn: Ở giữa có cái khác chen vào, thí dụ như người đây đấy tương hảo, mà có người khác theo ở giữa, tất không thể chơi với nhau được. Thí dụ như Giáp Kỷ hợp, mà ở giữa Giáp Kỷ, có Canh chia cách, tất Giáp sao có thể vượt qua được Canh khắc mà đến hợp với Kỷ chứ? Phép đã như vậy, hợp mà chẳng dám hợp, có cũng như không.
Nguyên văn: Lại có hợp mà không bị thương khắc, là sao? Như Giáp sanh Dần Mão, tháng giờ thấu 2 Tân Quan, lấy năm Bính hợp tháng Tân, thì là hợp mất 1 lưu lại 1, Quan tinh phản khinh. Hay như Giáp gặp nhận ở tháng, Canh Tân đều thấu, Bính với Tân hợp, hợp mất Quan lưu lại Sát, nên Sát Nhận y nhiên thành cách, đều là hợp lại mà không bị thương khắc.
Nguyên văn: Lại có khi hợp mà không luận hợp, là sao? Như hợp với vốn là thân thì: 5 can dương gặp tài, 5 can âm gặp ngộ quan, đều là tác hợp, chỉ duy có vốn là thân thập can hợp, không phải là bị hợp mất. Giả như Ất lấy Canh làm Quan, ngày can là Ất, cùng Canh tác hợp, tức là hợp với Quan của mình. Hợp mất là sao? Như can năm Canh, can tháng Ất, tất can tháng Ất tới trước hợp mất Canh, thành ra ngày can không thể hợp được, vậy là bị hợp mất. Lại như nữ lấy Quan là chồng, ngày Đinh gặp Nhâm, tức là chồng ta đến hợp với ta, chính là chồng vợ tương thân, tình thêm khăng khít. Duy gặp phải tháng Nhâm trước cùng năm Đinh hợp nhau, ngày can dù cũng là Đinh, cũng không thể hợp nổi, tức là phu tinh của mình bị chị em hợp mất, phu tinh tuy thấu mà như không thấu.
Nguyên văn: Dụng thần có tình mà chẳng hướng ngày chủ, hoặc ngày chủ có tình mà không hướng dụng thần, đều chẳng tốt.
Nguyên văn: Người giờ nay chẳng biết mệnh lý, lấy cái hợp của vốn là thân mà vọng luận được mất; nực cười thêm, sách có câu ” hợp Quan chẳng quý “, cứ thế mà luận, hoặc lấy cái hợp của vốn là thân làm hợp, thậm chí lấy hợp của cái chi chi nữa làm hợp, như thìn dậu hợp, mão tuất hợp, đều cho là hợp quan. Những thứ xằng bậy ấy như đọc truyện tử bình đều bị quét sạch !
6) Luận thập can đắc thời bất vượng thất thời bất nhược
Sách có câu, đắc thời đều luận vượng, thất thời xem là suy, tuy lý là vậy, cũng chỉ là cái phép chết. Khá nên xem xét linh hoạt. Khí ngũ hành lưu hành tứ thời, tuy các ngày can đều chuyên lệnh khác nhau, kỳ thật trong cái chuyên lệnh ấy còn có tịnh tồn hay giả tại. Giả như xuân mộc nắm lệnh, giáp ất tuy vượng, như gặp mậu kỷ hưu tù ở trụ giờ, sao còn đẹp nổi. Gặp lúc thóai riêng, chẳng thể tranh tiên, kỳ thật thổ mùa xuân có bao giờ chẳng sanh vạn vật đâu, mặt trời mùa đông có bao giờ không chiếu vạn quốc?Khí ngũ hành ở 4 mùa chẳng lúc nào không có sẳn, chỉ riêng khác nhau ở vượng tướng hưu tù mà thôi. Thí dụ như mộc vượng ở xuân, mà kim thủy hỏa thổ cũng chẳng tuyệt tích. Chỉ không đắc thời mà thôi. Như không đắc thời có phân biệt. Như hỏa được sanh khí, tuy trước mắt đang lúc tiềm phục, khí tượng bùng bùng, gọi là tướng; kim thổ tuy tuyệt nhưng cũng là khí tương lai, thủy là khí vừa lui, đương lúc nghĩ ngơi, tuy chẳng đương lệnh, nhưng tác dụng đâu đã mất hết. Ví như quân nhân giải ngũ, quan lại trí nhân, tuy lui về điền dã, nhưng có thể lực vẫn y nhiên tồn tại, một mai tập hợp, tác dụng không khác. Nên dù thất thời cũng chẳng thể bỏ mà không luận đến.Huống chi bát tự tuy lấy nguyệt lệnh làm trọng, là vượng tướng hay hưu tù, năm tháng ngày giờ, cũng có quyền thêm bớt, cho nên sanh chẳng được nguyệt lệnh nhưng gặp lộc vượng ở năm, giờ, sao suy được? Không nên chấp nhất mà luận. Giống như mộc mùa xuân tuy cường, gặp kim thái trọng thì mộc cũng bị nguy. Can Canh Tân thêm chi Dậu Sửu, không có hỏa chế sao giàu nổi, gặp thêm thổ sanh tất chết yểu, vì thế đắc thời mà chẳng vượng. Thu mộc tuy nhược, mộc có căn thâm thì cũng cường. Can Giáp Ất thêm chi Dần Mão, gặp Quan thấu cũng thọ nổi, gặp thủy sanh thì thái quá, ấy là thất thời mà chẳng nhược.Vượng suy cường nhược 4 chữ, người xưa luận mệnh, thường bị trói buộc hỗ dụng, chẳng biết xem phân biệt. Suy cho cùng thì đắc thời là vượng, thất thời thì suy; phe đảng nhiều thì cường, cô thế ít được giúp là nhược. Cũng có khi tuy vượng mà nhược, tuy suy mà cường, xem xét phân biệt sẽ tự rõ lý ấy. Xuân mộc, hạ hỏa, thu kim, đông thủy, là đắc thời, thêm tỉ kiếp ấn thụ thông căn phò trợ thì phe đảng nhiều.Giáp Ất mộc sanh ở tháng Dần Mão, đắc thời vượng; can Canh Tân thêm chi Dậu Sửu, tất phe đảng kim nhiều, mộc cô thế thì ít được giúp. Can Bính Đinh thêm chi Tị Ngọ, tất phe đảng hỏa nhiều, mộc tiết khí qúa nhiều, tuy nắm lệnh cũng chẳng cường.Giáp Ất mộc sanh ở tháng Thân Dậu, thất thời tất suy, như có Tỷ Ấn trùng điệp, chi năm tháng giờ, lại thông căn Tỷ Ấn, tức là phe đảng nhiều, tuy thất thời mà chẳng nhược. Không riêng gì luận ngày chủ như thế mà hỉ dụng kị thần cũng luận như vậy.Vì thế bất luận thập can hưu tù ở nguyệt lệnh, chỉ cần tứ trụ có căn, cũng thọ nổi tài quan thực thần hay đương đầu thương quan thất sát. Trường sanh lộc vượng thì căn trọng; mộ khố dư khí thì căn nhẹ vậy. Thiên can đắc (được) 1 Tỷ kiên không bằng được 1 chi mộ khố, như Giáp gặp Mùi, Bính gặp Tuất, đại loại như vậy. Ất gặp Tuất, Đinh gặp Sửu, chẳng luận vậy được, vì trong Tuất chẳng tàng mộc, trong Sửu không tàng hỏa. Được 2 Tỷ kiên không bằng được 1 chi dư khí, như Ất gặp Thìn, Đinh gặp Mùi, đại loại như
vậy. Được 3 Tỷ kiên không bằng được 1 chi trường sanh lộc nhận, như Giáp gặp Hợi Tý Dần Mão, đại loại như vậy. Âm trường sanh chẳng luận vậy được, như Ất gặp Ngọ, Đinh gặp Dậu, đại loại như vậy, như xét rõ căn thì Tỷ được 1 dư khí. Tỷ kiếp như bạn bè giúp đỡ, thông căn như vợ chồng ở với nhau vậy; can nhiều không bằng căn trọng, lý cố nhiên là vậy.Tiết này luận rõ. Mộ khố là khố của vốn là thân, như Mùi là mộc khố, Tuất là hỏa khố, Thìn là thủy khố, Sửu là kim khố. Như không có thì lấy trường sanh lộc vượng hay dư khí mà dùng cũng vậy. Thìn là dư khí của mộc, Mùi là dư khí của hỏa, Tuất là dư khí của kim, Sửu là dư khí của thủy. 20 ngày sau Thanh minh, Ất mộc do nắm lệnh, khinh mà chẳng khinh, gặp thổ vượng lại dày, tất khinh; nên khá có thêm 1 Tỷ kiếp nữa. Nhược Ất gặp Tuất, Đinh gặp Sửu, khố chẳng có dư khí, không luận thông căn được. Kịp đến như âm gặp trường sanh, không luận trường sanh được, lại như có căn, hay có 1 dư khí vân vân, như thật rõ được lý sanh vượng mộ tuyệt, sẽ chẵng thấy mâu thuẫn. Mộc tới Ngọ, hỏa tới Dậu, đều là tử địa, sao là có căn được? (xem chương luận âm dương sanh tử)Cứ câu nệ vào tục thuyết là không phải vậy. Tỷ kiếp như bạn bè, thông căn như vợ chồng, dù có Tỷ kiếp giúp mà thông căn tất giúp mà chẳng thật. Thí dụ như 4 Tân Mão, kim chẳng thông căn, 4 Bính Thân, hỏa chẳng thông căn, tuy thiên nguyên khí, nhưng vẫn luận là nhược. Tóm lại can nhiều không bằng chi trọng, khi thông căn chi, lại lấy chi của nguyệt lệnh là tối trọng.Thời nay chẳng biết mệnh lý gặp thủy mùa hạ, hỏa mùa đông, chưa coi có thông căn không đã cho là nhược. Lại thêm như can dương gặp khố, như Nhâm gặp Thìn, Bính gặp Tuất, chẳng lấy mừng thủy hỏa thông căn khố của mình, thậm chí còn cầu cho hình hay xung khai. Những thứ luận sằng bậy ấy ắt nên nhất thiết quét bỏ.Từ trước tới nay bàn mệnh lý có 5 môn: Lục nhâm, Kỳ môn, Thái ất, Hà lạc, Tử vi đẩu số, nhưng khi dùng nạp âm, tinh thần cung độ, quái lý có khác nhau. Tử Bình dùng ngũ hành bình mệnh, cùng 1 loại ấy. Thuật giả chẳng rõ nguồn gốc, kéo bên đông giựt bên tây, miễn cưỡng khiên hợp, nghe lời sai trái, truyền đi sai trái, cũng chẳng làm lạ gì, như Tử Bình đã lấy ngũ hành làm căn cứ để bình mệnh, tất biến hóa thế nào cũng chẳng lìa gốc là lý ngũ hành. Lấy lý luận phối hợp củng thực tế, tất không còn chỗ đứng cho những thứ sách hay lý luận sằng bậy vậy.
7) Luận hình xung hội hiệp giải pháp
Nguyên văn: Hình tức là tam hình dã, Tý Mão Tị Thân các loại. Xung tức là lục xung, Tý Ngọ Mão Dậu các loại, hội tức là tam hội như Thân Tý Thìn các loại. Hợp tức là lục hợp, Tý với Sửu hợp các loại. Tuy tất thảy đều lấy phân chia ra theo địa chi mà nói, chia thành các hệ ý đối nhau. Tam phương hội là ý của bằng hữu. Đối xứng thì hợp là ý của láng giềng ta. Đến như tam hình hai dãy, như chị dâu em chồng, tuy không biết, với mệnh lý cũng không có hại.
Nguyên văn: Trong bát tự có hình xung đều không tốt, như có tam hợp lục hợp có thể giải được. Giả như Giáp sanh tháng Dậu, gặp Mão tất xung, may có chi Tuất, tất Mão cùng Tuất tham hợp mà quên xung; có Thìn, tất Dậu Thìn hợp mà quên xung; có Hợi và Mùi, tất Mão cùng Hợi Mùi hợp mà quên xung; có Tị và Sửu, tất Dậu với Tị Sửu hội nhi bất xung. Nhờ hội hợp mà khả lấy giải được xung vậy. Lại như Bính sanh tháng Tý, gặp Mão tất hình, như may chi có Tuất, tất Mão cùng Tuất tham hợp mà quên hình; có Sửu, tất Tý và Sửu hợp mà quên hình; có Hợi với Mùi, tất Mão với Hợi vị hội mà quên hình; có Thân và Thìn, tất Tý và Thân Thìn hội mà quên hình. Nhờ hội hợp mà khả lấy giải được hình vậy.
Nguyên văn: Lại có khi nhờ giải mà phản cách trở thành hình xung là sao? Giả như Giáp sanh tháng Tý, chi gặp 2 Mão tương tịnh, 2 Mão không hình 1 Tý, như chi lại có thêm Tuất, tất tuất và mão, vốn là giải hình, nhưng hợp mất 1 Mão, tất 1 hợp mà 1 hình vậy, vậy là giải mà phản cách thành hình xung.
8) Luận Dụng Thần
Nguyên văn: Dụng thần của bát tự, chuyên tìm ở nguyệt lệnh, tức là lấy can ngày phối cùng chi tháng nắm lệnh, do sanh khắc bất đồng mà định ra cách cục. Tài Quan Ấn Thực, là dụng thần khéo dùng thuận theo giúp với; Sát Thương Kiếp Nhận, là dụng thần dùng khắc chế ngược lại với ngày can. Đáng thuận mà được thuận, đáng nghịch mà gặp nghịch, phối hợp thì nên, đều là quý cách.
Nguyên văn: Phép chọn dụng thần tuy bất nhất, tóm tắt lại có thể chia làm 5 loại sau: phù ức, bệnh dược, điều hậu, chuyên vượng, thông quan.
Nguyên văn: Như thế khéo thuận dụng thì, tất Tài mừng gặp được Thực thần sanh, Tài sanh Quan có thể hộ Tài; Quan hỉ thấu Tài tương sanh, sanh Ấn khả để hộ Quan; Ấn hỉ Quan sát tương sanh, Kiếp tài có thể hộ Ấn; Thực hỉ thân vượng tương sanh, sanh Tài có thể hộ Thực. Như nghịch dụng thì, tất Thất sát hỉ Thực thần chế phục, kị Tài Ấn tư phò; Thương quan mừng có Ấn đeo được chế phục, sanh Tài có thể hóa Thương; Dương nhận mừng được Quan sát chế phục, kị không gặp được Quan sát; tháng Kiếp hỉ thấu Quan chế phục, lợi dùng Tài thấu thực để hóa Kiếp. Cách dùng thuận nghịch là vậy.
Nguyên văn: Đời nay chẳng biết chuyên chú đề cương. Xem hỉ kị hết thảy đều quy về nguyệt lệnh, rồi mới xem can chi tứ trụ. Thậm chí thấy chánh Quan bội Ấn, chính là Quan Ấn song toàn, lại đi luận như Ấn thụ dùng Quan vậy; thấy Tài thấu Thực thần, chẳng lấy Tài gặp Thực sanh, mà cho là Thực thần sanh Tài, lại luận như Thực thần sanh Tài; thấy Thiên ấn thấu Thực, chẳng lấy tiết thân làm đẹp, lại cho là Kiêu thần đoạt Thực, nên dùng Tài chế, lại đi luận như Thực thần gặp Kiêu; thấy Sát gặp Thực chế mà lại lộ Ấn thì, chẳng chịu lấy khử Thực hộ Sát, mà cho là Sát Ấn tương sanh, lại đi luận như Ấn thụ gặp Sát; đến như Sát cách gặp Nhận, chẳng lấy Nhận giúp thân chế Sát, mà cho là lấy Thất sát chế Nhận, lại đi luận như Dương nhận lộ Sát. Đó đều do chẳng thông nguyệt lệnh mà luận bậy vậy.
Nguyên văn: Cũng có khi nguyệt lệnh không có dụng thần thì làm sao? Như mộc sanh Dần Mão, tháng ngày như nhau, chẳng thể lấy vốn là thân làm dụng, tất xem tứ trụ có Tài Quan Sát Thực thấu can hay hội chi, lấy riêng ra mà dùng; đều lấy nguyệt lệnh là chủ, rồi mới tìm dụng, gặp cách gặp lộc tháng kiếp, không dụng tức là dụng thần vậy.
9) Luận dụng thần thành bại cứu ứng
Nguyên văn: Dụng thần chuyên tìm ở nguyệt lệnh, phối với tứ trụ, tất có thành bại.Vì sao thành? Như Quan gặp Tài Ấn, lại không bị hình xung phá hại, Quan cách thành vậy. Tài sanh Quan vượng, hoặc Tài gặp Thực sanh mà thân cường đới Tỷ, hoặc Tài cách thấu Ấn mà vị trí thỏa đáng, cả hai đều không tương khắc, thì Tài cách thành vậy. Ấn khinh gặp Sát, hoặc Quan Ấn song toàn, hoặc thân Ấn đều vượng thì dùng Thực thương để tiết khí, hoặc Ấn nhiều gặp Tài mà Tài thấu căn khinh, Ấn cách thành vậy. Thực thần sanh Tài, hoặc Thực đới Sát mà không có Tài, bỏ Thực theo Sát may thấu Ấn, Thực cách thành vậy.Thân cường Thất sát gặp chế, Sát cách thành vậy. Thương quan sanh Tài, hoặc Thương quan bội Ấn mà Thương quan vượng và Ấn có căn, hoặc Thương quan vượng, thân nhược mà thấu Sát Ấn, hoặc Thương quan đới Sát mà không có Tài, Thương quan cách thành vậy. Dương nhận thấu Quan sát mà lộ Tài Ấn, lại không gặp Thương quan, Ấ
Dương nhận cách thành vậy. Gặp lộc tháng Kiếp, thấu Quan mà gặp Tài Ấn, thấu Tài mà gặp Thực thương, thấu Sát mà được chế phục, gặp lộc tháng kiếp cách thành vậy.
Nguyên văn: Tài vượng sanh Quan tức là, nguyệt lệnh Tài tinh vượng, tứ trụ có Quan, tất Tài vượng tự sanh Quan; hoặc nguyệt lệnh Tài tinh mà thấu Thực thần, thân cường tất Thực thần tiết tú, chuyển thành sanh Tài. Tài vốn kị Tỷ kiếp, có Thực thần tất chẳng kị nữa, nên Tài có Thực thần thì hóa Tỷ kiếp vậy. Hoặc thấu Ấn mà vị trí thỏa đáng tức là, Tài Ấn cả hai đều không tương khắc vậy (xem tiết Tài cách bội Ấn). Như can năm thấu Ấn, can giờ thấu Tài, ở giữa cách nhau có Tỷ kiếp, tất chẳng ngại; nếu ở giữa cách nhau Quan tinh tất là Tài vượng sanh Quan, cũng chẳng ngại, như vậy là Tài cách thành vậy.
Nguyên văn: Tại sao bại? Quan gặp Thương khắc hình xung, Quan cách bại vậy; Tài khinh Tỷ trọng, hay Tài thấu Thất sát, Tài cách bại vậy; Ấn khinh gặp Tài, hoặc thân cường Ấn trọng lại thấu Sát, Ấn cách bại vậy; Thực thần gặp Kiêu, hoặc Thực sanh Tài lộ Sát, Thực thần cách bại vậy; Thất sát gặp Tài không có chế phục, Thất sát cách bại vậy; Thương quan không phải là kim thủy mà gặp Quan, hoặc Thương sanh Tài rồi Tài sanh tiếp Sát, hoặc Thương bội Ấn mà Thương khinh thân vượng, Thương quan cách bại vậy; Dương nhận không có Quan sát, Nhận cách bại vậy; Gặp lộc tháng Kiếp, không có Tài Quan, thấu Sát Ấn, gặp lộc tháng Kiếp cách bại vậy.
Nguyên văn: Trong thành có bại, tất là đới kị; trong bại có thành, toàn nhờ cứu ứng. Đới kị là sao? Như Chánh quan gặp Tài mà lại gặp Thương; Quan thấu nhi mà lại bị hợp; Tài vượng sanh Quan mà lại bị Thương hay bị hợp; Ấn thấu Thực vốn có thể tiết khí, mà lại gặp Tài lộ; thấu Sát vốn có thể sanh Ấn, mà lại thấu Tài, khử Ấn giữ lại Sát; Thực thần đới Sát Ấn mà lại gặp Tài; Thất sát có Thực chế mà lại gặp Ấn; Thương quan sanh Tài mà Tài lại bị hợp; bội Ấn mà Ấn lại bị Thương, thấu Tài mà lại gặp Sát, thảy đều là đới kị vậy.
Nguyên văn: Trong thành mà bại, cũng biến hóa vạn đoan, đó chỉ bất quá là đại khái thôi. Như Tài vượng sanh Quan là cách tốt đẹp, nhưng thân nhược thấu Quan, tức là phá cách. Thương quan gặp Quan là cách xấu, thấu Tài mà ngôi vị phối trí hợp lý tất Thương quan sanh Tài lại sanh Quan phản cách thành giải, muôn vàn biến hóa, không thể nói hết, học kỹ sẽ diệu ngộ được.
Nguyên văn: Vì sao có cứu ứng? Như Quan gặp Thương như thấu Ấn thì được giải, Quan sát hỗn tạp mà hợp mất Sát thì thanh, hình xung thì lấy hội hợp để giải; Tài gặp Kiếp mà thấu Thực thì được hóa, hay có sanh Quan thì chế nổi Kiếp, Tài gặp Sát thì lấy Thực thần chế Sát để sanh Tài, hợp mất Sát để giữ lại Tài; Ấn gặp Tài thì lấy Kiếp để giải, hoặc hợp mất Tài mà giữ lại Ấn; Thực gặp Kiêu nhi tựu Sát trở thành cách, hoặc sanh Tài để hộ Thực; Sát gặp Thực chế, Ấn đến hộ Sát, gặp Tài thì khử Ấn mà giữ lại Thực; Thương quan sanh Tài thấu Sát là phá cách thì nên hợp mất Sát; Dương nhận dùng Quan sát mà bị gặp phải Thương thực, thì lấy trọng Ấn để hộ Quan sát; gặp Lộc tháng Kiếp dùng Quan, gặp Thương mà Thương bị hợp, dùng Tài mà gặp Sát nhưng Sát bị hợp, như thế đều là có cứu ứng.
Nguyên văn: Diệu dụng của trụ, toàn ở lẽ thành bại cứu ứng, trong đó quyền biến nặng nhẹ, rất đỗi linh hoạt. Học giả nên lưu tâm, có thể theo lẽ trong dung mà ứng phó vạn biến, là cái đạo lớn của mệnh, ấy là đạt đạo !
10) Luận dụng thần biến hóa
Thập, luận dụng thần biến hóa (P1)Nguyên văn: Dụng thần chuyên gửi ở nguyệt lệnh hĩ, nhưng nguyệt lệnh tàng chứa bất nhất, nên dụng thần cũng biến hóa. Như trong 12 chi, trừ Tý Ngọ Mão Dậu ra, đều tàng chứa dư khí, không chỉ riêng tứ khố vậy. Tức lấy Dần mà luận, Giáp vốn là chủ, như quận có phủ, Bính trường sanh ở đó, như quận có đồng tri, Mậu cũng trường sanh, như quận có thông phán; giả sử tháng Dần là đề cương, không thấu Giáp mà thấu Bính, tất như tri phủ không tới quận, nên đồng tri được tác chủ vậy. Biến hóa là do thế.
Nguyên văn: Lại nói Đinh sanh tháng Hợi, vốn là Chánh quan, chi toàn Mão Mùi, tất hóa ra Ấn. Kỷ sanh tháng Thân, vốn là Thương quan. Tàng chứa Canh mà thấu Nhâm, tất hóa ra Tài. Phàm như thế đều là biến hóa của dụng thần vậy.
Thập, luận dụng thần biến hóa (P2)Nguyên văn: Biến khéo thì cách trở thành rất tốt; biến không khéo thì cách tan nát, thế nào là biến khéo? Như Tân sanh tháng Dần, gặp Bính thì Tài hóa ra Quan; Nhâm sanh tháng Tuất gặp Tân thì Sát hóa ra Ấn. Quý sanh tháng Dần, không thể chuyên lấy Sát mà luận. Thử nhị giả dĩ thấu xuất nhi biến hóa giả dã. Quý sanh dần nguyệt, nguyệt lệnh thương quan bỉnh lệnh, tàng giáp thấu bính, hội ngọ hội tuất, tắc dần ngọ tuất tam hiệp, thương hóa vi tài; gia dĩ bính hỏa thấu xuất, hoàn toàn tác vi tài luận, tức sử bất thấu bính nhi thấu mậu thổ, diệc tác tài vượng sanh quan luận. Cái dần ngọ tuất tam hiệp biến hóa tại tiền, bất tác thương quan kiến quan luận dã. Ất sanh dần nguyệt, nguyệt kiếp bỉnh lệnh, hội ngọ hội tuất, tắc kiếp hóa vi thực thương, thấu mậu tắc vi thực thương sanh tài, bất tác tỉ kiếp tranh tài luận. Thử nhị giả nhân hội hiệp nhi biến hóa giả. Nhân biến hóa nhi kị hóa vi hỉ, vi biến chi thiện giả.
Nguyên văn: Thế nào là biến không khéo? Như Bính sanh tháng Dần, vốn là Ấn thụ, can không thấu Giáp mà lại hội Ngọ hội Tuất, tất hóa ra Kiếp. Bính sanh tháng Thân, vốn là Thiên tài, tàng Canh thấu Nhâm, hội Tý hội Thìn, tất hóa ra Sát. Những trụ loại như thế đều là biến không khéo ra bất thiện vậy.
Nguyên văn: Nói bát tự trừ phi dụng thần đã lập, dụng thần không biến hóa thì chẳng linh, người khéo xem mệnh nên để ý.
11) Luận dụng thần thuần tạp
Thập nhất, luận dụng thần thuần tạpNguyên văn: Dụng thần đã có biến hóa, tất trong biến hóa, có chia ra thuần, tạp. Thuần thì cát, tạp thì hung.
Nguyên văn: Thuần là sao? Là hỗ dụng mà cả 2 đều tương đắc. Như Tân sanh tháng Dần, Giáp Bính đều thấu, Tài và Quan cả 2 tương sanh, tương đắc vậy. Mậu sanh tháng Thân, Canh Nhâm đều thấu, Tài và Thực cả 2 tương sanh, tương đắc vậy. Quý sanh tháng Mùi, Ất Kỷ đều thấu, Sát và Thực tương khắc, tương khắc nhưng lại hợp nhau, nên cả 2 cũng tương đắc vậy. Các loại như thế, đều là dụng thần thuần vậy.
Nguyên văn: Tạp là sao? Là hỗ dụng nhưng cả 2 không cùng chung mưu vậy. Như Nhâm sanh tháng Mùi, Ất Kỷ đều thấu, Quan với Thương tương khắc, cả 2 không cùng chung mưu vậy. Giáp ở tháng Thìn, Mậu Nhâm đều thấu, Ấn với Tài tương khắc, cũng là cả 2 không cùng chung mưu vậy. Các loại như thế, đều là dụng thần tạp vậy.
Nguyên văn: Cái lý thuần tạp, không ngoài biến hóa, không nên sơ xuất, lý ấy rất rõ, người học mệnh không thể không biết.
12) Luận dụng thần cách cục cao đê
Thập nhị, luận dụng thần cách cục cao đê (P.1)Nguyên văn: Bát tự đã có dụng thần, tất có cách cục, có cách cục tất có chia cao thấp, tài quan ấn thực sát thương kiếp nhận, cách nào chẳng quý? cách nào chẳng tiện? bởi cực quý cho tới cực tiện, vạn người mới có 1, thiên biến vạn hóa, sao kể hết được? nhưng cái lý đại cương, nói gọn lại cũng chỉ ở có tình hay vô tình, có lực hay không có lực.
Nguyên văn: Như Chánh quan bội Ấn, chẳng may thấu Tài, như tứ trụ thêm Thương, không còn bội Ấn nữa. Nên Giáp thấu Dậu Quan, thấu Đinh hợp Nhâm, là hợp Thương giữ lại Quan, toại thành quý cách, ấy là có tình. Tài kị Tỷ kiếp, cùng Sát tác hợp, Kiếp trở thành dụng. Nên Giáp sanh tháng Thìn, thấu Mậu thành cách, gặp Ất là Kiếp, gặp Canh là Sát, cả hai tương hợp, thảy đều đắc dụng, toại thành quý cách, cũng là có tình vậy.
Thập nhị, luận dụng thần cách cục cao đê (P.2)Nguyên văn: Thân cường Sát lộ mà thực thần lại vượng, như Ất sanh tháng Dậu, Tân kim thấu, Đinh hỏa cương, thu mộc thịnh, cả 3 đều đủ mạnh, quý cực đẳng, là ở có lực vậy.Quan cường Tài thấu, thân gặp lộc nhận, như Bính sanh tháng Tý, Quý thủy thấu, Canh kim lộ, như tọa Dần Ngọ, cả 3 cùng mạnh, toại thành đại quý, cũng ở có lực vậy.
Thập nhị, luận dụng thần cách cục cao đê (P.4)Nguyên văn: Lại có khi có tình mà kiêm có lực, có lực mà kiêm có tình vậy. Như Giáp dùng Dậu Quan, Nhâm hợp Đinh làm thanh Quan, như Nhâm thủy căn thâm, là có tình mà kiêm có lực vậy. Ất dùng Dậu Sát, Tân gặp Đinh chế, mà Tân có lộc tức Đinh trường sanh, cùng gốc ở nguyệt lệnh, là có lực mà kiêm có tình vậy. Cách đẹp đến thế là cùng.
Nguyên văn: Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh gặp Quý, Quý khắc chẳng may Nhâm hợp, có tình chẳng bằng vô tình vậy. Ất gặp Dậu gặp Sát, thấu Đinh chế, như Sát cường mà Đinh yếu nhược, hoặc Đinh vượng mà Sát chẳng ngang, hay Tân Đinh đều vượng mà Ất căn chẳng sâu, tưởng có lực mà hoàn toàn không có lực, cách tuy cao mà xếp thứ thôi.
Nguyên văn: Đến như Ấn dùng Thất sát, vốn là quý cách, nhưng thân cường Ấn vượng, thấu Sát là cô bần, thân vượng chẳng cần Ấn sanh, Ấn vượng còn thêm Sát trợ? đã thiên lệch lại thêm thiên lệch, ấy là vô tình vậy. Thương quan bội Ấn, vốn là đẹp quý, nhưng thân chủ quá vượng mà Thương quan quá kém, Ấn lại quá nặng, chẳng quý chẳng đẹp, trợ thân tất thân cường, chế Thương tất Thương kém, thế thì làm sao dùng trọng Ấn được? Như thế cũng là vô tình vậy. Lại như Sát cường Thực vượng mà thân không có căn, thân
cường Tỷ trọng mà Tài không có khí, hoặc yểu hoặc bần, là do không có lực vậy. Đều là cách thấp mà không có dụng vậy.
Nguyên văn: Thế giờ trong nguyên nhân cao thấp, biến hóa rất tinh là, hoặc 1 chữ mà có lực mạnh ngàn quân, hoặc nửa chữ mà toàn cục đẹp đẽ bị bại, tùy giờ xem xét lý, lấy cái khó mà bàn nghị, riêng về đại lược là thế.
13) luận dụng thần nhân thành đắc bại, nhân bại đắc thành
Thập tam, luận dụng thần thành – bại, bại – thànhNguyên văn: Trong bát tự biến hóa bất nhất, mới phân thành bại; Mà trong thành bại, lại biến hóa bất trắc, có khi nhân thành đắc bại, có khi nhân bại đắc thành.
Nguyên văn: Thế nên hóa Thương là Tài, cách thành vậy, nhưng Tân sanh tháng Hợi, thấu Đinh là dụng, Mão Mùi hội Tài, vì thế theo Sát, nhân thành mà bị bại hĩ. Ấn dụng Thất sát, cách thành vậy, nhưng Quý sanh tháng Thân, thu kim trùng trùng, lấy Tài để tổn cái thái quá, gặp Sát tất Sát Ấn là kị của Tài, nhân thành mà bị bại hĩ. Các loại như thế, không thể thắng sổ, đều là ví dụ nhân thành mà bị bại vậy.
Nguyên văn: Quan Ấn gặp Thương, cách bại vậy, nhưng Tân sanh tháng Mậu Tuất, năm Bính giờ Nhâm, Nhâm không thể vượt qua Mậu đi khắc Bính, mà có thể phản trở lại tiết thân cho đẹp, ấy là nhân bại đắc thành hĩ. Sát Nhận gặp Thực, cách bại vậy, nhưng Canh sanh tháng dậu, năm Bính tháng Đinh, trên can giờ gặp Nhâm, tất Thực thần hợp Quan lưu Sát, nên Quan sát không tạp, Sát Nhận cục thanh, là nhân bại đắc thành hĩ. Các loại như thế, cũng không thể thắng sổ, đều là ví dụ nhân bại đắc thành vậy.
Nguyên văn: Cái cách kì kì quái quái ấy, biến ấu không có cùng, duy lấy lý mà cân nhắc, tùy ở rõ lý, nhân giờ vận hóa, do những kì quái ấy, tự chỉ có 1 loại rất đáng bất luận không đổi. Xem mệnh không có huyễn thì không có chủ, chấp thì không hóa vậy.
14) Luận dụng thần phối khí hậu đắc thất
(P1)Nguyên văn: Luận mệnh duy lấy nguyệt lệnh dụng thần làm chủ, nhưng cũng nên xem phối khí hậu thế nào. Như anh hùng hào kiệt, sanh gặp giờ, tự nhiên việc 1/2 mà công nhiều lần; nghịch giờ, tuy có kì tài, không dễ thành công.
Nguyên văn: Vì thế Ấn thụ gặp Quan, là Quan Ấn song toàn, không ai không quý. Nhưng mộc mùa đông gặp thủy, tuy thấu Quan tinh, cũng khó mà quý, vì đang rét mà thêm nước đá, nước đá không thể sanh mộc, lý là như thế. Thân Ấn đều vượng, thấu Thực tất quý, phàm Ấn cách đều thế. Nhưng dùng đông mộc, vốn là tú khí, lấy đông mộc gặp hỏa, không chỉ có thể tiết thân, mà tức là điều hậu vậy. Nguyên văn: Thương quan gặp Quan, như trăm mối họa, duy kim thủy gặp được, trái lại thành tú khí. Có Quan nào mà không sợ Thương, nhưng điều hậu là cần kíp, phải tạm dùng vậy. Thương quan đới Sát, tùy giờ có thể dùng, như dùng đông kim, thì đẹp gấp bội.
Nguyên văn: Thương quan bội Ấn, tùy giờ có thể dùng, nhưng dùng mộc mùa hạ, thì đẹp gấp bội, thủy hỏa tương tế vậy.
(P.2)Nguyên văn: Thương quan dùng Tài, vốn là quý cách, nhưng dùng thủy mùa đông, tức khiến cho tiểu phú, như lại nhiều thủy thì không quý, vì nước đá không thể sanh mộc vậy.
Nguyên văn: Thương quan dùng Tài, tức là tú khí, như dùng mộc mùa hạ, quý mà rất không đẹp, táo thổ rất không linh tú.
Nguyên văn: Mộc mùa xuân gặp hỏa, tất là mộc thông minh, nhưng mộc mùa hạ không thể luận như thế; kim mùa thu gặp thủy, tất là kim thủy tương hàm, nhưng kim mùa đông không thể luận như thế. Khí có suy vượng, nên chọn lấy dụng thần cũng khác nhau vậy. Xuân mộc gặp hỏa, mộc hỏa thông minh, gặp Quan bất lợi; nhưng kim mùa thu gặp thủy, kim thủy tương hàm, gặp Quan chẳng ngại. Giả như Canh sanh tháng tháng Thân, mà chi có Tý hoặc Thìn, hội thành thủy cục, thiên can thấu ra Đinh, lấy làm Quan tinh, cốt yếu Nhâm Quý không nên thấu lộ can đầu, mới thành quý cách, cùng luận thuyết như Thực thần Thương quan mừng gặp Quan, cũng là đạo điều hậu vậy.
Nguyên văn: Thực thần tuy gặp Chánh ấn, cũng là đoạt Thực, nhưng mộc mùa hạ hỏa thịnh, dùng ít thì tú nên quý, cũng luận giống như mộc hỏa Thương quan mừng gặp thủy, cũng cùng là điều hậu vậy.
Nguyên văn: Những loại như thế nhiều lắm, không cần kể hết, ở học giả duỗi ra co vào, định thần tự nhiên sáng tỏ.
15) Luận tương thần khẩn yếu
Nguyên văn: Nguyệt lệnh đã được dụng thần, tất ngôi vị khác biệt tất có qua lại, như vua có tướng phò giúp vậy. Như Quan gặp Tài sanh, tất Quan là dụng, Tài là tướng; Tài vượng sanh Quan, tất Tài là dụng, Quan là tướng; Sát gặp Thực chế, tất Sát là dụng, Thực là tướng. Tuy phép nhất định mà thông biến kỳ diệu.Nói tóm lại, phàm cách toàn cục, nhờ 1 chữ mà thành vậy, vua nên có tướng vậy.
Nguyên văn: Dùng Thương làm dụng thần rất đỗi thương thân, Thương tương thậm ư thương dụng. Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh gặp Nhâm, tất hợp Thương giữ lại Quan để thành cách vậy, toàn là nhờ ở Nhâm giúp; Mậu dùng Tý Tài, thấu Giáp và Kỷ, tất hợp Sát giữ lại Tài để thành cách vậy, toàn là nhờ ở Kỷ giúp; Ất dùng Dậu Sát, năm Đinh tháng Quý, giờ gặp Mậu, tất hợp mất Ấn Quý lấy khiến Đinh có thể chế Sát vậy, toàn là nhờ ở Mậu giúp.
Nguyên văn: Quý sanh tháng Hợi, thấu Bính là Tài, Tài gặp tháng Kiếp, thêm Mão Mùi tới hội, tất hóa thủy ra mộc mà chuyển Kiếp để sanh Tài vậy, toàn nhờ ở Mão Mùi là tương (hỷ). Canh sanh tháng Thân, thấu Quý tiết khí, không thông nguyệt lệnh nên kim khí chẳng linh lắm, Tý Thìn hội cục, tất hóa kim ra thủy mà thành kim thủy tương hàm vậy, toàn nhờ ở Tý Thìn là tương. Các loại như thế, đều chủ yếu dùng tương thần vậy.
Nguyên văn: Tương thần không gặp phá, quý cách thành; tương thần bị thương, cách bại ngay. Như Giáp dùng Dậu Quan, thấu Đinh gặp Quý Ấn, chế Thương để hộ Quan hĩ, như lại gặp Mậu, Quý hợp Mậu không thể chế Đinh, tương là Quý thủy bị thương hĩ; Đinh dùng Dậu Tài, thấu Quý gặp Kỷ, Thực chế Sát để sanh Tài hĩ, như lại thấu Giáp, Kỷ hợp Giáp nên không chế Quý, tương là Kỷ thổ bị thương hĩ. Thế đều là có tình mà hóa ra vô tình, cách có dụng mà thành không có dụng vậy.
Nguyên văn: Phàm bát tự an định, tất chỉ có 1 loại nghị luận, 1 loại tác dụng, 1 loại khí lấy, tùy nơi mà thay hình, khó mà để trống, người học mệnh giả không nên vì thế mà sao nhãng?
16) Luận tạp khí như hà thủ dụng
Thập lục, luận tạp khí như hà thủ dụng (P.1)Nguyên văn: Tứ mộ, xung khí, tại sao đều là tạp khí? Ấy là vì tàng chứa nhiều, dụng thần bất nhất, nói là tạp khí vậy. Như Thìn vốn tàng Mậu, lại là thủy khố, nên Ất dư khí, cả 3 đều có, nên chọn dùng cái nào? Rất đơn giản, chọn cái thấu ra can trở thành thanh mà dùng, tạp mà chẳng tạp vậy.
Nguyên văn: Thấu can là sao? Như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Mậu tất dụng Thiên tài, thấu Quý tất dụng Chánh ấn, thấu Ất tất dụng tháng Kiếp là thế. Hội là sao? Như Giáp sanh tháng Thìn, gặp Thân Tý hội cục, tất dụng thủy Ấn vậy. Chỉ thấu 1 tất dụng 1, kiêm thấu tất kiêm dụng, thấu mà lại hội, tất thấu và hội đều dụng. Như hợp mà có tình là tốt, hợp mà vô tình tất xấu.
Nguyên văn: Có tình là sao? Thuận mà tương thành vậy. Như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Quý là Ấn, như lại hội Tý hội Thân để thành cục, cách Ấn thụ, thanh mà chẳng tạp, nhờ thấu can và hội chi, hợp nên có tình vậy. Lại như Bính sanh tháng Thìn, thấu Quý là Quan, như lại gặp Kỷ là Ấn, Quan Ấn tương sanh, mà Ấn lại có thể khử ám thổ trong Thìn để thanh Quan, nhờ cả 2 can đều thấu, hợp nên có tình vậy. Lại như Giáp sanh tháng Sửu, thấu Tân là Quan, hoặc hội Tị Dậu thành kim cục, như lại thấu Kỷ Tài sanh Quan, Tài Quan cả 2 can đều thấu, gặp hội hợp nên có tình vậy.
Nguyên văn: Vô tình là sao? Là trái ngược lại. Như Nhâm sanh tháng Mùi, thấu Kỷ là Quan, như địa chi hội Hợi Mão trở thành Thương quan cục, thế là Quan thấu và chi hội, hợp mà vô tình vậy. Lại như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Tài, lại thấu Nhâm hoặc Quý là Ấn, thấu Quý tất Mậu Quý tác hợp, Tài Ấn đều mất, thấu Nhâm tất Tài Ấn đều bị thương, lại tham Tài hại Ấn, thế là 2 can đều thấu, hợp mà vô tình vậy. Lại như Giáp sanh tháng Tuất, thấu Tân là Quan, như lại thấu Đinh Thương quan, chi tháng lại hội Dần hội Ngọ trở thành Thương quan cục, thế là 2 can đều thấu, với chi hội hợp vô tình vậy.
Thập lục, luận tạp khí như hà thủ dụng (P.2)Nguyên văn: Lại có có tình mà rốt cuộc thành vô tình giả, là sao? Như Giáp sanh tháng Thìn, gặp Nhâm là Ấn, như lại gặp Bính, Ấn thụ vốn là hỉ, tiết thân là tú, tự thành cách hĩ, nhưng hỏa sanh thổ, lại tự giúp Mậu trong Thìn, Ấn cách chẳng thanh, như can Nhâm thấu mà chi lại hội Thân hội Tý, tất Bính thấu cũng không ngại. Lại như Giáp sanh tháng Thìn, thấu Nhâm là Ấn, tuy không lộ Bính nhưng chi gặp ngôi Tuất, Tuất với Thìn xung, tháng xung nên thổ động, can đầu Nhâm Ấ
khó thông nguyệt lệnh, Ấn cách chẳng thành, thế là đều có tình mà rốt cuộc vô tình, phú mà chẳng quý vậy.
Nguyên văn: Lại có khi vô tình mà kết cục trở thành có tình, là sao? Như Quý sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Quan, lại hội Thân hội Tý trở thành thủy cục, can thấu với chi hội khắc nhau hĩ. Nhưng Kiếp bị khắc, ví như tháng Kiếp dùng Quan, hà thương chi có? Lại như Bính sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Thực, như lại thấu Nhâm là Sát, thế là 2 can đều thấu, mà tương khắc vậy. Nhưng khắc Thiên quan, ví như Thực thần đới Sát, Sát gặp Thực chế, cả 2 đều là cách tốt, cục như thế càng quý. Thế là đều vô tình mà kết cục trở thành có tình vậy.
17) Luận mộ khố hình xung chi thuyết
Thập thất, luận mộ khố hình xung chi thuyếtNguyên văn: Có thuyết cho là Thìn Tuất Sửu Mùi mừng gặp hình xung, Tài Quan nhập khố không xung chẳng phát, tuy rất nhiều tục thư theo thuyết ấy, nhưng tiên sanh Tử Bình lập mệnh không nói vậy. Như tạp khí thấu can hội chi, chẳng phải tốt lắm sao? Cớ chi phải cần hình xung? Như Giáp sanh tháng Thìn, Mậu thổ thấu ra không phải Thiên tài sao? Thân Tý hội không phải Ấn thụ sao? Còn như Mậu thổ không thấu, tức Thìn Tuất xung nhau, Tài cách do thế chẳng được thanh vậy. Hoặc như thấu Nhâm là Ấn, có Thìn Tuất xung nhau, khiến Ấn bị lụy, sao lại có thể là xung khai Ấn khố?
Nguyên văn: Huống hồ trong tứ khố, tuy ngũ hành đều có, nhưng rốt cuộc đều lấy thổ là chủ. Thổ xung tất ứng nghiệm, còn kim mộc thủy hỏa, sao nói lấy xung tứ khố để động? Có câu Tài Quan đều thuộc thổ, xung tất khố mở ra, như đại loại Giáp dùng Mậu Tài mà gặp Thìn Tuất xung, Nhâm dùng Kỷ Quan mà được Sửu Mùi xung. Nhưng rốt cuộc nếu lấy Mậu Kỷ thấu ra là dụng, can đã thấu, tức không xung cũng đắc dụng vậy. Hoặc Tài Quan là thủy, xung tất thành phiền não, như Kỷ sanh tháng Thìn, Nhâm thấu là Tài, Tuất xung tất Mậu Kiếp động, có ích lợi gì chứ? Đinh sanh tháng Thìn, thấu Nhâm là Quan, Tuất xung tất Thương quan động, sao lại không hại? Như thế vị chi gặp xung mà Tài khố Quan khố của Nhâm thủy có mở ra đâu?
Nguyên văn: Thời nay chẳng biết lý ấy, thậm chí lấy xuất khố cho là nhập khố. Như Đinh sanh tháng Thìn, Quan Nhâm thấu can, không kể là Nhâm trong khố, thấu ra can đầu, lại nói ngược là Nhâm can, gặp Thìn nhập khố, cầu mong Tuất để xung thổ, chẳng thấy là Quan sẽ bị tổn thương. Thật đáng cười, nếu nguyệt lệnh không là tứ mộ, dụng thần khác biệt, trong năm tháng ngày giờ có 1 cái gặp mộ, mới mong cầu hình xung; ngày lâm tứ khố lại không kể là thân đóng khố có gốc, lại đi cho là thân chủ nhập khố và đi cầu xung để giải. Các loại lý luận ấy đều là sai lầm, chớ nên nghe theo!
Nguyên văn: Nhưng cũng có khi gặp xung mới phát, là sao? Như Quan tối kị xung, nhưng Quý sanh tháng Thìn, thấu Mậu là Quan, Thìn với Tuất xung nhau, không gặp phá cách, tứ khố mừng được xung, như thế là đủ dụng. Tức là các loại Tý Ngọ Mão Dậu là cừu địch nhau, xung ấy là xung khắc, còn như tứ mộ thổ tự xung nhau, xung ấy là xung động, chẳng phải là xung khắc vậy. Như đã lấy thổ là Quan, có hại chi đâu?
Nguyên văn: Nên nói tứ mộ tuy chẳng kị hình xung, nhưng hình xung chưa chắc đã thành cách. Lý ấy rất rõ, nghe phải hiểu
18) Luận tứ cát thần năng phá cách
Thập bát, luận tứ cát thần năng phá cáchNguyên văn: Tài Quan Ấn Thực, là 4 cát thần, nhưng cũng có khi không thể dùng, mà lại cũng có thể phá cách.
Nguyên văn: Như Thực thần đới Sát, thấu Tài là hại, Tài có thể phá cách vậy; xuân mộc hỏa vượng, gặp Quan tất kị, Quan có thể phá cách vậy; Sát gặp Thực chế, thấu Ân không có công, Ấn có thể phá cách vậy; Tài vượng sanh Quan, lộ Thực tất tạp, Thực có thể phá cách vậy.
19) Luận tứ hung thần năng thành cách
Thập cửu, luận tứ hung thần năng thành cáchNguyên văn: Sát Thương Kiêu Nhận, là 4 hung thần, nhưng có khi gặp được, cũng có thể thành cách. Như Ấn thụ căn khinh, thấu Sát là trợ, Sát có thể thành cách vậy. Tài gặp Tỷ kiếp, Thương quan có thể giải, Thương có thể thành cách vậy. Thực thần đới Sát, Kiêu thần đắc dụng, Kiêu có thể thành cách vậy. Tài gặp thất Sát, Nhận có thể giải ách, Nhận có thể thành cách vậy.
Nguyên văn: Cho nên nói Tài không sợ Thương, Quan không sợ Kiêu, Sát không sợ Nhận, như phép trị nước thì thương dài kích lớn, vốn không phải là dụng cụ tốt, nhưng khéo dùng dẹp yên loạn lạc. 20) Luận sanh khắc tiên hậu phân cát hung
Nhị thập, luận sanh khắc tiên hậu phân cát hung (P.1) Nguyên văn: Nguyệt lệnh dụng thần, phối với tứ trụ, mỗi 1 chữ lấy sanh khắc mà chia ra cát hung, nhưng có khi cùng là sanh khắc, mà đóng ở trước hay sau cũng chia ra cát hung nữa, mệnh thật là áo diệu vậy.
Nguyên văn: Như Chánh quan cùng gặp Tài Thương đều thấu, mà trước sau có khác nhau. Như Giáp dụng Dậu Quan, Đinh trước Mậu sau, tất lấy Tài hóa giải Thương, tức tuy không thể quý, nhưng hậu vận tất có kết cục. Nhược Mậu trước mà Đinh sau ở giờ thì, tất là Quan gặp Tài sanh, nhưng vì về sau bị thương phá, tức thuận theo vận trên thì, về sau chẳng có kết cục, con cháu khó khăn hĩ.
Nhị thập, luận sanh khắc tiên hậu phân cát hung (P.2)Nguyên văn: Ấn cách đều mong có cách khôi Ấn, nhưng trước sau có khác biệt. Như Giáp dụng Tý Ấn, Kỷ trước Quý sau, tức khiến cho không giàu, nhưng về già thuận hơn; nhược Quý trước mà Kỷ sau ở giờ, về già lại khốn khổ hĩ.
Nguyên văn: Thực thần đồng thị Tài Kiêu tịnh thấu, nhi trước sau có khác. Như Nhâm dụng Giáp Thực, Canh trước Bính sau, về già tất hanh thông, cách cũng được phú mà không quý. Nhược Bính trước mà canh ở giờ, về già tất đạm bạc, phú quý đều không có hĩ.
Nguyên văn: Thất sát gặp Tài Thực cùng thấu, nhi trước sau mà khác xa. Như Kỷ sanh tháng Mão, Quý trước Tân sau, tất trước lấy Tài trợ làm dụng, mà sau thì Sát dùng Thực chế, chẳng mất đại quý. Như Tân trước mà Quý ở giờ, tất Sát gặp Thực chế, mà Tài chuyển Thực a dua theo Sát, không chỉ chẳng quý, hậu vận tiêu tác, thêm khó thọ hĩ.
Nhị thập, luận sanh khắc tiên hậu phân cát hung (P.3)
Nguyên văn: Bính sanh Tân Dậu, năm Quý giờ Kỷ, vì Thương cách bởi Tài, nên Thương vô lực, cách ngôi nên tiểu quý. Giả như sanh Quý Kỷ mà không được Tân năn cách, cách cục bị phá nát hĩ.
Nhị thập, luận sanh khắc tiên hậu phân cát hung (P.4)Nguyên văn: Tân sanh tháng Thân, năm Nhâm tháng Mậu, giờ có Bính Quan, chẳng sợ Nhâm vì có Mậu ngăn cách, cũng hứa hẹn quý cách. Giả sử năm Bính tháng Nhâm mà giờ Mậu, hoặc năm Mậu tháng Bính mà giờ Nhâm, tất Nhâm đi khắc Bính, chẳng
mong gì quý hĩ.Tân sanh tháng Thân, năm Nhâm tháng Mậu, giờ có Bính Quan, chẳng sợ Nhâm vì có Mậu ngăn cách, cũng hứa hẹn quý cách. Giả sử năm Bính tháng Nhâm mà giờ Mậu, hoặc năm Mậu tháng Bính mà giờ Nhâm, tất Nhâm đi khắc Bính, chẳng mong gì quý hĩ.
Nguyên văn: Như ở trên lấy Quan tinh làm ví dụ, như Ấn sợ Tài phá, Tài sợ Tỷ kiếp, Thực thương kị Kiêu ấn, ý nghĩa như nhau. Phép cứu ứng cũng là thế.
21) Luận Thần/Sát không lý đến Cách Cục
Nguyên văn: Cách cục Bát tự chú trọng lấy nguyệt lệnh phối với tứ trụ, còn về phần Thần sát tốt xấu, đã không dùng đến cái lẽ sinh khắc thì dùng cái gì để đo lường thành bại? Huống chi trong cách cục có cản trở, tức các thứ tốt như Tài Quan thành ra không được việc, thì sao gọi là cát tinh được? Còn dụng được cách cục, như Thất Sát Thương Quan, chẳng lẽ gọi là hung thần sao? Cách cục đã thành dù cho trong trụ đầy Cô thần nhập bọn với Sát chẳng lẽ làm hại đến quý cách? Cách cục bị phá, chả nhẽ Thiên đức quý nhân đầy trụ thì lại thành công? Người nay không biết đến khinh trọng, cứ thấy cát tinh liền tập trung cho nó mà bỏ qua dụng thần (đúng) bất kể tứ trụ thế nào, để rồi luận bậy về quý tiện, nói sai về họa phúc, thật là nực cười.
Nguyên văn: huống chi trong sách nói đến Lộc Quý, thường chỉ nói đến Chính quan mà không phải bàn đến Lộc đường quý nhân. Hay như Chánh Tài đắc Thương Quý là kỳ cách, mà Thương Quý gọi đầy đủ chính là Thương Quan sinh Tài, Chánh Tài đắc nó mới gọi là kỳ, nếu chỉ quý nhân thì Thương Quý là thứ gì vậy? Lại như câu “nhân đắc lộc nhi tị vị” (vì được lộc mà quên nhiệm vụ), thì đắc lộc chính là đắc Quan cách, vận hạn đến đất Quan đương nhiên thăng quan tiến tước; nhưng giả như Tài dụng Thương Quan Thực Thần, vận thấu Quan thì trật tự bị phá hỏng, Chính Quan vận lại gặp Quan thì trùng lắp nhiều quá, nên các loại này chỉ có thể là “tị vị”. Nếu cho đó là Lộc Đường thì không những không đúng lý mà cứ cố cho là “đắc lộc tị vị” thì văn phạm đối chỏi nhau, cổ nhân viết sách lẽ nào không thông thạo ngữ pháp!
Nguyên văn: như nữ mệnh, có câu “Quý chúng tắc vũ quần ca phiến” (Quý mà nhiều thì chỉ là hạng kỹ nữ múa hát tầm thường). “Quý chúng” chính là “Quan chúng”, nữ lấy Quan làm chồng, chả lẽ xuất hiện ra hai chính phu? Một nữ nhiều chồng thì ý chỉ đến giới ca múa phục vụ đàn ông thời phong kiến, một lý lẽ tất nhiên. Nếu cho từ đó là quý nhân, là sao trên trời, cũng không phải là chồng, thì e gì ít hay nhiều mà gán cho là hạng gái cầm ca?
Nguyên văn: song Thần sát trong mệnh thư cũng có đề cập đến, kẻ đọc sách tâm không tốt thường câu chấp, không tường lẽ biến thông. Như “Quý nhân đầu thượng đới Tài Quan, môn sung tứ mã” (Quý nhân thấu lộ mà có cả Tài Quan thì như ngoài cửa có sẳn xe tứ mã), đó là vì Tài Quan như người diện mạo đẹp đẽ, quý nhân như quần áo đẹp thì mới làm vẻ đẹp diện mạo lộ rõ ra được. Thực ra Tài Quan thành cách, tức không có quý nhân xuất lộ, thì lại không có “môn sung tứ mã”! Còn “Cục thanh quý, hựu đới nhị đức, tất thụ vinh phong” (cách cục thanh quý lại mang cả nhị Đức tất thụ hưởng vinh phong). Nếu chú trọng nhị Đức thì tại sao không nói đầy đủ là “đới nhị Đức thụ lưỡng quốc chi phong”, mà còn phải cho rằng không được có Sát cái đã (đòi hỏi cục thanh quý)? Nếu cho rằng mệnh phùng cách xấu, trụ có nhị Đức là phùng hung hữu cứu, tránh được nguy hiểm thì tuy có nói đến cách cục nhưng mà chung quy cũng là không liên can đến quý tiện của cách cục.
22) Luận ngoại cách dụng xả
Bàn về việc khi nào dùng, khi nào bỏ không dùng Ngoại CáchNguyên văn: Dụng thần của bát tự đã chú trọng tìm ở nguyệt lệnh, vậy tại sao còn có ngoại cách nữa? Có Ngoại cách là do nguyệt lệnh vô dụng, phải tùy cơ ứng biến mà dùng nên gọi là ngoại cách.
Nguyên văn: như mộc mùa xuân, thủy mùa đông hay thủy sinh vào tháng tứ quý, khi cùng ngày cùng tháng thì khó mà thấy tác dụng, đều có thể rơi vào loại tượng, hình tượng, xung tài, hội lộc, hình hợp, hay các cách Diêu nghênh (hay Dao tị ? ), Tỉnh lan, Triều dương…, tất cả đều có thể. Nếu nguyệt lệnh tự có Dụng thần, có nên đi tìm ngoại cách? Lại có người mộc sinh mùa xuân, thủy sinh mùa đông, can thấu bên trên có cả Tài Quan Thất Sát, mà bỏ đi để theo ngoại cách, cũng quá sai lầm. Đó là lý do can thấu có Tài,
dụng gì để xung Tài? can thấu Quan, dùng gì để hợp lộc? Thư nói rằng: “Đề cương hữu dụng đề cương trọng “, mà cũng nói “Hữu Quan mạc tầm cách cục”, chính là một lời nói bất di bất dịch.
Nguyên văn: song, cái gọi là “nguyệt lệnh vô dụng” vốn là nguyệt lệnh không có Dụng thần, người nay không hiểu thường gán cho các loại như Tài bị Kiếp đoạt, Quan bị Thương hủy hoại,… Dụng thần đã bị phá thì cũng coi như nguyệt lệnh không tuyển được Dụng thần, liền bỏ đi để theo ngoại cách là sai lầm của sai lầm vậy.
23) Luận cung phận Dụng thần phối Lục thân
* Thân nghĩa là gần gũi thương yêu. Lục thân là sáu hạng người gần gũi thương yêu nhất của mình: Cha, mẹ, vợ, con, anh (chị), em.* Cung phận: cung được gán cho một nhiệm vụ cụ thể, ví như một “danh phận” của cung.Nguyên văn: con người có Lục thân, phối vào Bát tự là kết hợp với nó để định ra số mệnh.
Nguyên văn: Từ các cung phân phối ra thì tuần tự niên nguyệt nhật thời, tức từ trước ra sau, phối thành tổ phụ thê tử (ông cha vợ con) cũng là từ trên xuống dưới. Dùng các nền tảng tự nhiên phối với nhau, so khớp chúng mà tạo thành các địa vị bất biến trong mệnh lý.
Nguyên văn: Còn dùng thập thần để phối hợp thì Chính Ấn là mẹ, để tạo thân hình ta phải chọn được người mẹ sinh ra ta. Nhưng Thiên tài là thứ ta khắc chế thì sao lại thành cha ta? Thiên tài chính là chồng của mẹ, mà Chính ấn là mẹ thì Thiên tài là cha. Chính tài là vợ, là bị ta khắc chế, chồng là chủ đạo nên vợ phải theo. Nhưng Quan Sát như kẻ khắc chế ta vậy, tại sao thành con cái? Quan Sát là do Tài sinh, mà Tài là thê thiếp, tức Quan Sát là con cái của ta rồi. Còn Tỉ kiên là Huynh đệ thì lý lẽ hiển nhiên.
Nguyên văn: Trong đó có hay không đắc lực, hoặc cát hoặc hung, cứ lấy tứ trụ mà xét hoặc lấy niên nguyệt hoặc nhật thời định ra Tài Quan Thương Nhận, quan hệ với tượng nào, sau đó lấy Lục thân phối dụng thập thần. Xem trong cách cục biến ra hỷ kị làm sao và xem thêm sự phối hợp của nó thì khả dĩ không sai được.
24) Luận thê tử
Nguyên văn: Phàm luận việc cát hung trong mệnh thì (sự, việc) càng gần với con người thì ứng nghiệm càng linh ứng. Phú quý bần tiện, các việc liên quan đến bản thân thì không nói rồi; đến phần Lục thân như vợ phối duyên với mình, con là hậu duệ thì càng thiết thân với mình. Cho nên xem mệnh (thấy) vợ con, đề cương (nguyệt lệnh) đắc lực, hoặc niên can hữu dụng thì luận về cha mẹ, vốn thân ta sinh ra từ đó – đều có ứng nghiệm; cho nên, đề cương đắc lực hoặc niên can hữu dụng đều chủ phụ mẫu song toàn. Còn tổ tông, anh chị em thì không ứng nghiệm lắm.
Nguyên văn: Lấy vợ (cung Thê) để luận, thấy đóng ở đất Tài Quan thì ứng với vợ hiền đức quý hiển; nhưng cũng có khi đóng ở Tài Quan mà vợ bất lợi; phùng Thương Nhận mà thê trái lại tốt, sao vậy? Đây là do nguyệt lệnh dụng thần phối thành hỷ kị. Giả như thê cung tọa Tài là tốt, nhưng Ấn cách gặp nó trái lại thành chẳng đẹp. Thê tọa Quan là cát, nhưng Thương Quan gặp nó thì sao có thể tâm đầu ý hợp? Thê đóng Thương Quan là hung, nhưng Tài cách gặp nó là Thương quan sinh Tài; Sát cách gặp nó là chế Sát thì trái lại vợ chỉ nội trợ. Thê tọa Dương Nhận là hung, trong tứ trụ các cách Tài Quan Sát Thương đã thành cách cục, còn nhật chủ lại vô khí, thì lúc này chỉ nhờ được Nhận để giúp nhật chủ thì vợ lại hợp với chồng, hết hung. Cho nên các lý đó không nên chấp nhất (phải áp dụng một cách linh động).
Nguyên văn: Đã xem cung Thê thì nay xem đến sao Thê (vợ). Sao Thê là Tài đứng trên can (Tài thấu lộ lên trên). Thê thấu mà thành cách, như các trường hợp Quan cách thấu Tài, Ấn nhiều phùng Tài, Thực Thương thấu Tài làm dụng, tức đóng ở chổ vô dụng thì cũng chủ vợ nội trợ. Thê thấu mà phá cách, như các loại Ấn khinh Tài lộ, Thực Thần/ Thương Quan (cách), thấu Sát phùng Tài, tức đóng nơi hữu dụng nhưng cũng cần đề phòng hình khắc. Lại có trường hợp thê thấu thành cách, hoặc thê cung hữu dụng lại đóng nơi hình xung, thì khó tránh cảnh vợ đẹp nhưng khó sống đến bạc đầu. Có trường hợp thê tinh lưỡng thấu, Chính/ Thiên tài tạp xuất, chẳng phải một chồng mà nhiều vợ đấy sao? Cũng cần phải đề phòng hình khắc.
Nguyên văn: Bàn về phần Tử tức, cũng phải xem cung phận và sao Tử tức thấu ra hỷ kỵ, lý lẽ đánh giá hơi giống với luận Thê. Song khi xem về tử tức, ca quyết Trường Sinh Mộc Dục cũng phải đọc thuộc, như:”Trường Sinh bốn con, trung tuần còn một nửaMộc Dục hai con đều cát tườngQuan Đới, Lâm Quan đều có ba conĐế vượng được năm conSuy có hai con, Bệnh có một conTử đến già cũng không có con trai, trừ khi nhận nuôi con người khácnhập Mộ là lúc Mệnh yểu vongTuyệt một conThai sinh con gái đầu lòngDưỡng ba con chỉ còn lại mộtnam tử trong cung tử tế tường”
Nguyên văn: Phép luận Trường Sinh dùng dương mà không dùng âm, như ngày Giáp Ất chỉ dụng Trường Sinh Canh kim, cục Tị Dậu Sửu thuận số mà không dùng Tân kim nghịch số cục Tý Thân Thìn. Tuy sách có nói Quan là con gái còn Sát là con trai, nhưng rốt cuộc không thể lấy Giáp dùng Canh con trai mà dùng dương cục, còn Ất dùng Tân con trai mà dùng âm cục. Cho nên mộc là nhật chủ không cần hỏi Giáp hay Ất, đều lấy Canh là con trai, Tân là con gái, lý đó tự nhiên đều ở Quan Sát, có ứng nghiệm không?
Nguyên văn: Cho nên khi cầm bát tự, muốn xem con cái trước tiên phải xem chi giờ. Như sinh ngày Giáp Ất thì xem quan hệ Canh kim ở cung nào, hoặc đóng ở sinh vượng, hoặc đóng tử tuyệt thì ít nhiều đã biết được số, sau đó phối với can giờ là Tử tinh. Như Tài cách mà can giờ thấu Thực, Quan cách mà can giờ thấu Tài đều gọi là can giờ hữu dụng (có dụng thần), chủ có con quý hiển, nhưng không nhiều lắm. Nếu lại gặp sinh vượng tất con trẻ quấn quít quanh chân, khó mà lượng được. Nếu can giờ không tốt, Tử tinh thấu phá cục, nghĩa là phùng Tài vượng khó khăn đường con cái, nếu gặp tử tuyệt thì khó có hy vọng. Phép luận vợ con này chỉ mang tính khái quát.
25) Luận hành vận
Nguyên văn: Phương pháp luận vận và xem mệnh cũng không khác nhau. Xem mệnh lấy can chi tứ trụ phối với hỷ kị nguyệt lệnh, còn thủ vận thì lại lấy can của vận phối hỷ kị Bát tự. Cho nên ở hành vận, mỗi vận là một chữ, tất lấy chữ này phối với can chi trong mệnh để thống nhất xem toàn cục, là hỷ hay là kỵ, cát hung phân rõ ra.
Nguyên văn: Hỷ là gì? Tức là trong mệnh được thập thần giúp ích nhưng thủ đắc được nó ta phải tìm cách trợ giúp cho nó có lực. Như trường hợp Quan cách dùng Ấn để chế Thương, mà vận trợ Ấn; Tài sinh Quan mà thân khinh, mà vận trợ thân; Ấn cách mà kèm theo Tài tưởng là kị, mà vận gặp được Kiếp tài; Thực đới Sát để thành cách, Thân khinh mà vận gặp Ấn, Sát trọng mà vận trợ Thực; Thương Quan bội Ấn, mà vận hành Quan Sát; Dương Nhận dụng Quan, mà vận trợ Tài hương; nguyệt Kiếp dụng Tài, mà vận hành Thương Thực. Các loại như thế đều là mỹ vận.
Nguyên văn: Kị là gì? Trong mệnh có kị tức là tồn tại yếu tố chống lại ta. Như Chính quan vô Ấn mà hành vận Thương; Tài không thấu Thực mà hành vận Sát; Ấn thụ dụng Quan, mà vận hợp Quan; Thực thần đới Sát mà vận hành Tài; Thất sát có Thực chế mà vận gặp Kiêu; Thương quan bội Ấn mà vận hành Tài; Dương nhận dụng Sát mà vận gặp Thực; Kiến Lộc dụng Quan mà vận gặp Thương. Các loại như thế đều là bại vận cả.
Nguyên văn: Tưởng như có hỷ dụng mà thực ra là kị thần, là thế nào? Như Quan gặp Ấn vận, mà bản mệnh hợp mất Ấn, hoặc như Ấn gặp Quan vận, mà bản mệnh dụng Sát.
Nguyên văn: Tưởng như gặp kị thần mà lại thành hỷ, là thế nào? Đó là, giả như Quan gặp Thương vận mà mệnh thấu Ấn; Tài hành Sát vận, mà mệnh thấu Thực.
Nguyên văn: Lại như “hữu hành Can nhi bất hành Chi” (hành vận được Can mà không được Chi), là sao ? Đó là: giả như Bính sinh tháng Tý, năm Hợi, gặp (vận) Bính Đinh thì giúp đỡ thân mệnh, gặp (vận) Tị Ngọ thì xung .
Nguyên văn: Lại hành vận được Chi mà không được Can là thế nào? Như Giáp sinh tháng Dậu, Tân kim thấu nhưng nếu Quan hãy còn nhược, gặp Thân Dậu thì Quan được gốc thêm chắc, gặp Canh Tân thì hỗn Sát, trùng Quan [Quan mạnh quá hóa thành ma quỷ hại mình].
Nguyên văn: Lại có trường hợp cùng loại ngũ hành can mà không thể song hành là thế nào? Đó là giả như Đinh sinh tháng Hợi mà năm thấu Nhâm Quan, gặp Bính thì giúp thân, gặp Đinh thì hợp Quan.
Nguyên văn: Lại có trường hợp cùng loại ngũ hành chi mà không thể song hành là thế nào? Như Mậu sinh tháng Mão, năm Sửu, gặp Thân thì tự tọa Trường-sinh, gặp Dậu thì sẽ hội Sửu thành Thương-quan.
Nguyên văn: Lại cùng là tương xung mà phân ra hòa hoãn và cấp thiết là sao vậy? Xung niên nguyệt thì cấp thiết, xung nhật thời thì hòa hoãn.
Nguyên văn: Lại có khi cùng xung nhau mà phải phân nặng nhẹ là thế nào? Vận vốn đẹp mà gặp xung thì bình thường, vận vốn kị còn xung (hỷ) thì phải quan tâm.
Nguyên văn: Lại có trường hợp gặp xung mà không xung, tại sao vậy? Như trường hợp Giáp dụng Dậu làm Quan, hành vận Mão thì xung, trong mệnh nếu có Tị Dậu hội nhau thì xung vô lực; niên chi Hợi Mùi, thì gặp Mão là hội nhau mà không xung nguyệt Quan.
Nguyên văn: Lại có trường hợp một xung mà thành lưỡng xung là tại sao? Như Ất dụng Thân Quan, hai Thân cùng không xung một Dần, vận lại gặp Dần, thì vận và bản mệnh hợp thành nhị Dần, xung nhị Thân. 26) Luận hành vận thành cách, biến cách
Nguyên văn: Cách cục của mệnh hình thành từ Bát tự, nhưng khi phối với vận, cũng tùy đó mà thành cách hay biến cách. Khi thành cách, biến cách, so với hỷ kị thì họa phúc cũng tăng mạnh.
Nguyên văn: Như thế nào là Thành cách? Mệnh vốn có Dụng thần, thành cách mà chưa hoàn toàn, do đó cần thứ góp vào cho trọn vẹn. Như Đinh sinh tháng Thìn, thấu Nhâm là Quan, mà vận gặp Thân Tý để thành tam hợp; Ất sinh tháng thìn, có Thân hoặc Tý hội Ấn thành cục, mà vận gặp Nhâm Quý thấu ra. Các trường hợp như thế đều là Thành cách.
Nguyên văn: Như thế nào Biến cách? Như Đinh sinh tháng thìn, thấu Nhâm là Quan, mà vận gặp Mậu, tức Thương quan trong Thìn thấu ra; Nhâm sinh Tuất nguyệt, Đinh Kỷ tịnh thấu, mà chi lại hội Dần hội Ngọ, thành Tài vượng sinh Quan, mà vận gặp Mậu thổ, tức Thất sát trong Tuất thấu ra; Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ quan làm dụng, thành kiến Lộc dụng Quan, mà vận gặp Mão Mùi, hội Hợi thành mộc, lại hóa thành cách kiến Lộc làm Thương quan. Các trường hợp như thế đều là Biến cách.
Nguyên văn: Nhưng cũng gặp trường hợp thành cách mà không hỷ là sao vậy? Như Nhâm sinh Ngọ nguyệt, vận thấu Kỷ Quan mà bản mệnh lại có Giáp, Ất.
Nguyên văn: Lại có khi gặp biến cách mà không kị là thế nào? Đó là như Đinh sinh tháng thìn, thấu Nhâm dụng Quan, gặp Mậu mà mệnh có Giáp; Nhâm sinh Hợi nguyệt, thấu Kỷ dụng Quan, vận gặp Mão Mùi, mà mệnh lại có Canh Tân.
Nguyên văn: Thành cách biến cách, có quan hệ rất lớn với vận, khi thủ vận phải kỹ càng, cặn kẽ.
27) Luận phân biệt hỷ kị của can và chi
Nguyên văn: Hỷ hay kị tuy đều có ở chi và can nhưng can chủ thiên, động và nhiều hứa hẹn tiến triển; còn chi chủ địa, tĩnh mà ẩn tàng chờ thời, can chỉ một mà chi tàng nhiều, là phúc hay hoạ lẽ nào không có phân biệt?
Nguyên văn: Thí dụ như Giáp mộc, dụng Dậu Quan, gặp Canh Tân thì Quan Sát hỗn tạp, còn Thân Dậu không gây tạp, Thân là vượng địa của Tân, Tân tọa Thân Dậu như ngồi phủ quan mà còn giữ ấn tín. Giáp gặp hai Tân thì phạm Quan quá nặng, còn phùng nhị Dậu thì không phải. Tân tọa nhị Dậu như một phủ mà cai trị hai quận, thấu Đinh thì Thương quan, còn gặp Ngọ thì không vậy. Đinh động còn Ngọ tĩnh, vả lại Đinh Kỷ cùng tàng trong ngọ, lẽ nào quản cả Tài (Kỷ).
Nguyên văn: Nhưng cũng có khi địa chi tạo phúc hoặc gây họa, sao vậy? Đó là, giả như Giáp dụng Dậu làm Quan, gặp Ngọ thì Dậu chưa tổn thương, nhưng lại ngộ Dần ngộ Tuất và không bị phân cách (Ngọ Tuất hoặc Ngọ Dần kế nhau) thì hợp khiến hỏa động, cũng gây tổn thương vậy. Mặt khác, giả như Giáp sinh Thân nguyệt, Ngọ bất chế Sát, hội Dần hội Tuất, bán hợp thanh cục nhưng hỏa động, cũng khả năng thương Sát vậy. Như thế, ắt hẳn hội cũng sẽ động, đó là điểm khác biệt giữa phương chính và thiên can. Ở đây chỉ bàn một ý, phần còn lại cứ thế mà suy.
28) Luận hỷ kị thần tàng trong chi gặp vận thấu ra thanh thuần
Nguyên văn: Hỷ kị thần là thiên can tàng trong chi so với hỷ kị thần thiên can cơ bản có sự khác biệt, khi vận gặp thấu thanh, vốn đang tĩnh nằm đợi thời, thì chính là lúc dụng được nó, ứng nghiệm của hỷ kị sẽ thấy ngay. Vậy thấu thanh là gì? Đó là, giả như Giáp dụng Dậu Quan, gặp Thìn Mùi tức là Tài, mà vận thấu Mậu; gặp Ngọ Mùi tức là Thương, mà vận thấu Đinh.
Nguyên văn: Cho nên thường cầm một Bát tự trên tay, lần lượt phải xét toàn bộ can chi, trên dưới để xem. Chi là sinh địa của can, can là thể hiện của chi, như trong mệnh có một chữ Giáp thì tổng quan tứ chi xem có Dần Hợi Mão Mùi không, nếu có một chữ thì Giáp có gốc (hữu căn). Hay như có một chữ Hợi thì tổng quan tứ chi xem có hai chữ Nhâm Giáp không, có Nhâm thì Hợi là lộc của Nhâm, Nhâm thủy dụng được; dụng Giáp thì Hợi là sinh địa của Giáp, dụng Giáp mộc được; cùng dụng Nhâm Giáp thì một lấy lộc làm gốc, một lấy Trường sinh làm gốc, cả hai cùng dụng được. Khi thủ vận cũng dùng phương pháp này, tức đem bản mệnh Bát tự lần lượt phối hợp can chi mà định.
29) Luận Câu nệ vào cách cục
Nguyên văn:Bát tự Dụng thần chuyên dựa vào nguyệt lệnh, nguyệt lệnh không có Dụng thần thì từ từ tìm cách cục. Nguyệt lệnh là gốc, ngoại cách là ngọn. Người nay không phân nặng nhẹ mà câu nệ cách cục, tức bỏ thực tìm hư.
Nguyên văn:Cho nên Mậu sinh tháng Giáp Dần, thời thượng Canh Thân, không cho là minh Sát có chế phục, mà tưởng rằng cách chuyên Thực gặp Giáp giảm phúc.
Nguyên văn:Bính sinh Tý nguyệt, thời gặp (Quý) Tị là lộc, không cho rằng cách Chính quan, Quy lộc bang thân mà tưởng là Nhật lộc quy thời gặp Quan phá cách.
Nguyên văn:Tân nhật thấu Bính, giờ là Mậu Tý, không cho rằng Tân nhật đắc Quan phùng Ấn, mà cho là Triều Dương cách, chỉ vì Bính mà không thành cách.
Nguyên văn:Tài gặp giờ Sát, không cho rằng sinh Sát công Thân mà tưởng rằng gặp cách cục Thời thượng Thiên quan.
Nguyên văn:Quý sinh tháng Tị, giờ gặp Giáp Dần không nghĩ rằng ám Quan thụ phá mà cho là hình hợp thành cách.
Nguyên văn:Quý sinh tháng mùa Đông, Dậu nhật Hợi thời, thấu Mậu tọa Tuất, không cho rằng nguyệt Kiếp kiến Lộc, dụng Quan thông căn, mà tưởng rằng cách củng Tuất, do điền thực mà bất lợi. Tân nhật tọa sửu, năm dần, tháng hợi, giờ mão, không dùng Chính tài cách mà dùng điền thực củng quý (nhân).
Nguyên văn:Ất sinh tháng dần, giờ gặp Bính tý, không nghĩ là mộc hỏa thông minh mà cho rằng thành cách Thử quý.
Chương 30. Luận về việc “nghe nhầm truyền sai”
Nguyên văn:Bát tự vốn có định lý, không hiểu được lý liền sinh dị đoan (thuyết bậy bạ, quái đản), nghe bừa nói bậy, không thể nào cản nổi. Như khi luận can chi, không hiểu lý âm dương mà dùng ca quyết thể tượng trong sách thông tục mà xác luận; luận cách cục thì không “chuyên tầm nguyệt lệnh”, mà câu nệ dùng đến ngoại cách rồi biến hóa sôi động (cố theo cái biến đổi ngoài cách cục); luận về sinh khắc thì không xét kỹ hỷ kị mà cứ tổn thương cái vượng và phù cái nhược, suy yếu làm định pháp; luận hành vận thì không thấy trong cái giống cũng có điểm khác biệt, cứ thấy can chi tương đồng liền cho là cùng một trường hợp.
Nguyên văn:Xem xét các lý do, thì thường một là do mức độ nặng nhẹ của từ ngữ dùng trong sách làm hậu học không hiểu hết ý dẫn đến hiểu sai rồi suy diễn phiến diện; hai là do sách giang hồ nghe sai viết bừa, hiểu lầm lời giảng rồi dấn sâu vào mê lối; ba là khi luận mệnh vận, ngẫu nhiên thấy ứng hợp, liền hình thành chiêu pháp, tâm đắc bất di bất dịch của bản thân; hoặc dùng mệnh thức, mệnh lệ người xưa và hiểu không sai nhưng tự ý cho là ngoại cách hoặc đặt thành một ngoại cách riêng biệt, càng làm hại người học không ít.
Nguyên văn:Như:Nhâm Thân/ Quý Sửu/ Kỷ Sửu/ Giáp Tuất—————kỷ-quý-tân—–Vốn là tạp khí Tài vượng sinh Quan [Quý tạp khí sinh Giáp quan]. Nếu sang giờ Ất Hợi, liền theo đó luận thành Thời thượng Thiên quan, chả lẽ không biết vượng Tài sinh Sát, rỗi hơi cứu cái đang chết, thì quý ở chỗ nào? Nhưng dạng này đều là ngộ thâu cả.Bổ sung: nhật can Kỷ thổ thông gốc tại nguyệt lệnh, tức là đắc thế. Lại có nhật, thời đều là thổ vượng nên nhật chủ thừa vượng, Thời trụ xuất hiện Quan tinh Giáp mộc, nhưng tọa tại Tuất nên (Quan) không vượng, nhưng trong niên nguyệt can xuất hiện Nhâm Quý thủy thông căn ở chi
Thân Trường sinh, nên thuộc cách cục Tài vượng sinh Quan, lại thêm hành vận phương Đông mộc hỏa, từ đó dẫn xuất Đinh hỏa tàng trong Tuất, giải trừ hàn khí mùa đông, mệnh phú quý đầy đủ.
Như:Kỷ Mùi/ Nhâm Thân/ Mậu Tý/ Canh Thân——-canh-mậu-nhâm—Vốn là Thực thần sinh Tài, mà lại muốn vứt bỏ nguyệt lệnh dùng ngày Mậu gặp Canh thân là hợp lộc cách, há chẳng biết bản thân tự có Tài Thực chẳng phải quá đẹp đấy sao! Lại vất vả đi lấy Canh hợp Ất, cầu Quan ngoại cục ư, loại này rất nhiều, đều là cố cưỡng theo ngoại cách cả.Bổ sung: nhật can Mậu thổ sinh tháng Thân, trong can xuất hiện Nhâm thủy Tài tinh, nhật chi là Tý thủy nên Tài có gốc mạnh, do đó đủ dùng cho nhật chủ; thời can xuất hiện Canh kim Thực thần, có thể sinh Tài. Dường như nhật chủ thân suy nhược nhưng trong niên trụ có Kỷ Mùi giúp thân, do đó thuộc cách Thực thần sinh Tài là mệnh cục phú quý.
Nguyên văn:Những kẻ cẩu thả đó đều không có định kiến, xét lý không tinh, khi thấy những lý luận sai lầm này chẳng lẽ ta không nghi ngờ? Huống chi những kẻ đến Nhật quý cách mà không giải được, cũng gặp thường xuyên ư? Lẽ nào không biết người hoạt động học thuật ắt lấy những mệnh phú quý làm khuôn mẫu, nên có trường hợp đem lời nghe đồn làm chứng cứ, có kẻ lại dò tìm ngày sinh rồi tự ý định giờ rồi định sai hoặc ngụy tạo quý cách,… bát tự của nhân loại đa số đều không biết giờ sinh chính xác, điều này chứng tỏ bản thân họ cũng không tự hiểu. Nếu người xem số không hiểu bản chất, chỉ nghe theo lời người đoán mệnh hoặc chỉ mong nghe những lời giàu sang, phú quý mà cả nể, nhân nhượng lời giải của họ rồi thuận theo không nghi ngờ thì có lẽ chung thân không có lời giải đáp.
31) Luận Chính Quan
Nguyên văn:Khắc ta là Quan, tuy so tính chất với Thất Sát có khác biệt nhưng chung quy vẫn mang ý nghĩa bị đối phương khắc chế, tại sao (Quan) cần tránh hình xung phá hại, để tôn kính nó ư? Lẽ nào một mực cho rằng đời người trong trời đất không chịu lẽ uốn nắn, sửa mình thì mới hợp lẽ tôn kính, đến như vua còn phải noi theo thiên tổ nữa mà. Chính Quan phân rõ ra ứng với bậc chí tôn, như quốc gia thì có vua, ở nhà thì là bản thân ta, hình xung phá hại như là kẻ dưới phạm lỗi với bề trên, ôi như thế có được không!
Nguyên văn:Khi Tài Ấn cùng không dụng được thì dụng Ấn riêng không bằng dụng Tài, do Ấn có thể hộ Quan cũng có thể tiết Quan, còn Tài có khả năng sinh Quan. Nếu được Ấn hóa Quan mà thấu Tài thì càng có thêm tú khí, đó là cách đại quý.
Nguyên văn:Tuy nhiên, (Quan) bị thương (gặp Thương quan) quyết định ở chổ có đeo Ấn hay không; hỗn tạp Sát quý ở chổ chọn được cái thanh thuần để dùng.
Nguyên văn:Khi Quan cách thấu Thương dụng Ấn thì lại kị gặp Tài vì Tài khử Ấn không thể sinh Quan, mà chỉ thích hợp bảo hộ Thương. Nhưng cũng có trường hợp kiến Tài mà vẫn đại quý.
32) Luận Chính Quan thủ vận
Nguyên văn:Nguyên lý Chính quan cách chọn vận thì mỗi Bát tự có cách luận riêng biệt, lý lẽ rất tinh tế, phương pháp thì rất linh hoạt, chỉ có thể nói tóm lược. Bát tự mỗi người biến hóa khác nhau, không thể câu chấp được.
Nguyên văn:Như Chính quan thủ vận, tức lấy Chính quan cách làm gốc phân ra từng trường hợp để phối luận. Chính quan mà dụng Tài Ấn, thân hơi nhược thì áp dụng trợ giúp thân (tức dụng Ấn hóa Quan vượng), hành vận phải vào chổ vượng của Ấn; Quan hơi nhẹ (khinh) thì trợ Quan (tức dụng Tài sinh Quan), hành vận cũng phải ở nơi sinh Quan. Nếu Quan thấu lộ thì không thể gặp hợp, cũng không thể hỗn tạp Sát và không thể nhiều Quan. Địa chi tàng Quan gặp hình xung, thì không chỉ Quan cách mà cách cục khác cũng bất lợi.
Nguyên văn :Chính quan dụng Tài, vận hạn hỷ vào đất Ấn thụ thân vượng, tránh gặp Thực Thương. Nếu thân vượng mà Tài khinh Quan nhược, thì vẫn tốt đẹp khi hành vận Tài Quan.
Ấ
Nguyên văn :Chính quan bội Ấn, vận hỉ Tài hương, Thương Thực trái lại cát lành. Nếu Quan mạnh thân khinh mà còn bội Ấn (tức có kèm theo Ấn tiết Quan sinh thân), thì thân được trợ nên vượng lên, bất tất gặp Tài vận (vì Tài sinh Quan và phá Ấn).
Nguyên văn:Chính quan cách kèm Thương Thực mà dụng Ấn để chế, vận hỷ đất Quan vượng Ấn vượng, tránh gặp Tài vận. Nếu Ấn thụ trùng điệp xuất lộ, thì gặp Tài vận vô hại.
Nguyên văn :Chính quan đới Sát, gặp Thương Thực cũng không ngại. Mệnh Chính quan đới Sát thường dụng Kiếp hợp Sát thì có thể hành Tài vận, Thương Thực, hay thân vượng, Ấn thụ cũng được, chỉ ngại thấu lộ nhiều Thất Sát. Nếu mệnh dụng Thương Quan hợp Sát, thì Thương Thực cùng Tài đều khả thi, duy chỉ có điều không nên gặp Ấn.
Nguyên văn:Trên đây đều là lời nói sơ lược, mỗi bát tự có mỗi cách luận khác nhau. Mỗi bát tự lại có thể gặp một chữ trong vận khác nhau, khi nghiên cứu tùy thời theo đó mà tuyển dụng thần, không thể dùng lời viết so cho đủ được. Thông thường các cách đều như thế, không riêng gì cách Chính quan.
33) Luận Tài
Nguyên văn:Tài là vật bị ta khắc chế để sử dụng, có thể sinh Quan, cho nên là điều tốt đẹp. Tài là tài bạch (tiền bạc), là thê thiếp, là tài năng, là Dịch mã, đều thuộc Tài.
Nguyên văn:Tài hỉ rễ sâu (căn thâm), nhưng không nên quá lộ, được một Tài thấu ra làm dụng là thanh thuần, gọi là “thanh dụng”, cách này tối hỷ, không gọi là lộ. Nghĩa là không phải dụng thần nguyệt lệnh, như (tháng) dần thấu Ất, mão thấu Giáp, v.v…, nếu chỉ có một cũng không quá mức, quá nhiều thì gọi là lộ. Song Tài vượng sinh Quan, lộ cũng không kị, vì lộ để phòng Kiếp, sinh Quan thì Kiếp thoái, ví như kho tiền lương ở phủ có quan canh giữ, cho dù để lộ ra thì ai dám cướp giật? Như mệnh quan Tham chính họ Cát: Nhâm Thân / Nhâm Tý / Mậu Ngọ / Ất Mão. Chẳng lẽ không phải Tài lộ sao? Chỉ vì sinh Quan cho nên không kị.
Nguyên văn:Quý cục của Tài cách không như nhau, như đối với trường hợp Tài vượng sinh Quan thì thân cường mà không thấu Thương Quan, không hỗn tạp Thất sát là quý cách.
(Chú thích bổ sung:Tài cách kiến Thất Sát vốn e ngại đảng Sát, hỷ kiến Thực Thần thì Tị hỏa hóa thành Thiên Quan, Kiếp tài không đủ lực, nguyên luận trọng tâm ở Thực Thần hóa Kiếp, phao tin Tị hỏa bất luận, hơi thiên lệch.Thực Thương hỷ Tài sinh tất lấy Tài tinh làm dụng, khi thành dụng bất hỷ Quan Sát tương lâm thành tổ hợp bát tự không đương nổi, Quan sát tiết Tài thành bất mỹ. Như Thân cường có Tỉ Kiếp thì bất kỵ Tài vượng, khả dĩ nhậm Tài, nếu như vô Tỉ Kiếp và Tài tinh chế Ấn thì xấu. Dương tạo nguyệt lệnh Tài vượng, nhật nguyên tọa Thìn thổ Tân kim bang Thân, đủ để nhậm Tài. Địa chi Quan Ấn tương sinh hữu tình.)
Nguyên văn:Trường hợp Tài cách bội Ấn (đeo Ấn), là vì Tài đơn độc sẽ không hiển quý, khi bội Ấn sẽ trợ giúp cho thân, tức Ấn góp phần làm cho quý hiển.
Nguyên văn:Trường hợp dụng Thực mà kiêm dụng Ấn, Thực và Ấn cũng không e ngại nhau, hoặc có ám Quan mà khử Thực hộ Quan, đều là quý cách.
Nguyên văn:Trường hợp Tài dụng Thương Quan, Tài không quá vượng còn Tỷ cường thì lấy một vị Thương Quan để hóa (Kiếp sinh Tài).
Nguyên văn:Trường hợp Tài mà đới Thất sát, hoặc hợp Sát tồn Tài, hoặc chế Sát sinh Tài, đều là quý cách cả.
Nguyên văn: Trường hợp Tài dụng Sát Ấn, bè đảng Sát là kị thần, dùng Ấn để hóa chúng, cách liền trở thành các cục giàu có (phú cục), nếu thổ mùa đông gặp trường hợp này cũng là quý cách.
Nguyên văn: Còn trường hợp Nhâm sinh ngọ nguyệt, Quý sinh tị nguyệt, Tài đơn thấu mà vẫn quý hiển, lại thêm nguyệt lệnh ám Quan. Như mệnh Lâm Thượng thư: Bính dần / Quý tị / Quý mùi / Nhâm tuất,
thuộc trường hợp này.
Nguyên văn: Về phần Kiếp Nhận quá mạnh, bỏ thì phải Tài theo Sát, như mệnh một quan Thượng thư: Bính thìn / Bính thân / Bính ngọ / Nhâm thìn, đã biến hóa rồi lại còn biến thêm vậy.
34) Luận Tài thủ vận
Nguyên văn:Tài cách thủ vận, tức lấy Tài cách đã định cục rồi phân ra để phối với vận. Trường hợp Tài vượng sinh Quan, vận hỷ thân vượng Ấn thụ, bất lợi Thất Sát, Thương Quan; nếu (Tài) sinh Quan rồi sau vận thấu Ấn, gặp Thương Quan cũng không hại lắm. Còn như (Tài) sinh Quan mà kèm theo Thực phá hỏng cục, thì vận hỉ Ấn thụ, còn như gặp Sát phản lại là tốt lành.
Nguyên văn:Trường hợp Tài dụng Thực sinh, Tài Thực trọng mà thân khinh thì hỉ trợ giúp thân; Tài Thực khinh mà thân trọng thì hành vận Tài Thực vẫn được. Sát vận không kị, Quan Ấn vận trái lại mờ mịt.
Nguyên văn:Tài cách bội Ấn, vận hỉ đất Quan; trường hợp Tài cách bội Ấn mà thân nhược thì thích hợp nhất vận Ấn vượng.
Nguyên văn:Trường hợp Tài dụng Thực Ấn, Tài yếu thì hỷ Tài Thực; thân yếu thì hỉ Tỷ Ấn; Quan vận có trở ngại; còn Sát vận trái lại không kị.
Nguyên văn: Trường hợp Tài đới Thương Quan, gặp Tài vận thì hanh thông, Sát vận bất lợi, vận hành Quan Ấn không được tốt.
Nguyên văn: Trường hợp Tài đới Thất Sát. Bất luận hợp Sát chế Sát, vận đều hỷ đi về phương Thực Thương thân vượng.
Nguyên văn: Trường hợp Tài dụng Sát Ấn, vận Ấn vượng là thích hợp nhất, gặp vận Tài ắt hẳn thành kị. Hướng về vận Thương Thực thì cũng tùy.
35) Luận Ấn thụ
Nguyên văn:Ấn thụ cách hỷ sinh thân, chính Ấn cách hay thiên Ấn cách đều là mỹ cách, cho nên hai cách Tài và Ấn không phân thiên chính, đều gom thành một mà bàn. Ấn thụ cách cục cũng không đồng nhất, trường hợp Ấn mà thấu Quan, Chính quan không độc thủ sinh Ấn, tức có thể làm dụng, cũng khác trường hợp dụng Sát. Cho nên Thân vượng Ấn cường, không phải băn khoăn quá mức, miễn là Quan tinh thanh thuần, như mệnh Trương Tham chính: Bính Dần / Mậu Tuất / Tân Dậu / Mậu Tý, thuộc trường hợp này.
Nguyên văn:Nhưng mà cũng có khi kèm theo Thương Thực mà quý hiển. Như mệnh Chu Thượng thư: Bính Tuất / Mậu Tuất / Tân Mùi / Nhâm Thìn. Nhâm bị Mậu chế không tổn hại Quan. Hoặc như mệnh Lâm Hoài Hầu: Ất Hợi / Kỷ Mão / Đinh Dậu / Nhâm Dần, do Kỷ bị Ất chế nên không đụng đến Quan.
Nguyên văn:Trường hợp Ấn mà dụng Thương Thực, Thân cường Ấn vượng, e rằng thái quá, liền cho là tiết Thân để tạo thành tú khí. Như: Mậu Tuất / Ất Mão / Bính Ngọ / Kỷ Hợi, đây là mệnh Lý Trạng nguyên, nếu như Ấn thiển thân khinh, mà dụng Thương Thực tầng tầng lớp lớp là cách cục bần hàn.
Nguyên văn: Trường hợp (Ấn) dụng Thiên quan, Thiên quan vốn không không phải vật tốt lành, do mượn nó để sinh Ấn, bất đắc dĩ mà dùng. Cho nên tất Thân trọng Ấn khinh, hoặc Thân khinh Ấn trọng, vốn lực không đủ, mới thuộc trường hợp này. Như mệnh Mao Trạng nguyên: Kỷ Tị / Quý Dậu / Quý Mùi / Canh Thân, vốn là thân khinh Ấn trọng. Mệnh Mã Tham chính, Nhâm Dần / Mậu Thân / Nhâm Thìn / Nhâm Dần, thân trọng Ấn khinh. Nếu Thân Ấn cùng mạnh mà dụng Thất sát thì không cô đơn cũng nghèo khổ.
Nguyên văn: Trường hợp dụng Sát kiêm đới Thương Thực, thì dụng Sát để khắc chế, sinh thân mà tiết tú, bất luận Thân vượng Ấn trọng, đều là quý cách.
Ấ Ấ
Nguyên văn: Trường hợp Ấn đa mà dụng Tài, Ấn trọng Thân cường, thấu Tài để ức cái thái quá, tùy cơ cân nhắc mà dùng, chỉ cần căn thâm, không cần phòng Tài phá. Như mệnh Uông Thị lang, Tân Dậu / Bính Thân / Nhâm Thân / Tân Hợi thuộc trường hợp này. Nếu Ấn khinh Tài trọng, lại vô Kiếp Tài để cứu ứng thành “tham Tài phá Ấn”, một cách cục bần tiện.
Nguyên văn: Hoặc ngay như Ấn trọng Tài khinh mà kiêm lộ Thương Thực, Tài và Thực tương sinh, thành ra Tài khinh mà không khinh, tức có thể giàu nhưng không quý hiển. Nhưng cũng có trường hợp ngoại lệ đới (kèm theo) Thực mà quý hiển, tại sao vậy?
Nguyên văn: Lại có khi Ấn mà kiêm thấu Quan Sát, hoặc hợp Sát, hoặc hữu chế, đều là quý cách. Như: Tân Hợi / Canh Tý / Giáp Thìn / Ất Hợi, mệnh này hợp Sát lưu Quan; Nhâm Tý / Quý Mão / Bính Tý / Kỷ Hợi, mệnh này Quan Sát hữu chế.
Nguyên văn: Về trường hợp hóa Ấn làm Kiếp; bỏ theo Tài Quan, như mệnh Triệu Tri phủ, Bính Ngọ / Canh Dần / Bính Ngọ / Quý Tị, thì đã biến lại biến nữa.
Nguyên văn: Lại có khi Ấn thấu Thất sát, còn có Kiếp tài để bảo tồn Sát Ấn, cũng là một trường hợp quý cách, như một mệnh Canh Tuất / Mậu Tý / Giáp Tuất / Ất Hợi, ứng với trường hợp này. Song cách này dù sao cũng khó xem, cần kỹ càng xem xét.
36) Luận Ấn thụ thủ vận
Nguyên văn:Ấn cách thủ vận, tức lấy Ấn cách đã thành cục, phân ra các trường hợp mà phối hợp với nó. Trường hợp Kỳ Ấn thụ dụng Quan, Quan lộ Ấn trọng, Tài vận phản cát, hành vận theo phương Thương Thực cũng cát lợi nhất.
Nguyên văn:Nếu dụng Quan mà kèm theo Thương Thực, vận hỷ Quan vượng Ấn thụ, còn Thương Thực làm hại, gặp Sát không kị.
37) Luận Thực Thần
Nguyên văn: Thực Thần vốn thuộc thần hao tiết khí, có khả năng sinh Chính tài nên là hỷ. Vì thế Thực thần sinh tài là mỹ cách (cách tốt), Tài cần phải có gốc, không cần Thiên (tài) Chính (tài) cùng thấu. Như thân cường Thực vượng và thấu Tài là cách đại quý , như mệnh Lương thừa tướng: Đinh Mùi / Quý Mão / Quý Hợi / Quý Sửu; hoặc mệnh Tạ Các Lão: Kỷ Mùi, Nhâm Thân, Mậu Tý, Canh Thân đều thuộc trường hợp này.
Nguyên văn: Thực tàng lộ Thương, chủ tính cách cứng rắn, như mệnh Thẩm Lộ Phân: Đinh Hợi / Quý Mão / Quý Mão / Giáp Dần. Thiên Chính (tài) cùng thấu xuất, phú quý không lớn, như mệnh Tri huyện họ Cung: Giáp Ngọ/ Đinh Mão/ Quý Sửu/ Bính Thìn.
Nguyên văn: Mộc sinh mùa hạ dụng tài, hỏa nóng thổ khô, quý hơn khi theo võ nghiệp. Như mệnh Hoàng đô đốc: Kỷ Mùi / Kỷ Tị / Giáp Dần / Bính Dần thuộc trường hợp này.
Nguyên văn: Còn nếu không dùng Tài mà dùng Sát Ấn thì đạt đến uy quyền hiển hách nhất. Như mệnh Thường Quốc Công: Tân Mão/ Tân Mão/ Quý Dậu/ Kỷ Mùi. Nhược bằng không Ấn mà đơn lộ Thiên Quan, chỉ cần vô Tài vẫn là quý cách, như mệnh Hồ Hội Nguyên: Mậu Tuất/ Nhâm Tuất/ Bính Tý/ Mậu Tuất.
Nguyên văn: Nếu kim thủy Thực thần mà dụng Sát, đã quý cách mà còn đẹp nữa, như mệnh Thư Thượng thư: Đinh Hợi / Nhâm Tý / Tân Tị / Đinh Dậu. Còn Thực thần kị Ấn, hỏa mùa hè quá nóng làm mộc cháy, thấu Ấn lại không sao cả, như mệnh Tiền Tham chính: Bính Ngọ/ Quý Tị/ Giáp Tý/ Bính Dần, thực thần kỵ ấn, mùa hạ hỏa thái vượng, mộc tiêu trừ, lộ ấn không ngại. Thực thần kị Quan, kim thủy thì không kị, tức là “kim thủy Thương quan khả kiến Quan” (kim sinh tháng thủy là kim thủy gặp Thương quan, rất cần gặp Quan tức hỏa để điều hậu).
Nguyên văn: Về phần dụng mỗi thực thần, thực thần cần hữu khí, hành được Tài vận đạt phú, không xuất hiện Tài vận thì nghèo.
Nguyên văn: Có khi Ấn đến đoạt Thực, Tài lộ khả dĩ giải được, nên vẫn phú quý, song cần dựa vào toàn cục để đoán. Về phần Thực thần lại có Quan Sát tranh xuất ra, cũng có thể thành cục nhưng không thể quá quý hiển được.
Nguyên văn: Thực thần hợp Sát giữ lại Tài, là cách cực quý.
Nguyên văn: Còn phần Thực thần thấu Sát, cách cục vốn kị gặp Tài, mà Tài trước Sát sau, Thực đứng giữa, thì Tài không hùa theo Sát, tóm lại vẫn quý. Như mệnh quan đề đài họ Lưu: Quý Dậu/ Tân Dậu/ Kỷ Mão/ Ất Hợi. Các biến hóa còn lại không thể nói hết, cứ tương tự mà suy luận ra.
38) Luận Thực thần thủ vận
Nguyên văn:Thực thần thủ vận, tức lấy Thực thần ở chỗ thành cục, phân ra mà phối hợp. Thực thần sinh Tài, Tài Thực khinh, thì hành Tài Thực, Tài Thực trọng thì hỉ bang thân. Phương Quan Sát đều là không tốt.
(Hỉ Kị thiên) nói: “Canh thân thì phùng mậu nhật, danh thực thần chuyên vượng chi phương, tuế nguyệt phạm giáp bính mão dần, thử nãi ngộ nhi bất ngộ” (tức là: giờ Canh Thân gặp ngày Mậu, gọi là phương Thực thần chuyên vượng, năm tháng phạm Giáp Bính Mão Dần, chính là gặp mà không gặp vậy), đúng là hợp với cách này. Chỗ này là mệnh của Tạ Các lão, cũng là mệnh thân trọng, Thực vượng vậy.
Nguyên văn:Thực dụng Sát Ấn, vận hỉ Ấn vượng, kỵ nhất đất Tài. Thân vượng, Thực thương cũng là phúc vận, hành Quan Sát, cũng là cát vận vậy.
Nguyên văn:Thực thương mang Sát, hỉ hành Ấn thụ, thân vượng, Thực Thương cũng là vận tốt, gặp Tài là tối kỵ. Nếu Thực quá nặng mà Sát nhẹ, Ấn vận là lợi nhất, gặp Tài trái lại là cát.
Nguyên văn: hực thần quá vượng mà mang Ấn, vận Tài là lợi nhất. Vận Thực thương cũng cát, Ấn thì tối kỵ, Quan Sát cũng không tốt vậy.
Nguyên văn:Nếu Thực thần mang Ấn, thấu Tài để giải trừ, vận hỉ Tài vượng, Thực thương cũng tốt, Ấn cùng Quan Sát đều là kỵ.
39) Luận Thiên Quan
Nguyên văn:Sát dùng tấn công thân, giống như không phải là vật dụng tốt, mà cách là đại quý thì phần đa đều có tồn tại Thất Sát. Nếu khống chế thích hợp thì Sát thành cái cho Ta dùng, như đại anh hùng, đại hào kiệt, giống như khó mà tiết chế được cả phương xa, mà nơi ở có phương hướng, thì việc kinh thiên động địa bỗng nhiên mà hoàn thành. Mệnh các bậc Vương Hầu phần đa đều có tồn tại Thất Sát vậy.
Nguyên văn:Cách cục Thất Sát cũng không như nhau: Sát dụng Thực chế, là thượng cách; Sát vượng, Thực cường mà thân kiện, là cách cực quý. Như Ất Hợi/ Ất Dậu/Ất Mão/Đinh Sửu là cách cực quý vậy.
Nguyên văn:Sát dụng Thực chế không nên lộ Tài thấu Ấn, lấy Tài có thể chuyển Thực sinh Sát, mà Ấn có thể khứ Thực hộ Sát vậy. Nhưng mà trước Tài sau Thực, Tài sinh Sát mà Thực để chế vậy. Hoặc Ấn trước, Thực sau, Thực thái vượng mà Ấn chế, thì cách thành đại quý. Như Thoát Thừa tướng mệnh, Nhâm Thìn/Giáp Thìn/Bính Tuất/Mậu Tuất, Thìn trong có ám tàng Sát, Nhâm thấu xuất, Mậu tọa bốn chi, Thực thái trọng mà thấu Giáp Ấn, lấy làm tổn hại thái quá, sao không phải quý cách? Nếu Sát cường Thực tiết mà Ấn lộ, thì phá cục vậy.
Nguyên văn:Có Thất Sát dụng Ấn, Ấn có thể hộ Sát, vốn không là thích hợp, mà Ấn thì có tình, thì là quý cách. Như mệnh Hà Tham Chính, Bính Dần/Mậu Tuất/Nhâm Tuất/Tân Sửu, Mậu cùng Tân đều thông nguyệt lệnh, là Sát Ấn có tình vậy.
Nguyên văn:Cũng có Sát trọng thân khinh, dụng Thực thì thân không thể gánh nổi, không bằng ngược lại theo Ấn, tuy không thông căn nguyệt lệnh, cũng là vô tình mà có tình, cách cũng được quý nhưng không lớn mà thôi.
Nguyên văn:Có Sát mà dụng Tài, Tài cùng phe với Sát, bản chất là không tốt, mà hoặc có Thực bị chế, không thể khuất phục Sát, mà Tài thì khứ Ấn để lưu Thực, thì là quý cách. Như mệnh Chu Thừa tướng, Mậu Tuất/Giáp Tý/Đinh Mùi/Canh Tuất, Mậu bị chế nên không thể khuất phục được Sát, trụ giờ thấu Canh Tài, thì lấy Thực thanh, không đủ sinh Sát. Sinh Sát tức là lấy chế Sát, cả 2 đều dụng, càng là đại quý.
Nguyên văn:Lại có thân trọng Sát khinh, Sát lại bị Ấn hóa, dụng thần không thanh, mà giúp Tài lấy cách thanh, cũng là quý cách. Như Giáp Thân/Ất Hợi/Bính Tuất/Canh Dần, là mệnh của Lưu Vận Sử.
Nguyên văn:Lại có tạp khí Thất Sát, can đầu không thấu Tài để dụng thanh, cũng có thể lấy quý cách.
Nguyên văn:Có Sát mà lẫn tạp Quan, hoặc là khứ Quan, hoặc là khứ Sát, lấy thanh thì quý. Như mệnh của Nhạc Thống chế, Quý Mão/ĐinhTị/Canh Dần/Canh Thìn, là khứ Quan lưu Sát vậy. Nói đến Quan là quý khí, khứ Quan sao như khứ Sát? Sao biết Nguyệt lệnh Thiên Quan, Sát làm dụng mà Quan thì không dụng, đều do tòng là trọng. Nếu Quan cách tạp Sát, mà khứ Quan lưu Sát, không thể là thanh vậy. Như mệnh Thẩm Lang Trung, Bính Tý/Giáp Ngọ/Tân Hợi/Tân Mão, 39 tuổi mất, luận Thương Quan xung Ngọ mà khắc Sát, là khứ Sát lưu Quan vậy.
Nguyên văn:Có Sát, không có Thực chế mà đang dụng Ấn, như Mậu Thìn/Giáp Dần/Mậu Dần/Mậu Ngọ, mệnh của Triệu Viên ngoại.
Nguyên văn:Thậm chí sách nói có chế Sát thì không nên thái quá, tuy cũng có lý, nhưng mà vận hành Tài Ấn thì cũng có thể phát phúc, không nên chấp nhất vậy. Là nếu khí mệnh Tòng Sát, thì phải luận theo ngoại cách.
40) Luận Thất Sát thủ vận
Nguyên văn:Thiên quan thủ vận, tức là lấy Thiên Quan chỗ thành cục phân ra mà phối hợp. Sát dụng Thực chế, Sát trọng Thực khinh thì trợ Thực, Sát khinh Thực trọng thì trợ Sát, Sát Thực quân bình mà thân nhược thì trợ thân. Kỵ có Chính Quan hỗn tạp, sợ Ấn thụ đoạt Thực vậy.
Nguyên văn:Sát dụng Ấn thụ, không lợi gặp đất Tài; Thương Quan vận đẹp, Ấn thụ, thân vượng đều là vận đẹp.
Nguyên văn:Thất Sát dụng Tài, lấy Tài khứ Ấn mà lưu Thực, không lợi có Kiếp Tài, Thương thực là tốt, hỉ Tài sợ Ấn, thấu Sát cũng thuận.
Nguyên văn:Lấy Tài mà trợ Sát không đủ, Tài lấy đủ thỉ hỉ có Thực Ấn cùng trợ cho thân; Tài chưa đủ, thì hỉ Tài mà lộ Sát.
Nguyên văn:Sát mang Chính Quan, không luận khứ Quan lưu Sát, hay khứ Sát lưu Quan, thân khinh thì hỉ trợ thân, Thực khinh thì hỉ trợ Thực. “ Mạc khứ thủ thanh chi vật, vô thương chế Sát chi thần”, có nghĩa là Đứng khử mất đi vậy thủ thanh, không thương tổn chế Sát thần.
Nguyên văn:Sát không có Thực chế mà dụng Nhận gánh Sát. Sát khinh Nhận trọng, thì hỉ trợ Sát; Nhận khinh Sát trọng, thì hỉ chế phục; không có Thực được đoạt, Ấn vận vì sao gây hại? Thất Sát đã thuận, hỗn tạp Quan thì không lợi.
41) Luận Thương quan
Nguyên văn:Thương quan tuy không phải là cát thần, thật ra là tú khí, cho nên các văn nhân, học sĩ phần nhiều bên trong được Thương quan cách. Mà Hạ mộc thấy thủy, Đông kim thấy hỏa, thì lại là tú mà càng
thêm tú vậy.Trong đó cách cục so với nhiều cách khác thì biến hóa càng nhiều, do tra xét khí hậu, suy tính cường nhược, xét rõ hỉ kỵ, xem xét thuần tạp, thâm thúy lại càng thâm thúy, không thể kén chọn vậy.
Nguyên văn:Nguyên nhân có Thương quan dụng Tài, là thương hại không có lợi ở con người, cho nên là hung, Thương quan sinh Tài thì lấy Thương làm công cụ sinh lợi cho Quan, chuyển hung thành cát, cho nên là tốt nhất. Chỉ cần thân cường mà có căn, thì tiện cách sẽ thành quý cách. Như Nhâm Ngọ/Kỉ Dậu/Mậu Ngọ/Canh Thân là mệnh của Sử Xuân Phương vậy.
Nguyên văn:Về phần hóa Thương thành Tài, thì càng làm tú khí. Như mệnh La Trạng nguyên, Giáp Tý/Ất Hợi/Tân Mùi/Mậu Tý, can đầu là Giáp thông căn ở Hợi, nhưng lại vừa hội Mùi thành cục, hóa thủy thành mộc, hóa sinh Tài, rất là có tình, cho nên Thương sinh Tài thì Đông kim không quý, bởi vì nước bị đóng băng thì không thể sinh cho mộc. Nếu là hóa mộc, chẳng những hướng về sinh, được yên ổn thì không là cung điện lớn ư?
Nguyên văn:Về phần Tài Thương có tình, cùng hóa Thương thành Tài, là tương xứng tú khí, như mệnh của Tần Long Đồ, Kỷ Mão/Đinh Sửu/Bính Dần/Canh Dần, Kỷ cùng Canh đều có căn ở nguyệt lệnh vậy.
Nguyên văn:Có Thương Quan bội Ấn, Ấn có thể chế Thương, cho nên thành quý, trái lại cần Thương quan vượng, thân hơi yếu, mới là tú khí. Như mệnh Bình Chương, Nhâm Thân/Bính Ngọ/Giáp Ngọ/Nhâm Thân, Thương quan vượng , Ấn căn thâm, thân lại nhược, vừa là Hạ mộc mà gặp nhuận, kỳ tú khí gấp trăm lần, cho nên mệnh quý bậc nhất. Nhưng Ấn vượng quá nặng, không nên thấy nhiều, thiên chính trùng điệp đều xuất ra, trái lại thành không tú, cho nên Thương khinh, thân trọng mà Ấn thụ lại nhiều, là cách bần cùng vậy.
Nguyên văn:Có Thương quan bao gồm dụng Tài và Ấn, Tài và Ấn tương khắc, vốn không thể dụng chung, chỉ cần can đầu lưỡng thanh mà không gây trở ngại lẫn nhau; lại nhất định sinh Tài, Tài thái vượng mà mang Ấn, bội Ấn là Ấn quá nặng mà lại mang Tài, là điều hòa để lưu lại trung hòa, cho nên là mệnh quý. Như Đinh Dậu/Kỉ Dậu/Mậu Tý/Nhâm Tý, Tài quá nặng mà mang Ấn, Đinh cùng Nhâm ngăn cách bởi Mậu Kỷ, cả 2 đều không gây trở ngại, mà kim thủy nhiều và cảm thấy hàn lạnh, được hỏa dung hòa là mệnh của Đô Thống chế vậy. Lại như Nhâm Tuất/Kỉ Dậu/Mậu Ngọ/Đinh Tỵ, Ấn thái trọng và Mậu Kỷ ngăn cách nên Đinh cùng Nhâm không gây trở ngại, là mệnh của Nhất Thừa tướng vậy. Ngược lại đúng thì Tài Ấn không cùng dùng mà không tú vậy.
Nguyên văn:Có Thương quan dụng Sát Ấn. Thương nhiều thì thân nhược, nhờ có Sát sinh Ấn, Ấn sinh trợ thân mà chế Thương. Như Kỉ Mùi/Bính Tý/Canh Tý/Bính Tý, là mệnh của Thái Quý Phi vậy. Sát gặp Thương là có chế, lưỡng đắc kỳ nghi ( cả 2 đều phù hợp), chỉ cần không có Tài tinh, tiện sẽ thành quý cách. Như Nhâm Dần/Đinh Mùi/Bính Dần là mệnh của Hạ Các lão vậy.
Nguyên văn:Có Thương quan mà dụng Quan, cách khác là không thể dùng. Kim thủy thích hợp đơn độc, nhưng cần có Tài Ấn phụ trợ, không thể có Thương Quan cùng thấu. Như Mậu Thân/Giáp Tý/Canh Ngọ/ Đinh Sửu, Quý tàng Đinh lộ, Mậu Giáp là phù trợ, Quan lại đắc lộc, cho nên là cách của một Thừa tướng. Nếu chỉ có một Quan mà không có phụ trợ, hoặc Quan Thương đều thấu thì phát phúc không lớn vậy.
Nguyên văn:Nếu Đông kim dụng Quan, mà lại hóa Thương thành Tài, thì càng làm tú khí nên cực quý vậy. Như Bính Thân/Kỉ Hợi/Tân Mùi/Kỉ Hợi, là mệnh của Trịnh Thừa tướng vậy.
Nguyên văn:Song, cũng có khi không phải kim thủy mà gặp Quan là sao? Hóa Thương thành Tài, hại mà không phải hại, lấy Tài vượng sinh Quan, mà không lấy Thương quan gặp Quan, như Giáp Tý/Nhâm Thân/Kỉ Hợi/Tân Mùi, là mệnh của Chương Thừa tướng vậy.
Nguyên văn:Về phần Thương quan và Quan Sát cùng thấu, chỉ cần can đầu lấy thanh, được kim thủy cũng thanh, nếu không thì không có cấu thành vậy.
42) Luận Thương quan thủ vận
Nguyên văn:Thương quan thủ vận, tức lấy Thương quan chỗ thành cục rồi phân ra mà phối hợp. Thương quan dụng Tài, Tài vượng thân nhẹ, thì lợi ở Ấn Tỉ. Thân cường Tài nhẹ, thì hỉ Tài vận, Thương quan vận cũng tốt.
Nguyên văn:Thương quan bội Ấn, cần vận hành Quan Sát, Ấn vận cũng tốt, Thương Thực không sợ, Tài địa thì hung.
Nguyên văn:Thương quan mà kiêm dụng Tài Ấn, tức là Tài nhiều mà mang Ấn thì vận hỉ trợ Ấn, Ấn nhiều mà mang Tài thì, vận hỉ trợ Tài.
Nguyên văn:Thương quan mà dụng Sát Ấn, Ấn vận là tốt nhất, Thực Thương cũng hanh thông, hỗn tạp Quan là không tốt, gặp Tài thì nguy.
Nguyên văn:Thương quan mang Sát, hỉ Ấn kỵ Tài; nhưng mà Thương trọng Sát khinh, vận hỉ Ấn mà Tài cũng tốt. Duy chỉ có Thất Sát căn trọng, thì vận hỉ Thực Thương, Ấn thụ, thân vượng cũng tốt, mà gặp Tài thì hung vậy.
Nguyên văn:Thương quan dụng Quan, vận hỉ Tài Ấn, Thực Thương không lợi, Nếu trong cục Quan lộ, mà Tài Ấn đều vượng, thì Tỉ Kiếp Thương quan chưa phải là tốt.
43) Luận Dương Nhận
Nguyên văn:Dương Nhận là thần Kiếp tài, là Thất Sát của Chính Tài vậy. Ở trước Lộc một vị trí, duy chỉ có ngũ dương mới có, đó là Dương Nhận. Không nói là Kiếp mà nói là Nhận, vì chữ Kiếp này quá lớn vậy. Nhận cần được chế phục, Quan Sát đều cần đến, Tài Ấn theo hỗ trợ thì lại càng quý. Nói đến Chính Quan mà có Tài Ấn theo hỗ trợ thì tốt vậy, được Thất Sát, nó là cái gì vậy ? Mặt khác sao biết cách lấy Sát có thể thương hại thân, do đó hỉ chế phục mà kỵ Tài Ấn; dụng Dương Nhận thì cậy nhờ để chế Nhận, không sợ hại thân, cho nên trái lại là hỉ Tài Ấn mà kỵ chế phục vậy.
Nguyên văn:Dương Nhận dụng Quan, thấu Nhận không lo; Dương Nhận lộ Sát, thấu Nhận không thành; Quan có thể chế Nhận, thấu mà không làm hại; Nhận có thể hợp sát, thì có công sao ? Như Bính sinh tháng Ngọ, thấu Nhâm chế Nhận, mà lại lộ Đinh, Đinh cùng Nhâm hợp, thì Thất Sát có ý tham hợp vong khắc, làm sao chế Nhận? Cho nên vô công vậy.
Nguyên văn:Nhưng cùng là Quan Sát chế Nhận, mà cách cũng có cao thấp, như Quan Sát lộ mà căn thâm, thì quý cũng lớn; Quan Sát tàng mà không lộ, hoặc lộ mà ít căn, thì quý hiển không lớn vậy. Như Kỉ Dậu/Bính Tý/Nhâm Dần/Bính Ngọ, Quan thấu có lực,Tài vượng sinh, là mệnh của Thừa tướng vậy. Lại như Tân Dậu/Giáp Ngọ/Bính Thân/Nhâm Thìn, thấu Sát mà gốc cạn, có Tài Ấn trợ giúp, cũng là mệnh của Thừa tướng.
Nguyên văn:Nhưng cũng có Quan Sát chế Nhận mang Thương Thực mà cũng quý, sao vậy? Hoặc là Ấn lộ, hoặc là Sát quá nặng mà làm hại Tài, Quan Sát khinh mà thủ thanh như mệnh của Mục Đồng Tri, Giáp Ngọ/Quý Dậu/Canh Dần/Mậu Dần, Quý thủy hại dần Ngọ là Quan, mà Mậu lấy hợp Quý là chỗ Ấn hộ vậy. Như mệnh của Giả Bình Chương, Giáp Dần/Canh Ngọ/Mậu Thân/Giáp Dần, Sát lưỡng thấu mà căn quá nặng, lấy Thực chế thì cũng gọi là tổn Tài vậy. Như Bính Tuất/Đinh Dậu/Canh Thân/Nhâm Ngọ, Quan Sát xuất ra mạnh, mà Nhâm hợp Đinh Quan, Sát thuần mà không tạp. So sánh Dương Nhận cách, lợi ở lưu Sát, là nơi thủ thanh vậy.
Nguyên văn:Kỳ ở Bính sinh tháng Ngọ, bên trong tàng chứa Kỷ thổ, có thể lấy khắc thủy, lại cần mang Tài đeo Ấn; nếu Mậu sinh tháng Ngọ, can thấu Bính hỏa, chi hội hỏa cục, thì hóa Nhận thành Ấn, hoặc Quan hoặc Sát, thấu thì khứ Nhận, lưu Ấn thì cách cục càng thanh. Hoặc nếu Tài Sát cùng thấu lộ thì phạm khứ Ấn lưu Sát là kỵ, không lấy ví dụ sinh Sát, chế Sát, phú quý cả 2 đều là không.
Nguyên văn:Lại như Dương Nhận dụng Tài, cách cục không tốt, nhưng Tài căn sâu mà dụng Thực Thương, lấy chuyển Nhận sinh Tài, tuy không thể so với Kiến Lộc Nguyệt Kiếp, cũng có thể lấy phú. Nếu không, thì
Nhận cùng Tài cùng nhau đọ sức, cách cục không thành. 44) Luận Dương Nhận cách thủ vận
Nguyên văn:Dương Nhận dụng Quan, thì vận hỉ trợ Quan, nhưng trong mệnh Quan tinh căn sâu, thì phương Ấn thụ Tỉ Kiếp trái lại là vận tốt, nhưng không hỉ Thực Thương hợp Quan vậy.
Nguyên văn:Dương Nhận dụng Sát, Sát không quá vượng, thì vận hỉ trợ Sát; Sát nếu quá nặng, thì vận hỉ thân vượng và Ấn thụ, Thực thương cũng không là kỵ.
Nguyên văn:Dương Nhận mà có Quan Sát cùng xuất ra, không luận khứ Quan khứ Sát, vận hỉ có chế phục, thân vượng cũng tốt, đất Tài Quan trái lại là không tốt.
45) Luận Kiến lộc, Nguyệt kiếp
Nguyên văn:Kiến Lộc tức là tháng gặp cung Lộc ( còn gọi là Lâm quan, 1 trong 12 cung của vòng Trường sinh), Lộc cũng chính là Kiếp. Hoặc là lấy cung Lộc thấu lộ ra, tức có thể dựa vào lấy dụng là không hợp. Cho nên Kiến Lộc cùng Nguyệt Kiếp là một cách, không nên phân thêm ra, đều lấy thấu Can lộ Chi, phân biệt mà lấy Tài Quan Sát Thực làm dụng.
Nguyên văn:Lộc cách dùng Quan, can đầu thấu lộ ra thành kỳ, lại cần Tài Ấn tương trợ theo sau, không thể đơn độc mình Quan mà không có trợ giúp. Quan hữu dụng thì phải có Ấn hộ, như Canh Tuất/Mậu Tý/Quý Dậu/Quý Hợi, mệnh của Kim Thừa tướng vậy. Quan hữu dụng thì cũng phải có Tài trợ giúp, như Đinh Dậu/Bính Ngọ/Đinh Tị/Nhâm Dần là mệnh của Lý Tri phủ vậy.
Nguyên văn:Có Quan mà kiêm mang Tài, Ấn, gọi là thân cường gặp Tam Kỳ, càng là quý khí. Tam kỳ chính là Tài Quan Ấn vậy, chỉ cần lấy Quan cách, dùng Tài Ấn cả 2 đều không thương hại nhau, thì cách càng cao. Như Canh Ngọ/Mậu Tý/Quý Mão/Đinh Tị, là mệnh của Vương Thiếu sư vậy.
Nguyên văn:Lộc Kiếp dụng Tài, cần mang Thực Thương, Nguyệt lệnh là Kiếp mà lấy Tài làm dụng, là 2 vật tương khắc, nhất định phải lấy Thực thương hóa mới có thể chuyển Kiếp mà sinh Tài, như Giáp Tý/Bính Tý/Quý Sửu/Nhâm Thìn mệnh của Trương Đô thống vậy.
Nguyên văn:Về phần hóa Kiếp thành Tài, cùng hóa Kiếp thành sinh, càng làm tú khí. Như Kỉ Mùi/Kỉ Tị/Đinh Mùi/Tân Sửu, Sửu cùng Tị hội, tức là lấy Kiếp Tài ( hỏa) thành kim cục là Tài tinh, được yên ổn mà không thành đại quý? Gọi là hóa Kiếp thành Tài vậy. Như mệnh Cao Thượng thư, Canh Tý/Giáp Thân/Canh Tý/Giáp Thân.Tức lấy Kiếp Tài là kim, hóa sinh thủy sinh Tài, gọi là hóa Kiếp thành sinh vậy.
Nguyên cục:Lộc Kiếp dụng Sát, tất nhiên là có chế phục, như mệnh cuả Lâu Tham chính, Đinh Tị/Nhâm Tý/Quý Mão/Kỉ Mùi, Nhâm hợp Đinh Tài, là khứ đi bè cánh với Sát, Mão Mùi hội cục là lấy chế Sát vậy.
Nguyên văn:Tới dụng Sát mà lại gặp Tài, vốn là không tốt, nhưng có thể khứ Sát mà tồn tại Tài, lại thành quý cách. Mậu Thìn/Quý Hợi/Nhâm Ngọ/Bính Ngọ, là mệnh của Viên Nội Các vậy.
Nguyên văn:Lộc Kiếp cách, không có Tài Quan mà dùng Thực Thương, là tiết khí thái quá, cũng là tú khí. Duy chỉ có Xuân mộc Thu kim, dùng thì quý. Còn mộc gặp hỏa thì sáng, kim sinh thủy thì cứu vớt nhau. Như mệnh của Trương Trạng nguyên, Giáp Tý/Bính Dần/Giáp Tý/Bính Dần, là mộc hỏa thông minh vậy; Lại như Quý Mão/Canh Thân/Canh Tý/Canh Thìn, là kim thủy bao bọc nhau vậy.
Nguyên văn:Lại có Lộc Kiếp mà Quan Sát mạnh xuất ra, lấy thanh mà thành quý vậy. Như một mệnh Bình Chương, Tân Sửu/Canh Dần/Giáp Thìn/Ất Hợi là hợp Sát lưu Quan vậy; Như Tân Hợi/Canh Dần/Giáp Thân/Bính Thân, là chế Sát lưu Quan vậy.
Nguyên văn:Hoặc giả sử có 2 Quan đều xuất ra mạnh, cũng cần có chế phục, gọi là tranh giành Chính Quan thì không thể không có tổn thương vậy.
Nguyên văn:Nếu nói dụng Quan, mà Quan thế cô lại không có phụ trợ, cách cục càng thấp, khó mà lấy quý; nếu thấu Thương thực thì không bị phá cách. Như vậy cũng có Quan Thương cùng thấu mà vẫn quý, là vì sao? Như Kỉ Dậu/Ất Hợi/Nhâm Tuất/Canh Tý, Canh hợp Ất mà khứ Thương lưu Quan, là mệnh của Vương Tổng binh vậy.
Nguyên văn:Dụng Tài mà không thấu Thực Thương, thì mở đầu khó mà hưng thịnh, nhưng can đầu thấu một vị mà không tạp, địa chi căn nhiều, cũng có thể lấy phú mà không quý vậy.
Nguyên văn:Dụng Quan Sát nặng mà không có chế phục, vận hành chế phục, cũng có thể phát tài, nhưng Quan Sát không thể quá nặng, thì thân bị nguy hiểm.
46) Luận Kiến Lộc, Nguyệt Kiếp thủ vận
Nguyên văn:Lộc Kiếp thủ vận, tức lấy Lộc Kiếp thành cục, phân ra mà phối hợp. Lộc Kiếp dụng Quan, có Ấn hộ thì hỉ Tài, sợ gặp hợp Quan tinh, sợ lạm dụng Thất Sát. Thương thực không thể thành hại, Tỉ Kiếp không đến thành hung.
Nguyên văn:Tài sinh hỉ Ấn thụ, cần phải có gốc Quan tinh, sợ kẻ lấn áp Thực Thương, gặp Tài thì càng có sự nghiệp,còn hỗn tạp Sát sao mà chẳng ngại?
Nguyên văn:Lộc Kiếp dụng Tài mà mang Thực Thương, Tài Thực nặng thì hỉ Ấn thụ và không kỵ Tỉ kiên; Tài Thực nhẹ thì cần trợ giúp Tài mà không hỉ Ấn Tỉ. Gặp Sát không bị hại, gặp Quan thì không thành phúc.
Nguyên văn:Lộc Kiếp dụng Sát Thực chế, Thực trọng Sát khinh thì vận cần trợ Sát; Thực khinh Sát trọng thì vận hỉ trợ giúp Thực.
Nguyên văn:Nếu dụng Sát mà mang Tài, trong mệnh hợp Sát lưu Tài, thì Thương Thực là cần thiết, Tài vận không kỵ, thấu Quan không lo, thân vượng cũng hanh thông. Nếu trong mệnh hợp Tài lưu Sát, mà dụng Thực chế, Sát khinh thì trợ Sát, Thực khinh thì trợ Thực vậy.
Nguyên văn:Lộc Kiếp mà dụng Thực thương, Tài vận là cần nhất, Sát cũng không kỵ, hành Ấn thụ không tốt, Quan thấu cũng không đẹp. Nếu mệnh có Thương thực quá nặng, thì Tài vận chắc chắn có lợi, mà Ấn cũng không kỵ vậy.
Nguyên văn:Lộc Kiếp mà Quan Sát đều thấu ra, không luận hợp Sát lưu Quan, lưu Quan chế Sát. Vận hỉ Thực Thương, Tỉ kiên cũng tốt, Ấn thụ chưa tốt, Tài Quan cũng không phải là phúc vận.
47) Luận Tạp cách
Nguyên văn:Tạp cách là Nguyệt lệnh không có dùng, lấy ngoại cách mà dùng, cách quá nhiều cho nên mới nói là Tạp. Hạn chế lớn là yêu cầu can đầu không có Quan Sát thì phương thành cách, nếu có Quan Sát thì đương nhiên lấy Quan Sát làm dụng, xếp vào ngoại cách vậy. Nếu thấu Tài ở trên thì có thể lấy thành cách, nhưng Tài có gốc sâu, hoặc Tài thấu ra hai vị, thì cũng lấy Tài làm trọng mà không lấy ngoại cách vậy.
Nguyên văn:Như lấy mọi cách luận, như lấy ngũ hành một phương tú khí, lấy Giáp Ất có đủ Hợi Mão Mùi, Dần Mão Thìn, lại sinh ở Xuân nguyệt, vốn là cùng loại Kiếp Tài, lấy ngũ hành đều được toàn thể cho nên thành cách, hỉ có Ấn lộ mà thể thuần. Như Quý Hợi/Ất Mão/Ất Mùi/Nhâm Ngọ, là mệnh của Ngô tướng công vậy. Vận cũng hỉ là đất của Ấn thụ, Tỉ kiếp, Tài Thực cũng tốt, duy chỉ có hành Quan Sát là tối kỵ
Nguyên văn:Như Đảo xung thành cách, lấy tứ trụ bày ra Tài Quan, mà đối diện lấy xung, cần có nhiều chữ trong địa chi, phương xung được động. Ví như lấy chủ nhược mà yêu cầu đạt đến Quan cường, Chủ không đông thì Khách không tòng, như Mậu Ngọ /Mậu Ngọ/ Mậu Ngọ /Mậu Ngọ, vốn là xung Tý là Tài vậy; Giáp Dần/Canh Ngọ/Bính Ngọ/Giáp Ngọ, là xung Tý là Quan vậy. Vận kỵ điền thực, ngoài ra đều có thể thực hiện.
Nguyên văn:Như Triều Dương thành cách, Mậu mất đi mà hướng về Bính, ngày Tân được Quan tinh, lấy Bính Mậu cùng có Lộc ở Tị, tức là ý nghĩ kéo lên. Muốn can đầu không có mộc hỏa, phương thành cách, cái có hỏa thì không đợi ở nơi hướng về, có mộc Tài thì làm cho Mậu tức giận, mà không làm hướng về Ta. Như Mậu/Tân Dậu/Mậu Tý, mệnh của Trương Tri huyện, vận hỉ thổ kim thủy, vận mộc bình thường, vận hỏa thì kỵ vậy.
Nguyên văn:Như Hợp lộc thành cách, mệnh không có Quan tinh, mượn can chi để hợp. Ngày Mậu, Canh Thân, lấy Canh hợp Ất, mượn nhật chủ mà được thành đôi. Như Kỷ Mùi/Mậu Thìn/Mậu Thìn/Canh Thân mệnh của Thục vương. Ngày Quý, Canh Thân, lấy Thân hợp Tị, dựa vào nhật chủ mà được bằng hữu. Như Kỷ Dậu/Quý Mùi/Quý Mùi/Canh Thân mệnh của Triệu Thừa tướng. Vận cũng kỵ điền thực, Quan Sát không có lợi, lý thì không cần lấy hỏa khắc kim, khiến cho Tỉ bị chế mà không có thể hợp, còn lại thì tốt.
Nguyên văn:Như khí mệnh giữ Tài, tứ trụ đều là Tài mà thân thì không có khí, bỏ mà tòng theo, cách thành đại quý. Nếu thấu Ấn, thì thân cậy nhờ Ấn sinh mà không tòng, có Quan Sát thì cũng không tòng Tài, lý lẽ bao gồm cả Tòng Sát, là cách không thành. Như Canh Thân/Ất Dậu/Bính Thân/Ất Sửu, mệnh của Vương Thập Vạn. Vận hỉ đất Thực, Thương, Tài, không thích hợp thân vượng. Như khí mệnh Tòng sát, tứ trụ đều là Sát, mà nhật chủ vô căn, bỏ mà tòng là cách đại quý. Nếu có Thương Thực, thì Sát thụ chế mà không tòng, có Ấn thì Ấn lấy hóa Sát mà không tòng theo. Như Ất Dậu/Ất Dậu/Ất Dậu/Giáp Thân, là mệnh của Lý Thị Lang vậy. Vận hỉ gặp Tài Quan, không cần thân vượng, Thực thương thì càng kỵ
Nguyên văn:Như Tỉnh Lan thành cách, Canh kim sinh tháng 7,8, là phương dùng cách này. Lấy Thân Tý Thìn xung Dần Ngọ Tuất, Tài Quan Ấn thụ hợp mà xung, nếu thấu Bính Đinh, có Tị Ngọ, lấy rõ có Tài Quan mà không đợi ở xung, là không phải Tỉnh Lan cách vậy. Như Mậu Tý/Canh Thân/Canh Thân/Canh Thân, mệnh của Quách Thống chế vậy. Vận hỉ Tài, không lợi điền thực, còn lại cũng tốt vậy.
Nguyên văn:Như Hình hợp thành cách, ngày Quý, giờ Giáp Dần, Dần hình Tị mà được Tài Quan, Hợp Lộc cách cũng tương tự, nhưng Hợp Lộc thì hỉ lấy hợp, mà phép Hình Hợp thì kiên định dùng vậy. Mệnh có Canh Thân thì mộc bị xung khắc mà không có thể hình; có chữ Mậu Kỉ, thì rõ ràng thấu Quan Sát mà không đợi ở hình. Như Ất Mùi/Quý Mão/Quý Mão/Giáp Dần, mệnh của Thập Nhị Tiết Độ Sứ vậy. Vận kỵ điền thực, bất lợi đất của kim, còn lại thì tốt vậy.
Nguyên văn:Như Diêu hợp thành cách, Tị cùng Sửu hội, vốn là cục giống nhau, Sửu nhiều thì hội Tị, mà Tân Sửu là xứ Quan, ý cũng là Hợp Lộc vậy. Như Tân Sửu/Tân Sửu/Tân Sửu/Canh Dần, là mệnh của Chương Thống Chế vậy. Nếu mệnh mà có chữ Tý, thì Sửu cùng Tý hợp mà không xa; có Bính Đinh Mậu Kỉ, thì Tân Quý Quan Sát lấy thấu, mà không đợi ở xa, lấy dụng có khác, là không phải cách này rồi. Còn như Giáp Tý ở xa, quay nghiến cầu mưa, giống như cảm thấy vô tình, cách này có thể bỏ đi, dựa vào mệnh La Ngự sử, tạm thời lưu lại là Giáp Thân/Giáp Tuất/Giáp Tý/Giáp Tý.
Nguyên văn:Như nói đến Củng lộc, Củng Quý, Xu Can, Quy Lộc, Giáp Tuất, Thử Quý, Kỵ Long, Nhật Quý, Nhật Đức, Phú Lộc, Khôi cương, Kim Thần, Thời Mộ, Lưỡng Can Bất tạp, Can Chi Nhất khí, Ngũ hành câu túc các loại, các cách hết thảy đều không có lý, vừa áp đặt chớ lấy. Dù là tính cách bên trong người xưa cũng có thành quy tắc, tóm lại là ý nghĩ khiên cưỡng, kiên quyết bổ sung vào Cách, trăm không có một, người đời sau gặp học mà uổng phí vậy. Nếu mà trời đất cùng bay, dù phú quý cũng có chữ, có cách, không dựa vào cách này. Mà cũng có thể thêm vào cách cơ bản, tức là dụng thần không có dụng, như ngẫu nhiên dựa vào lấy làm dụng, cũng thành cách tốt. Nhưng mà có dụng thần không tốt, tức là lấy làm hung, không thể chấp nê vậy.
Nguyên văn:Nói về Thương quan thương tận, bảo là thương tận thì không nên gặp Quan tinh, nhất định tận lực mà lấy tổn thương, khiến cho không có đất dung thân, đến hành Thương vận liền có thể phú quý, không biết là Quan có tội gì mà ác như vậy? Huống chi gặp Quan mà tổn thương, thì lấy Quan không phải là tốt, mà lấy chế để tổn thương, thêm Thương Quan là hung thần, mà gặp Quan thì “Vi họa bách đoan” ư? Còn lại là dùng phương pháp lấy thứ đến mà thử, nhưng mà có bần tiện, đều không có phú quý, không dễ căn cứ vậy, gần đây cũng có đại quý, không biết là sao? Song cũng thấy xấu tiện thì nhiều, không thể không xem xét nhân vật để nhận định.
48) Phụ luận, Tạp cách thủ vận
Đảo Xung cáchMậu Ngọ Mậu Ngọ Mậu Ngọ Mậu NgọĐại vận: Kỉ Mùi/Canh Thân/Tân Dậu/Nhâm Tuất/Quý Hợi/Giáp TýLưỡng thần ( Mậu và Ngọ) thành tượng. Cả 2 khí thế nghiêng về hỏa thổ, là Tòng vượng cách. Kim vận là tốt nhất, nhưng mà “Hỏa viêm thổ táo” ( Hỏa nóng đất khô) rút cuộc sợ thiên khô thì cần có thủy thổ để hộ vệ. Như vận Canh Thìn, Tân Sửu, đều tốt. Nếu gặp thủy vận, giống như lấy một chén nước ở xa mà cứu giúp cái xe chưa đầy củi lửa vậy. Lập tức gặp tai nạn ngay. Chỗ Đảo Xung rất kỵ Điền thực, tức là ý này vậy. Mộc vận tính chống lại thổ, thêm lửa cho hỏa cũng là không thích hợp vậy.Giáp Dần Canh Ngọ Bính Ngọ Giáp NgọĐại vận: Tân Mùi/Nhâm Thân/Quý Dậu/Giáp Tuất/Ất Hợi/Bính TýCanh kim vô căn coi như bỏ không luận. Khí nghiêng về mộc hỏa, thành cách Viêm thượng, cần nhất là thổ vận tiết khí hỏa. Thuyết này luận như Nhân Thọ cách.Lấy 2 mệnh ở trên tục đều gọi là Đảo xung cách.Triều Dương cáchMậu Thìn Tân Dậu Tân Dậu Mậu TýĐại vận: Nhâm Tuất/Quý Hợi/Giáp Tý/Ất Sửu/Bính Dần/Đinh MãoMệnh này kim thủy Thương quan, gốc không có Quan tinh, khí thế thiên về kim thủy, lấy thuận kỳ tính. Hành thổ kim thủy vận là tốt, hỏa vận là kỵ. Mộc mang thủy ở trên có thể hành, mà mộc mang hỏa thì không nên thấy. Chỗ này tục gọi là Triều Dương cách.Hợp Lộc cáchKỷ Mùi Mậu Thìn Mậu Thìn Canh ThânĐại vận: Đinh Mão/Bính Dần/Ất Sửu/Giáp Tý/ Quý Hợi/Nhâm TuấtMệnh này thổ kim Thực thần cách vậy. Tỉ kiếp quá trọng, khí thế nghiêng về thổ kim, lấy kim vận tiết thổ tú khí là vận đẹp nhất, thủy vận cũng tốt. Mộc hỏa vận là kỵ, gọi là “Thổ thịnh mộc chiết ( gãy)” vậy. Tục lấy Canh hợp Ất là Quan tinh, xưng là Hợp Lộc cách, lại không cần thấy rõ, hỉ Tài để sinh. Lấy vận cũng như nhau.Kỷ Dậu Tân Mùi Quý Mùi Canh ThânĐại vận: Canh Ngọ/Kỉ Tỵ/Mậu Thìn/Đinh Mão/Bính Dần/Ất SửuTục gọi cách này cũng gọi là Hợp Lộc cách, lấy Thân hợp Tị trong có Mậu thổ là Quan tinh vậy. Nguyệt lệnh là Thiên Quan ( Sát), thấu ra ở can năm, thời thượng Canh Ấn hóa Sát là dụng thần ( Xem chương luận Thất Sát cách). Cách cục chính thanh, có gì không tốt? Nếu lấy Tị trong Mậu Quan tinh, sao không phải là Quan Sát hỗn tạp ư?
Tòng Tài cáchCanh Thân Ất Dậu Bính Thân Kỷ SửuĐại vận: Bính Tuất/Đinh Hợi/Mậu Tý/Kỉ Sửu/Canh Dần/Tân MãoẤt tòng Canh hóa, không lấy Ấn luận, Bính hỏa đến Thân, tọa ở đất Bệnh, tứ trụ không có căn gốc, thời thượng Kỉ Sửu lại đến sinh kim, khí thế nghiêng về kim vượng. Là khí mệnh Tòng Tài cách vậy. Hành vận phù hợp là thổ kim thủy, Nam phương hỏa địa là tối kỵ, mộc cũng bất lợi.Tòng Sát cáchẤt Dậu Ất Ấ Ấ
Dậu Ất Dậu Giáp ThânĐại vận: Giáp Thân/Quý Mùi/Nhâm Ngọ/Tân Tị/Canh Thìn/Kỉ MãoẤt mộc vô căn, khí thế nghiêng về kim, là khí mệnh Tòng Sát cách. Kim vận tốt nhất, thổ thủy cũng cát. Vận mộc là Ất mộc gặp căn, hỏa vận là nghịch kỳ thế vượng, là tối kỵ. Cùng cách Tòng Tài ở trên đều giống nhau.Tỉnh Lan Xoa CáchMậu Tý Canh Thân Canh Thân Canh ThìnĐại vận: Tân Dậu/Nhâm Tuất/Quý Hợi/Giáp Tý/Ất Sửu/Bính DầnChỗ này tục gọi là Tỉnh Lan Xoa Cách. Canh kim thừa vượng tiết tú, chi toàn Thân Tý Thìn thủy cục. Khí thế nghiêng về kim thủy, đang thuận kỳ thế lấy thủ vận. Thổ kim thủy là vận tốt, mộc vận cũng có thể. Hành hỏa vận là nghịch kỳ thế vượng thì không tốt.
Diêu hợp cáchTân Sửu Tân Sửu Tân Sửu Canh DầnĐại vận: Canh Tý/Kỷ Hợi/Mậu Tuất/Đinh Dậu/Bính Thân/Ất MùiChỗ này tục gọi là Sửu diêu Tỵ cách. Thổ kim thành cục, sinh ở tháng 12, thời thượng Dần mộc ( trụ giờ) vô khí, không thể thành dụng. Thế tượng thiên về thổ kim, cần vận thổ kim thủy, mộc hỏa thì nghịch kỳ thế vượng là không tốt. Cùng Tý Diêu Tỵ cách thủ vận giống nhau vậy.Sửu diêu Tỵ lộc cách ( còn gọi là Hình Hợp)Ất Mùi Quý Mão Quý Mão Giáp DầnĐại vận: Nhâm Dần/Tân Sửu/Canh Tý/Kỉ Hợi/Mậu Tuất/Đinh Dậu“Hỉ Kỵ Thiên” viết: “Quý nhật tiến phùng Dần vị, tuế nguyệt phạ Mậu dĩ nhị phương”, có nghĩa là “ Ngày Quý tiến lên gặp vị trí Dần, năm tháng sợ Mậu lấy 2 phương”. Lấy Dần hình xuất Tị trong có Mậu thổ làm cách, kỳ thật chính là Tòng Nhi Cách vậy. Khí thế thiên về mộc, hành vận mộc hỏa là tốt nhất. Tòng cách kỵ gặp Tỉ Kiếp, mà Tòng Nhi có Thực Thương dẫn hóa không kỵ Tỉ Kiếp, việc này là điểm bất đồng. Quan Sát là đại kỵ, Ấn vận cũng vậy.Tý diêu Tị lộc cách ( còn gọi là Diêu Hợp Cách)Giáp Thân Giáp Tuất Giáp Tý Giáp TýĐại vận: Ất Hợi/Bính Tý/Đinh Sửu/Mậu Dần/Kỉ Mão/Canh Thìn/Tân Tị“Hỉ Kỵ Thiên” viết: “Giáp Tý nhật tái ngộ Tý thời, úy Canh Tân Thân Dậu Sửu Ngọ, dĩ Tý diêu hợp Tị vi cách”, có nghĩa là “Ngày Giáp Tý lại gặp giờ Tý, sợ Canh Tân Thân Dậu Sửu Ngọ, lấy Tý hợp xa Tị làm cách”. Thực ra, nguyệt lệnh là Thiên Tài, dụng Tài phá Ấn, cần gì lấy cách cục riêng? Tuất tàng Đinh hỏa, sinh khởi Tài tinh, gặp vận thấu thanh là tốt, Canh Tân Thân Dậu Quan Sát sinh.
Khúc trực Nhân thọ cáchQuý Hợi Ất Mão Ất Mùi Nhâm NgọĐại vận: Giáp Dần/Quý Sửu/Nhâm Tý/Tân Hợi/Canh Tuất/Kỉ DậuNhật chủ là Giáp Ất, chi đủ Hợi Mão Mùi hoặc Dần Mão Thìn, là Khúc Trực Nhân Thọ Cách vậy. Khí thế thiên vượng về Mộc, cần hành vận Thủy Mộc Hỏa, Quan Sát vận là tối kỵ, Tài vận cũng không tốt.- Bính Đinh là Nhật chủ, chi đủ Dần Ngọ Tuất hoặc Tị Ngọ Mùi, là Viêm Thượng Cách.- Nhật chủ là Mậu Kỉ, chi đủ Thìn Tuất Sửu Mùi là Giá Sắc cách.- Canh Tân là Nhật chủ, chi đủ Tỵ Dậu Sửu hoặc Thân Dậu Tuất, gọi là Tòng Cách cách.- Nhật chủ là Nhâm Quý, chi đủ Thân Tý Thìn hay Hợi Tý Sửu, gọi là Nhuận Hạ cách.5 loại trên đều có ý nghĩa như nhau.Hóa khí cáchGiáp Tuất Đinh Mão Nhâm Dần Giáp ThìnĐại vận: Mậu Thìn/Kỉ Tị/Canh Ngọ/Tân Mùi/Nhâm Thân/Quý dậuĐinh Nhâm hợp hóa mộc, sinh ở Xuân nguyệt, giờ phùng Giáp Thìn, nguyên thần mộc thấu xuất, chính là Hóa Mộc Cách. Khí thế nghiêng về mộc vậy. Hóa thần hỉ hành ở đất vượng, cần nhất là Dần Mão Thìn đất Tỉ Kiếp, mà kỵ Quan Sát, đất của nhật chủ trở lại như cũ thì cũng kỵ, trong đó cần phân biệt sơ lược như Đinh Nhâm hóa mộc, nhật nguyên Nhâm thủy, hành Hợi Tý Sửu là Ấn địa, sinh khởi Hóa Thần cũng tốt; Nếu lấy Giáp hóa thổ, mà hành Dần Mão Thìn, là khắc Hóa Thần của Ta là đại kỵ vậy.Hóa Khí cách có Giáp Kỷ hóa thổ, Ất Canh hóa kim, Bính Tân hóa thủy, Đinh Nhâm hóa mộc, Mậu Quý hóa hỏa, có 5 loại, ý nghĩa đều giống nhau.





Gửi phản hồi cho #81. Nguyệt Lệnh Thập Thần Định Cách – Tử Bình Thuật Hủy trả lời