Lời nói đầu
Manh Nhân bí điển là một loại dựa vào khẩu truyền tâm thụ lưu truyền trong manh nhân của nước ta từ
thời xưa, loại kiểu mẫu tập hợp không chữ không hình. Bởi vì thời Nguyên Liêu bề rộng của nước ta
bao la, phân biệt nội dung trọng điểm dự trắc của các môn các phái sư truyền manh nhân có rất nhiều,
có môn phái lấy nạp âm ngũ hành luận mệnh làm chủ, có môn phái lấy ngũ hành thần sát của 28 tinh tú
luận mệnh làm chủ, có môn phái lấy ngũ hành sinh khắc luận mệnh làm chủ, nói chung đã có từ nghìn
đời.
Bản điển nhận sư truyền, là lấy ngũ hành sinh khắc làm chủ, thuộc phái Trung Nguyên. Do ở quá khứ
không có nguyên bản chính thức mà hoàn toàn dựa vào khẩu truyền tâm thụ, cho nên bản điển gọi là
bản chỉnh lý. Căn cứ nguyên tắc bỏ ngụy tồn chân, còn kết hợp xã hội hiện đại phát triển mà chỉnh lý ra
bộ phận quyết khiếu thích hợp cho người hiện đại nắm chắc mà vận dụng, có thể nội dung văn bản so
sới chỗ gốc tích mà sư truyền thì thực dụng hơn và đầy đủ hơn, bổ sung phát triển rất nhiều kinh
nghiệm mới thành quả mới. Cho nên nói, bản điển này vối là ở phép Manh nhân toán mệnh nhưng lại
cao hơn thuật toán mệnh của Manh nhân (người mù).
Do tính tình người dân ở nước ta bảo thủ, nhất là thuật Manh nhân dự trắc, lai lịch chỉ truyền cho Manh
nhân, mà lúc tương truyền tất phải thề độc khi nhận đồ đệ, không phải manh nhân thì không truyền,
cho nên thuật Manh nhân dự trắc một mực chỉ lưu truyền ở trong Manh nhân.
Lúc này bởi tôi không rõ ranh giới được ở thầy truyền, khôi phục lại thị lực mà tiến hành chỉnh sữa lại
đầy đủ, mới khiến cho chỗ tuyệt học nghìn đời này được hiện diện ở trên đời. Tuy có thầy dạy trước
đây, nhưng tôi nghĩ đây chính là chỗ tư tưởng bảo thủ của người xưa. Thời xưa nước ta vốn có rất
nhiều chỗ quý hiếm, một thầy dạy đều để lại một vài chiêu, khiến cho kết quả thuật dự trắc hay càng
ngày càng thất truyền. Chỗ nói là thề độc, không phải là không cho bạn truyền ra bên ngoài là để tránh
sự loạn truyền cho người mà cướp đi miếng ăn của manh nhân (người mù). Đây là tư tưởng đang tác
quái chỉ biết làm lợi cho riêng mình, là ở tư tưởng bảo thủ tác quái, tiếp tục như vậy, những thuật dự
trắc hay của Manh nhân thì sẽ càng ngày càng thất truyền. Là cứu vớt một tuyệt học này, khiến cho
làm rạng rỡ truyền thống, nay đặc biệt là thầy dạy, để cầu phát huy tuyệt học dự trắc, tin tưởng trên trời
có linh thiêng, biết ý tôi đang ở chỗ phát huy, ở cứu vãn, sẽ không giáng tôi cho tôi, trên trời khiến cho
tôi mắt mù nay đã được hồi phục, ý chỉ đại khái cũng là ý trời giáng xuống cho tôi, cứu vớt bí học của
Manh nhân.
Bản điển là thuộc nội dung mệnh lý tầng cao, không có đề cập đến tri thức cơ sở cùng vấn đề có liên
quan tầng cấp bậc trung, chỉ cần là thực dụng, cầm đến thì có thể sử dụng, cho nên người không có cơ
sở nhất định thì chớ vội vàng xem đến bản điển này, đợi có căn cơ nhất định sau đó mới xem bản điển
này nhất định nhận được sự bổ ích vô cùng.
Chương 01, Phép trực đoán tứ trụ
Chỗ nói phép trực đoán tứ trụ chính là không sử dụng phân tích ngũ hành vượng suy, không dụng thủ
dụng thần, chỉ xem 8 chữ tứ trụ, ngay cả đại vận cũng không dùng, trực tiếp từ tổ hợp 8 chữ ở trong tứ
trụ lấy ra tượng tin tức cả đời của người này. Loại phương pháp này, rất rõ ràng đơn giản, tính thực
dụng mạnh, tỷ suất chuẩn xác cũng khá cao, Manh nhân thẳng nhìn đoán nhanh tứ trụ, dựa vào chỗ
bản lĩnh hạng nhất xuất chúng này để mà sinh sống, nếu có thể thấu hiểu đạo lý, thủ tượng linh hoạt,
thì có thể đạt đến cảnh giới thần đoán.Tiết 1, Phép trực đoán trụ giờ tứ trụ
Phép trực đoán trụ giờ trong tứ trụ, chính là chỉ xem trụ giờ là can chi nào, căn cứ tượng tin tức tổ hợp
can chi trụ giờ, để đoán ra sự tượng các phương diện của người này, thiên can, địa chi thời Trung
Quốc cổ đại đều có đại biểu ý nghĩa nhất định, đem tổ hợp mỗi một loại thiên can địa chi, thì có một
tượng tin tức, tổ hợp khác nhau, thì tượng tin tức tất nhiên khác nhau. Tại sao có lúc cao nhân trong
manh nhân chỉ xem thời thần (trụ giờ) của bạn, thì có thể nói ra đến cho bạn rất nhiều chuyện, cùng tin
tức lục thân của bạn, mà tỷ suất chuẩn xác rất cao, khiến cho người phải kinh dị, ở đây tôi đem phép
manh nhân trực đoán công khai ở đời, hi vọng chư vị tế tâm lĩnh hội.
Một , Ca quyết thời thần ngày sinh
Ca quyết này không những nói ra các loại tượng tin tức thời thần người sinh ra, đối với lục thân có trình
bày rõ ràng, nhất là đối với tình huống cha mẹ cùng anh em có giá trị ứng dụng rất lớn, phép này luôn
luôn là bảo pháp Manh nhân sử dụng để xác định người có ngày sinh thời thần không chuẩn.
(Một) Tý Ngọ Mão Dậu (giờ người sinh ra)
Đầu giờ cha chết trước, cuối giờ mẹ chết trước.
Ca quyết:
Tý Ngọ Mão Dậu bốn giờ cao,
Là người thanh tú lại anh hào,
Đa số anh em không làm bạn,
Một đôi cha mẹ cũng không chiều,
Đầu giờ cuối giờ không nương tựa,
Ở giữa giờ Tý giàu có nhiều,
Tài lộc vinh hoa tự cần tới, ①
Danh vị thông thiên đắc thế cao.
Ca quyết bên trên, lấy tình huống suy đoán cha mẹ cùng anh em làm chủ, ý thơ này phải suy xet cẩn
thận, ví dụ:
① Trong câu Tài lộc vinh hoa tự cần tới, lý giải la ứng với phải tự dựa vào bản thân phấn đấu mà thành
gia lập nghiệp, cha mẹ, lục thân cùng bạn bè đều không dựa vào.
② Câu nói Anh em càng là không nương tựa, là nói ít anh em hoặc là không có anh em, ý là anh em chỉ
có một người, ít anh em hoặc chỉ có một bản thân, tất nhiên là không có anh em nương tựa.
③ Trong câu Nam là tăng đạo nữ thì cô. Cũng không phải là nói nữ quyết định bởi nam, người sinh 4
giờ Thìn Tuất Sửu Mùi chính là làm tăng đạo hoặc làm ni cô, hơn nữa còn nói người sinh 4 giờ này là
hình khắc lục thân, nhất là khắc chồng khắc vợ, vợ chồng khó sống đến bạc đầu, đến già cô quả giống
như tăng đạo ni cô.
Nói chung, không giải thích từng cái, những câu này lý giải khá là dễ dàng, còn kỵ chớ dùng chết câu
thơ để biểu hiện ý tứ.
Hai, Bên trên là tượng biểu lộ đối với giờ sinh ra, lấy phương thức ca quyết biểu đạt, để dễ nhớ. Biểu
thuật bên trên là tượng tin tức chi giờ, như vậy còn can giờ thì có tượng gì chứ, thập thiên can ở trên
trụ giờ tượng biểu lộ là:
Ca quyết:
Giáp Ất xuân hạ tự lập xương,
Bính Đinh vãn cảnh nhà không tốt,
Thời thượng Mậu Kỷ người ăn riêng,
Sinh giờ Canh Tân đường thông sướng,Sinh giờ Nhâm Quý gãy ba khúc,
Chỗ uốn quanh co lúc nhấp nhô.
Ý tứ là gì chứ? “Giáp Ất xuân hạ tự lập xương” là nói người có can giờ là Giáp hoặc Ất, sinh tại mùa
xuân hạ hoặc là mùa hạ, đợi sau khi thành gia mới có thể phú quý phát đạt. « Tự lập xương » chính là
sau khi “Tự lập” thành gia, mới có chuyện vinh xương. “Bính Đinh vãn cảnh nhà không tốt” là nói người
sinh giờ có thiên can là Bính hoặc Đinh, đến khi về già trong nhà có đa sự, nhiều phiền não, « Bất
lương » chính là ý tứ không tốt. “Thời thượng Mậu Kỷ người ăn riêng” là nói người sinh có can giờ là
Mậu hoặc Kỷ, bản thân giàu có, phát đạt, nhưng lục thân bần cùng, hoặc là lục thân khó mà dính vào
ánh sáng của hắn.”Sinh giờ Canh Tân đường thông sướng” là nói người sinh giờ Canh hoặc Tân, đa số
cả đời ở trong hoạt động kiếm sống, giỏi về cách thức giao tế rộng rãi, ý tứ bởi vì Canh Tân là đường
lộ.”Sinh giờ Nhâm Quý gãy ba khúc” là nói người sinh giờ Nhâm hoặc Quý, cả đời làm việc nhiều trắc
trở, nhiều gãy ngã, « Chỗ uốn quanh co » giống như nước chảy quanh co khúc khuỷu, biến đổi bất
ngờ.
(Hai) Dần Thân Tị Hợi (giờ người sinh)
Ca quyết:
Dần Thân Tị Hợi bốn giờ trương,
Là người thông minh trình văn chương,
Đúng giờ anh em bốn năm người,
Đầu giờ cuối giờ cũng thành đôi,
Cha mẹ anh em không nương tựa,
Tự nhiên cao phúc sinh hoa đường,
Nếu là thiên nhiên thêm quý khí,
Nhất thời vinh hoa đại cát xương.
(Ba) Thìn Tuất Sửu Mùi (giờ sinh người)
Ca quyết:
Thìn Tuất Sửu Mùi bốn giờ cô,
Đừng ngại cha mẹ ít thân yêu,
Đúng giờ đa số cha mất trước,
Đầu giờ cuối giờ mẹ sớm đi,
Anh em càng là không nương tựa, ②
Tổ nghiệp không lấy bị làm nhục,
Đúng sau làm quan sai khiến thân,
Nam làm tăng đạo nữ thì cô. ③
Lấy ca quyết ở bên trên là hình thức biểu thuật ra tượng tin tức can chi giờ, cả hai đem hợp lại có thể
suy ra rất nhiều tượng. Chư vị có thể suy nghĩ, hiện chỉ lấy tượng can chi giờ, vận dụng tổng hợp đưa
ra ví dụ như sau:
Người sinh giờ Giáp Thìn, có một năm tháng ngày nào đó, bạn có thể đoán thẳng:
1) Cả đời nhiều cô độc, không có người thân không có chỗ dựa;2) Có một anh em trai;
3) Khắc cha mẹ;
4) Không nhận tổ nghiệp, khó có tổ nghiệp hoặc khó được tổ nghiệp;
5) Về già không có bạn, cô độc, cả đời bản thân lao khổ, cũng khó có thành tựu. Nhưng do ở can giờ
thấu Giáp mộc, nếu người này sinh ở mùa xuân hoặc mùa hạ, ở sau khi thành gia lập nghiệp, mới có
phú quý vinh xương (Giáp Ất xuân hạ tự lập xương).
Bên trên bất luận vượng suy có thể đoán thẳng, không phí sức, chuẩn xác.
Nếu tổ hợp can và chi lấy trụ giờ nạp âm lại tiến vào một bước đoán thì càng chuẩn xác, cũng không
cần một chút xíu suy nghĩ. Ba trụ năm tháng ngày đều không biết chỉ có biết giờ sinh ra, thì có thể đoán
không hơn nửa giờ, hơn nữa can chi lại có thuật phong thủy, như Giáp mộc là cây đại thụ, trụ cột điện,
cột nhà, (Giáp mộc được thủy sinh vượng là cây đại thụ, nếu Giáp mộc nhược, không có cường căn, là
cây cột điện, cột nhà).
Người sinh giờ Giáp Thìn, nếu trong trụ có thủy sinh mộc, bạn có thể đoán thẳng: Giờ sinh ra ở bên trái
nhà có cây đại thụ (trụ giờ là bên trái, Giáp mộc là cây đại thụ, Ất mộc là cây nhỏ) mà khoảng cách cây
khoảng cách nước là không xa, cũng chính là bên trái phía trước nhà có vũng nước, giếng nước, hồ
chưa nước (Thìn là thủy khố) …, là thập phần chuẩn xác.
Bên trên là xem từ trên trụ giờ, như vậy, xem từ trên trụ năm, trụ tháng, trụ ngày đạo lý đều là như
nhau, bản thân hiểu đi đoán, nhưng phải biết rằng, mỗi trụ là đại biểu cung vị cùng lục thân, có thể suy
đoán tình huống lục thân, chi năm lại là phong thủy tổ thượng, thông qua tổ hợp can chi cũng có thể
xem tình huống phong thủy của tổ thượng.
Tiết thứ 2, Phép trực đoán thiên can địa chi
Ở trong Tiết 1 chúng ta nói tượng tin tức can chi trụ giờ cùng pháp trực đoán, tiết này chúng ta 8 chữ
thiên can địa chi tứ trụ, xem có tượng tin tức gì.
Một, Ca quyết tin tức biểu tượng thiên can:
Giáp Mộc thiên thượng quý,
Ất mộc nhiều nham hiểm.
Bính hỏa gặp nhiều hỏa,
Mẹ sinh ở trong mất.
Ba Đinh nhiều ác tật,
Anh em cũng tự thương.
Mậu nhiều xa tổ nghiệp,
Ra ngoài xa quê hương.
Kỷ nhiều xa cha mẹ,
Anh em người một phương.
Canh nhiều là tài năng,
Điền trang đến vạn dặm.
Ba Tân số thọ dài,
Ba Nhâm phú không lâu.Quý nhiều tất dâm xướng,
Hợi nhiều hỏa thượng phòng.
Hai, Ca quyết biểu tượng tin tức địa chi:
Ba Tý trùng hôn sự,
Sửu nhiều tứ phu thê.
Dần nhiều thủ cô độc,
Mão nhiều nhiều hung ác.
Tị nhiều gặp hình hại,
Ba Thìn nhiều đấu tụng.
Ngọ nhiều khắc phu thê,
Mùi nhiều thủ phòng không.
Ba Thân người không đủ,
Dậu nhiều độc cư phòng.
Tuất nhiều hiện nhiều chuyện,
Ba Hợi cô linh linh.
Bên trên can là một tầng ý tứ, chi lại là một tầng ý tứ, chỉ cần bạn nắm chắc hai tầng ý tứ này ghi nhớ
vững vàng, vừa nhìn tứ trụ, thì có thể đoán thẳng tứ trụ.
Ba, Can chi tứ trụ xem hoàn cảnh xung quanh tổ phần khi sinh ra.
Thiên can, Địa chi đại biểu vật tượng bày ra như sau:
① Thiên can:
Giáp là cây to,
Ất là hoa cỏ.
Bính là Thái Dương,
Đinh là đèn đuốc.
Mậu là bình địa,
Kỷ là núi sông.
Canh là kim thuộc hình lớn,
Tân là công ty nhỏ.
Nhâm là giang hà,
Quý là đại hải.
Canh là đại lộ,
Tân lại là núi cao.
② Địa chi:
Tý là vật hàn sinh Nhất Dương, thuộc thủy.
Sửu là kim khố, cũng là tài khố, là mộ cha.
Dần là cây lớn mùa Hạ, xanh khỏe, sinh thẳng.
Mão là cành nhỏ, có thể uốn có thể duỗi.Thìn là thủy khố, lại là hang rắn.
Tị là hỏa mùa hè, chủ mau miệng, là vật có thể phát ra âm thanh thật mạnh.
Mùi là mộc mộ, mộc khố, tính cách bất định.
Thân là dương kim, giống tượng Canh kim.
Dậu là kim châm, nữ công, tửu điếm, tiệm trà, là công cụ nhà nông.
Tuất là hỏa khố, trạm xăng dầu, chỗ biến điện, loại khí biến áp.
Hợi là nước biển, là ruộng nước.
Hiện tại chúng ta đã biết tượng can chi, chúng ta có thể suy đoán ra rất nhiều tin tức, vẫn lấy ví dụ thứ
nhất để suy đoán tiếp: Cũng lấy giờ Giáp Thìn, một năm tháng ngày nào đó.
1) Lại có thể đoán người này ”Thiên thượng quý” (Giáp Ất thiên thượng quý), là ý tứ gì? Là nói, người
này ở cơ quan, hoặc ở bên ngoài (thiên can là bên ngoài, ý là của công), làm việc đặc biệt rộng lượng
thoải mái, không hẹp hòi, ý nguyện đóng góp. Nếu là Ất mộc, đa số là tư lợi riêng tư, phàm là luôn nghĩ
đến bản thân, mà còn là người nhiều nham hiểm, phải xem tổ hợp can chi.
2) Thìn là thích tranh cải, cho nên lại có thể đoán thẳng, tâm tính người này thích đấu đá, không đè nén
lửa, hoặc tính khí không tốt, thích tranh cải, dễ bị kiện tụng, tranh giành khẩu thiệt.
3) Giáp tọa Thìn là đất thấp thổ, cây đại thụ có nước, đất nuôi dưỡng. Quý thì quý ở thấp thổ có thể bồi
dưỡng mộc, mà có thể sinh trưởng. Bên ngoài được người khen tặng. Do ở can khắc chi, cây bị
thương, không hợp ở trong nhà, có tranh giành, có chuyện làm tổn thương hòa khí.
4) Nhà ở người này phía trước bên trái có vũng nước hoặc là ao nước, loại thủy khố.
5) Ở cự ly tổ phần xa 10 m bên trong có Xà tiên, hoặc Mãng xà tiên, ở năm Dậu tháng Dậu nhất định
có thể hiện thân ở xung quanh mộ phần. (Thìn là Rồng, là Rắn tiên, Thìn lại là hang rắn) Năm Dậu hiện
thân, là Thìn Dậu hợp, bởi vì hợp mà động, bởi vì hợp mà xuất hiện.
6) Còn có thể đoán tiếp, nạp âm, tầng sâu thì nhiều hơn, như: Giáp Thìn là Phật Dăng hỏa. Thì có thể
đoán người này có đức của Phật Đăng hỏa. Thiêu đốt bản thân, chiếu sáng người khác, người khác
dùng nó thì dễ, còn nó dùng người khác thì khó. Bên trên chỉ cần nắm chắc thành thục, giỏi về suy nghĩ
tìm tòi, liên tưởng, sẽ suy ra rất nhiều tượng, có thể vượt qua rất nhiều lần người tầm thường.
7) Đây chỉ là đoán một bộ phận nhỏ, chỉ có Giáp Thìn, vậy bạn có thể suy ra lý giải: Giáp Dần, Giáp
Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất …, còn có Bính Thìn, Mậu Thìn …, tổ hợp lại thành nội dung dạng nào,
hoàn cảnh loại nào, nhân tính loại nào, tượng nào cũng đều có thể trực tiếp xem ra từ trong tổ hợp can
chi.
8) Vậy Giáp Thìn, Giáp Dần cũng đều là ở trên giờ sinh, như vậy ở trên ngày, trên tháng, trên năm thì
nên đọc đoán như thế nào, tư duy …, cầm đoán ra như thế nào, còn có ở tương hỗ lẫn nhau giữa tổ
hợp năm tháng ngày giờ trong tứ trụ, thì làm sao đoán thẳng được?
Bốn, Phép phân biệt trực đoán năm tháng ngày giờ:
- Năm, đại biểu tổ thượng, cha mẹ, chi năm là phong thủy tổ thượng, đây là chỉ lục thân, năm lại là đại
biểu đầu, mặt. - Tháng, đại biểu cung vợ chồng, là môn hộ, cung cha mẹ, anh em, đại biểu bộ vị phần ngực của thân
thể. - Ngày, đại biểu bản thân, chi ngày là thê cung, ngày lại đại biểu vị trí phần bụng.
- Giờ, đại biểu con cái, thế hệ sau, lại đại biểu vị trí bên dưới phần bụng.
Như vậy, có những tượng cơ bản này, căn cứ đại biểu cung vị hoặc bộ vị thân thể con người, thì có thể
đoán thẳng ra rất nhiều sự việc, đơn giản, rõ ràng, chuẩn xác. VD: Trụ ngày là Nhâm Tý, Giáp Dần,
Bính Ngọ, là can chi nhất khí … , có thể đoán thẳng người này khắc vợ, định chủ hôn nhân bất thuận,
chuẩn xác không sai, bởi vì chi ngày là cung vợ, đối với nam nhân mà nói, Tài là vợ, chỉ có chi ngày tọa
Tài, là Thê Tài chính vị, hiện tại chi ngày vốn có ứng tọa Tài vị, nhưng thê cung đều tọa Tỉ Kiếp, Tỉ Kiếp
chính là khắc vợ, như vậy thì làm sao hôn nhân có thể tốt được, lấy chỗ này mà suy ra nếu là nam
ẳmệnh, ngày tọa Tỉ Kiếp, tất chủ khắc vợ, hôn nhân bất thuận, bất luận hỉ kỵ, có thể đoán thẳng không
sai. Đồng lý, tương ứng trên cung vị có tương ứng kỵ thần (khắc tinh) lục thân tồn tại, như vậy cung vị
lục thân này, tất có bất an, tượng không đầy đủ, vậy thì là họa. VD: Năm là vị trí cung cha mẹ, Thiên Tài
là cha, Chính Ấn là mẹ, nếu trụ năm tọa Tỉ Kiếp hoặc là Tài tinh, Tỉ Kiếp tất sẽ khắc Tài, Tài khắc Ấn,
cho nên tất chủ cha mẹ bất lợi, là có hình khắc.
Bên trên có những đạo lý như vậy, trực quan, đơn giản, thực dụng, chỉ là không nói rõ, giá trị liên
thành, một khi nói rõ, đơn giản không đến ba đồng tiền, còn có lúc một vài đơn trụ ở vị trí năm tháng
ngày giờ khác nhau chỗ lộ ra tượng khác nhau, ví dụ: Giáp Thìn ở trụ năm, đầu bộ bị thương, bất lợi
cha mẹ, ở trụ tháng, anh em chị em có tin tức chết yểu, ở trụ ngày, hôn nhân bất thuận, bao tử hoặc da
dẻ có mắc bệnh, ở trụ giờ, chân cẳng bị thương, hoặc con cái có tổn thương. Lúc thủy vượng, mộc
vượng, Thìn thổ tất bị khắc, chính là ứng kỳ.
Lại VD như: Ất Mùi. - Ất Mùi ở trụ năm, thân thể cha mẹ kém, đoản thọ.
- Ất Mùi ở trụ tháng, anh em chị em có tượng chết yểu.
- Ất Mùi ở trụ ngày, bản thân nhiều lo buồn ít vui.
- Ất Mùi ở trụ giờ, con cái có tổn thương.
Còn có Đinh Hợi, Mậu Tý, Bính Tuất, …, Đinh cùng Nhâm thủy ở trong Hợi tương hợp, Đinh hỏa cùng
Nhâm Quan tương hợp; Mậu Tý, Mậu cùng Quý thủy ở trong Tý tương hợp, Mậu cùng Tài Quý hợp;
Bính Tuất, Bính cùng Tân kim Tài ở trong Tuất tương hợp, tương hợp là hợp tốt, thiên can cùng tọa chi
tàng can tương hợp, nếu nói là trụ ngày, định chủ tình cảm vợ chồng tốt, nếu nói ở trụ khác, e ằng có
ngoại tình, loại can có địa chi tàng can tương hợp thì cho thấy những tin tức ẩn tàng này. Sau khi hiểu
những lý lẽ này, bạn lại suy ra tiếp tổ hợp can chi khác, thì sẽ suy ra rất nhiều tượng, không dùng ở ví
dụ thứ nhất này. Sau khi truyền cho bạn lý lẽ này, bạn phải chính mình phán đoán, không thể giống một
dạng ngu ngốc, sư phụ nói một cái, ăn một cái. Chỗ nói sư phụ nhận vào cửa, tu hành là ở mỗi người,
chính là làm cho bản thân bạn động não.
Tiết 4, Phép trực đoán liên hợp trụ
1, Xem ngũ hành sinh khắc
Như: (Càn tạo) Đinh Sửu, Quý Mão, Giáp Tý, Kỷ Tị.
① Xem tứ trụ bản thân mình sinh khắc:
VD: Trụ ngày Giáp Tý, can chi tương sinh, vợ chồng tình cảm tốt, Giáp mộc sinh Đinh hỏa, nhật can
sinh can năm, can năm là cha, thuyết minh cha có thể được nó hiếu kính, Giáp mộc được can tháng
Quý thủy sinh, thì là được nhiều phương diện anh em chị em, bạn bè cùng cha mẹ quan tâm thương
yêu hoặc là trợ giúp, quan hệ lục thân hòa hợp, can tháng lại là lập thiên thời, là được thiên thời, tất có
công việc rất tốt.
② Xem tứ trụ bản thân mình hình khắc:
Theo VD trên, Tý hình Mão, là hình vô lễ, Mão hình Tý cũng giống vậy, thuyết minh là cùng chế ước lẫn
nhau mà hình, có thể đoán lúc trung niên có hình thương với nhau, Mão là Dương Nhận, là Kiếp tài, Tý
thủy là Ấn, là mẹ, có thể đoán: ở phương diện trung niên có hôn nhân, vợ, mẹ có họa. Bởi vì trụ tháng
và trụ ngày là tương hình, đại biểu đoán khoảng tuổi từ 17–48 tuổi, dẫn đến là thời kỳ trung niên.
③ Xem tứ trụ bản thân tương hại:
Hại thì là ngũ quỷ, ngũ quỷ thì là âm khí làm quái, hại đa số có thể đoán mộ phần tất có chuyện, chỗ ở
ngũ quỷ thì có thể nhập thẳng vào nhà, mà khiến cho gia đình bất hòa, trăm sự là bất thuận, khởi 3 rơi
3, giấc ngũ không tốt, nhiều ác mộng giật mình tỉnh giấc, chỗ ở âm dương không hợp, địa phương nào
không hợp, phải xem cụ thể ở trên trụ nào hoặc người nào cùng người nào hại nhau để luận. VD: ngày
ẤẤt Mão giờ Canh Thìn, có thể đoán: Mão Thìn tương hại, hướng trước nhà ở hoặc là bên trái bất lợi, ở
phòng lầu, bên trái có thang gác, hoặc người cầm đầu ở trong nhà …, phòng lầu thì là mặt sau hoặc
phía bắc có cầu tiêu hố xí hoặc là cái ao, mặt sau phòng lầu tất có vật âm xâm hại, hoặc có vật bắn
thẳng tới, mũi nhọn, góc cạnh, bắn lệch về hướng trái …, (bởi vì Canh là kim khắc nhật chủ là Quỷ Sát,
can giờ là phía sau bên trái, cũng là phía trái đằng sau nhà); Tra: ở các loại sách đều rất ít nói đến hoặc
căn bản là không đàm luận địa chi tương hại, một là, thông thường người làm sách không có chân
truyền, hai là, người viết sách sẽ chỉ âm dương hoặc sẽ chỉ có tứ trụ hoặc hiểu đạo không sâu, dù có
chân truyền cũng không rõ lý. Ba là, nói về nhà ở, thì tất nhiên phải luận cùng quỷ thần, chuyện quỷ
thần, khó mà nắm chắc, luận không tốt hoặc nghiên cứu không thỏa đáng, quỷ thần thì phải tìm mà
luận, nghiên cứu phiền phức. Ở đây luận cùng, chính là phải giao cho các bạn mà chỗ người khác
không có, hoặc là chỗ người khác không biết, sau đó các bạn, mới có thể cao hơn người một bậc. Mới
có thể đứng ở đất không thất bại. Đây là tôn chỉ của bản điển.
Bất luận tứ trụ có mộ khố hay là có tương hại hoặc là ngày lang tịch đại bại, ngày âm sai dương thác
…, đều là ở trên mộ phần có vấn đề, đều là quỷ thần làm nhốn nháo quá hung, có phép giải hoặc là
phương pháp xu cát tị hung:
⑴ Phép phóng sinh:
Ở lúc chỗ bạn phóng sinh động vật khắc ở trên thân tên của bạn, tốt nhất là nên phóng sinh con Rùa.
⑵ Phép phù chú:
Chỗ nói phép dùng phù chú, chỗ này là phương pháp lấy quỷ trị quỷ, lấy thần trị thần, phép này là chỗ
phương pháp làm được khi trong trụ có Thái Cực quý nhân, không phải người thường là có được, họa
không tốt, dùng không tốt, tai họa lại dễ rơi xuống trên đầu bản thân, đối với Manh nhân mà nói, phép
này có thể chỉ điểm người khác làm thay.
⑶ Phép tiễn đưa:
Đây là phương pháp giải quyết ở bà, đại tiên, kiếm làm động vật, dùng hương, giấy, từ trong nhà đưa
tiễn đi ra, cũng có thể giải quyết vấn đề.
⑷ Phép phương vị:
Căn cứ bát tự ở năm nào, tháng nào, không nên đi đến phương vị đó, đi thì có hung, báo cho nhật chủ
biết, tránh đi đến hướng hung có thể giải tai họa.
⑸ Phép âm dương:
Chính là điều chỉnh âm dương, từ trong cục từ trên căn bản giải quyết vấn đề, như trước mắt xem từ
trên tứ trụ có Mậu Dần, hoặc Kỷ Mão có trên trụ tháng, thì có thể đoán thẳng: Mệnh tạo này trong chị
em nam nữ tất có hôn nhân, hoặc là não có bệnh, nếu không thì có nửa đường mà chết, nguyên nhân
chủ yếu chính là trên mộ phần có vấn đề, trên mộ phần nhất định ở trong vòng 50 m có kênh rạch,
hướng tây bắc phạm Phong Sát, đây thì cần phải dùng ấn phù đè ở trên mộ phần hoặc là lấp bằng đi
kênh rạch, sau đó bỏ mặt hướng tây bắc phương Phong Sát (xây tường chắn cao) mới có thể không
xuất hiện ở dưới mấy đời, cũng khiến cho người giảm bớt xuất hiện, giữ được một là tốt rồi.
Chương 02, Bản chất cầm tinh
Vạn Niên lịch là bảo pháp của nước chúng ta dự trắc cũng không thoát ly ra khỏi cả đời, cho dù manh
nhân đều sẽ có thể “Đuổi theo nghìn năm” ly khai ra khỏi Vạn Niên lịch, không phải là bọn họ không
dùng đến can chi trong Vạn Niên lịch, theo nghĩa rộng mà nói, ai cũng không thể thoát ly ra khỏi Vạn
Niên lịch.
Vạn Niên lịch, trên đời chỉ có một bản, là phép của đạo giáo tổ tiên đạo Thái Ất của nước ta, xem trời
đất, trải qua hoạt động tính toán rất nghiêm ngặt. Đắc đạo, chân nhân là Sát trường lấy tuệ nhãn và
siêu trí mà có được quy luật vận hóa (trường âm dương), Sát không phải là khí, không phải là khí mà
chúng ta hít thở, mà là cấu thành quỷ thần, khí âm dương, là ông trời vô hình, vô tượng, nhỏ thì linh,
lớn thì vô cùng vô tận, chính là cấu thành nguyên thể vạn sự vạn vật, cho nên có xưng là nguyên
(nguyên) khí, Vạn Niên lịch chủ yếu là ghi lại quy luật vận hóa trường khí của trời đất. Chúng ta phê tứtrụ chính là thể tổng hợp phê con người, con người là phụ thuộc vào trường lực của trời đất tồn tại trên
địa cầu, khí khác nhau thì sản sinh khí và vật khác nhau. Như: Tý Chuột, Sửu Trâu, Dần Hổ, … 12 cầm
tinh tại sao con Mèo không có xếp hạng, Ngọc Đế nói ở lúc sắp xếp thì con Mèo ngũ, để cho con Chuột
đi thay thế cho mình, tất cả đều là lời nói vô căn cứ, không phải đạo gia chân truyền, thực ra Tý Chuột
là giờ Tý nửa đêm loại này thì Sát trường (trường âm dương) vô khí, không âm thanh, không ánh sáng,
âm dương cấu thành tượng hình thể, chính là tượng con Chuột — Tập tính sinh hoạt sinh lý của Chuột,
đặc điểm tính khí con Chuột, giống như giờ Sửu loại này chỗ Sát trường ngũ hành vận hóa cấu thành
tượng hình thể, chính là toàn thể đặc điểm vận hóa của con Trâu, những cái khác như Dần Hổ Mão
Thỏ .. 12 thuộc tướng, không phải không có tượng trưng hình tượng vật thể đại biểu được thời khắc tổ
hợp Sát trường này, bản tính, đây là chân lý.
Ví dụ như, chúng ta ăn thịt heo, ăn quá nhiều thì có thể bị đóng băng ở trong bụng, còn ăn thịt dê, ngựa
quá nhiều thì không ngại, loại nước canh dê là vật dạ dày trong bụng. Đây chính là vạch ra rõ ở chỗ âm
dương chí lý, chỗ vạch ra rõ chỗ bản chất 12 loài cầm tinh, Hợi Heo, Hợi là thủy, là khí trường âm tính,
Heo là sinh vật sống thuộc khí trường âm tính, âm khí nặng, con người ăn nhiều tất dẫn đến âm khí gia
tăng, làm tổn thương tỳ vị, đồng lý những cầm tinh khác đều giống như lý này, đây chính là căn cứ
thuyết đạo, một khi nói thuận ra như nước chảy, cứ vậy mà suy. Nếu như biết được đạo lý sát trường
(âm dương) bên trên, tức là thực chất của cầm tinh, vậy bạn có thể thành công. Nghĩ đến lấy Dê bởi vì
sao mà đại đa số là mệnh bạc, mệnh không tốt, là bởi vì Dê ở trong động vật là loài nhu nhược nhất,
tục ngữ nói, người thành thực phải giống như con cừu, ở trong giới tự nhiên pháp tắc sinh tồn là cá lớn
nuốt cá bé, cho nên Dê là loài vật thành thực nhất, thì dễ bị khi nhất, bị tùy ý cấu xé, ai cũng dám ăn
hiếp nó, khắc chế nó, tất nhiên là nhiều tai nhiều nạn, mệnh không tốt.
Thông qua cầm tinh, đặc tính con Dê, loại này quy luật vận hóa ngũ hành, có thể vạch ra, người thuộc
Dê hoặc là trong tứ trụ có chữ Mùi nhiều, thì có thể đoán thẳng: Người này Chó hoặc những động vật
khác cắn qua, còn có thể đoán tiếp một tầng, là người này hay bị người thuộc tuổi Chó hoặc thuộc Hổ
thương hại qua, thứ là bị những loại người cầm tinh này cắn qua – là khẩu thiệt, thực chất chính là kết
quả tác dụng của sát trường.
Biết đạo lý trường âm dương của vũ trụ, cũng biết thực chất của cầm tinh, thì bạn không khó lý giải
thuộc tượng là phù lệnh tốt nhất để giải tai nạn. Như một tứ trụ, mộc khí nhược mà thổ khí trọng, sau
lúc trung niên lão niên đau bệnh không lui, bệnh tỳ, vị, thận, gan mật trị liệu không thể ổn định, mua một
tượng bức họa ông Hổ tượng treo ở trên tường phòng ngũ, bảy ngày liền thấy hiệu quả ngay.
Tổng quan đoạn thuật trường âm dương ở trên tức là đạo lý âm dương sát, thì không khó lý giải cấu
thành quỷ thần chính là sát, tức là sát vật toàn bộ vũ trụ, cho nên lúc nói người thấy đến quỷ thì có thể
nhìn thấy quỷ mà lớn như đỉnh thiên lập địa, thỉnh thoảng nhỏ như đầu ngón tay, luật vận hóa của nó
chính là quy luật vận động âm dương ngũ hành. Quy luật vận hóacủa nó, chính là quy luật vận động Hà
Đồ Lạc Thư, đây thì phải xem nó là tầng lớp nào, dạng tổ hợp nào, dạng năng lượng nào, cùng đạo lý
cầm tinh là hoàn toàn giống nhau. Lại như, ở trong tác chiến quá khứ tại sao sắp xếp tốt Bát Quái trận,
là phá trận, tất cần phải vào cửa Sinh, ra bằng cửa Khai, nếu không thì không phá trận, ngoại trừ lực
lượng con người, quan trọng hơn là cơ chế nội bộ, chính là vật âm dương vận hóa, lấy vào cửa Sinh,
không ra từ cửa Khai, ra từ cửa khác, thì phải nghịch một vài quy luật vận động âm dương, nó phải
nhận sự trở ngại, tất nhiên là thất bại, học Kỳ Môn cũng là ứng với lý giải thấu ra một tầng, thậm chí
còn hơn cả một tầng.
Lý vận hóa âm dương ở trên có thể nói thẳng ra đến loại trình độ này, đã phá vỡ thiên cơ, đây chính là
tổng căn, nắm chắc tổng căn, mọi thứ huyền học liền có thể giải thích dễ dàng.
Chương 03, Điểm khiếu vận dụng tổng hợp Tuế Vận Mệnh cục bát tự
Hai chương trước chủ yếu chỉ ra biểu diện ở trong bát tự, tượng tin tức ẩn tàng ở bên trong, không sử
dụng phân tích ngũ hành vượng suy, thủ dụng thần, chương này là nội dung sâu sắc của hai chương
trước, là phải kết hợp tổ hợp mệnh cục, can chi ngũ hành vượng suy, tổng hợp luận mệnh, chỉ có thôngqua tổ hợp can chi, ngũ hành phân tích vượng suy, mới nói được dự trắc chân chính, mới có thể tính
toán dự trắc ở tầng cao, mới có thể điểm phá nhật chủ, ở trong hành vận ở trong lưu niên phát sinh sự
tình cụ thể, mới có thể đạt đến tầng lớp luận mệnh tường tận, do ở bản điển là loại nội dung tầng lớp
cao, đối với tri thức cơ sở, bản điển không đề cập đến nhiều. Nếu độc giả cảm giác có không đượ ăn
khớp, mời bạn xem lại bản điển mệnh lý tri thức cơ sở và tầng trung, nhất định sẽ hiểu ra, giống như
ngư đắc thủy.
Tiết 1: Điểm khiếu lực sinh khắc lớn nhỏ của cả ba Tuế Vận Mệnh cục.
Cổ nhân có nói: Thái Tuế như vua, đại vận như thần, mệnh cục giống như thần dân, bách tính, lúc này
là đã vạch trần ra quyền lực Tuế, Vận, Mệnh cục sinh khắc lớn hay nhỏ, chỉ vì rất nhiều người học
mệnh lý là như nghe bậy, không thêm lý giải, không động não đễ tham khảo. Nói trắng ra, chính là vua
thì có thể quản lý, sinh hợp thần và dân, có quyền lực chủ động thực thi sinh khắc chế hóa, còn thần và
dân chỉ có bị sinh khắc chế hóa, ứng với không thể phản kháng, phản kháng thì nói là xung khắc Thái
Tuế, chúng ta biết mệnh, vận xung khắc Thái Tuế nghiêm trọng, tất là có họa. Đây là phạm Thái Tuế,
phạm vua nỗi giận, thì thần dân đắc tội với Hoàng Đế, muốn tạo phản, tất là tạo ra trấn áp một con
đường chết, tất nhiên dẫn phát ra đến tai họa. Nhất là ở trong mệnh cục một chi vượng nào đó kiềm
chế vượng khí, tự không lường sức, xung phạm Thái Tuế, mà chi Thái Tuế đúng lúc là hỉ dụng thần của
Nhật chủ, thì hỉ mà không hỉ, đây chính là đạo lý tại sao lưu niên là hỉ dụng thần, nhật chủ trái lại là có
họa.
Bên trên là nói quan hệ Tuế cùng Mệnh vận, như vậy quan hệ đại vận cùng mệnh cục cùng lực sinh
khắc lớn nhỏ là như thế nào? Đại vận là thần, thần thì có thể quản chế dân, dân không được không
tuân theo, dân là không thể phản thần quản lý, cũng chính là nói, đại vận có thể đối với mệnh cục thi
hành sinh khắc chế hóa, có quyền chủ động sinh khắc, mệnh cục chỉ có quyền bị động sinh khắc. Là để
đạt mục đích càng sáng tỏ, đem quy luật ứng dụng Tuế, Vận, Mệnh cục cụ thể, tường thuật như sau:
⑴ Tuế (Can và chi Lưu niên): Có thể hợp ở can chi mệnh cục cùng đại vận, còn can chi đại vận lại
không hợp ở lưu niên, cho nên, Thái Tuế cùng Tuế quân cùng Đại vận hoặc Mệnh cục có một chữ can
chi nào đó lục hợp, tam hợp, tam hội, bán hợp, Thái Tuế có quyền lực như thường lệ đi sinh khắc củng
hợp cùng xung hại những can chi khác, đây chính là Thái Tuế như vua, có thể quản chế thần dân, đối
với tất cả thần dân thiên hạ, đều có thể hiện quyền lực sinh khắc. Sau khi bạn hiểu những lý lẽ này, thì
sẽ minh bạch, can chi lưu niên không có luận cùng mệnh cục, đại vận can chi hợp hóa nào, can hoặc
chi lưu niên này sẽ không thay đổi thuộc tính ngũ hành vốn có của nó, vì dụ như: Lưu niên Ất Hợi cùng
Canh ở trong mệnh cục hoặc ở trong đại vận tương hợp, Ất mộc Tuế quân là không thể thay đổi tính
chất mộc mà biến thành kim, trái lại, Ất mộc có thể hợp ở Canh kim, khiến cho Canh kim mất đi lực
sinh khắc đối với những can chi khác, can lưu niên Ất mộc đồng thời hợp ở trụ Canh kim, như thường
lệ là có thể đi hợp, xung, khắc những can chi khác.
Đồng lý, nếu trong nguyên cục tứ trụ có Hợi, Tý, không có Sửu, đang lúc chi lưu niên là Sửu xuất hiện,
cấu thành Hợi Tý Sửu tam hội cục, rất nhiều học dịch giả cho rằng, Hợi Tý Sửu tam hội cục cả 3 chữ
đều đủ, sẽ thành lập cục, định là thủy vượng. Thực ra là không phải vậy, không nên quên, Thái Tuế
năm này là Sửu thổ, là thổ quản sự, Thái Tuế là Hoàng Đế, sao có thể thuận theo mệnh cục thay đổi
bản thân bản tính là thổ biến thành thủy chứ? Năm Sửu thổ chính là Thổ Hoàng đế quản sự, chính là
thực hành chính sách thổ, thực hành chức trách của thổ, tất nhiên là năm có thổ khí vượng, thổ vượng
tất khắc thủy, cho nên, mặc dù là Hợi Tý Sửu thấu đủ 3 chi, nhưng mà năm này là thổ vượng, trái lại do
quan hệ hội nhau, khiến cho thổ cưỡng chế lực lượng thủy càng lớn, tam hội cục không những không
có thể hóa thành, mà ứng lấy thổ khắc thủy, thủy giảm lực mà luận, những tam hợp, bán hợp cục khác
thành công hay không, tăng lực, giảm lực, lý giống như vậy.
⑵ Can chi đại vận: Ngoại trừ nhận sự chế ước của Thái tuế, Tuế quân ra, nó có quyền chế ước các
can chi nguyên cục tứ trụ, mà các can chi nguyên cục là không chế ước can chi đại vận, cũng chính là
Thần có thể quản lý Dân, Dân không thể phản lại sự quản lý của Thần, cụ thể ứng dụng lý giống nhưThái tuế, nhưng quyền lực phải nhỏ hơn Thái Tuế.
⑶ Can chi nguyên mệnh cục: Là nhận sự chế ước của hai bên lưu niên, đại vận, chỉ có bổn phận phục
tùng, nếu không phục tùng, mệnh cục xuất hiện một ngũ hành nào đó quá vượng, không phục tùng
xung khắc Thái Tuế, trái lại cầm lấy vượng mà phản xung phản khắc Thái Tuế, tất nhiên sẽ dẫn khởi tai
họa.
VD: Trong tứ trụ, Thân, Dậu kim đặc biệt vượng, phùng lưu niên Dần, Mão mộc xuất hiện, kim ở trong
nguyên mệnh cục, sẽ liền cầm lấy vượng, tưởng rằng dựa vào thế lực bản thân lớn mạnh, có thể xung
bại Thái Tuế, nhưng không biết rằng, một chút mệnh cục nhỏ bé, sao có thể cùng đại khí mộc nắm lệnh
của vũ trụ mà nghịch phản, sao có thể được nghịch đại khí của vũ trụ, một thân thể, là tiểu khí trường
xung không bại được đại khí trường của ngũ hành năm này đang làm nhiệm vụ của thiên thể, nếu có
thể xung bại, sao không thể năm mộc biến thành năm kim, cho nên nói, học giả phải hiểu rõ những lý lẽ
này, bạn mới có thể đạt đến mệnh lý ở tầng cao, nếu không, vĩnh viễn chĩ là kẻ bình thường.
Tiết 2: Làm sao xem lưu niên phát sinh sự việc?
Làm sao từ trong tứ trụ, đại vận, lưu niên nhìn ra một lưu niên nào đó phát sinh sự việc gì, chỗ này là
một mấu chốt phê mệnh, phải đạt đến mệnh lý cấp cao, chỉ xem cát hung là xa vời không đủ, càng ứng
nhìn ra sự việc gì, ở đây đem kinh nghiệm lưu niên dẫn sự cho các bạn có duyên.
Chúng ta đã biết, thiên can chủ bên ngoài, chủ động, địa chi chủ tĩnh, chủ bên trong, cho nên thiên can
chủ phát sinh tượng sự việc bên ngoài, là chuyện phát sinh bề ngoài, mọi người đều có thể nhìn thấy,
cảm giác được sự việc, bởi vì thiên can chủ bên ngoài, ở ngoài chính là lộ rõ, người khác đều có thể
nhìn thấy. VD: Nếu thiên can Tài vượng, đắc tài, là tài lộ rõ ra, bạn phát tài, mọi người đều biết, ngườ
tốt nhìn thấy, người ác cũng nhìn thấy, vậy thì có người ác nhớ bạn có tài, vậy tài của bạn cũng không
dễ tích trữ lưu tồn lâu được, cũng chính là khó mà bảo vệ tài. Nếu tài tàng ở bên trong chi, ta có tài,
người khác sẽ không biết, ta dấu đi, thì tất nhiên sẽ không dễ dàng bị cướp (giảm tiêu phí).
Bên trên là lấy ví dụ về Tài, còn Quan Ấn, Thực Thương ở can ở chi đạo lý là như nhau, Quan thấu rõ,
là hỉ dụng, gọi là Quan hiển đạt, người khác đều biết, bởi vì nó lộ ra bên ngoài, nếu bãi quan, là như
nhau, người khác cũng đều biết.
Như vậy lưu niên làm sao xem phát sinh sự việc chứ? Cát hung xem như thế nào? Tường luận như
sau:
⑴ Tuế quân: (Can lưu niên) là chủ tượng bên ngoài của năm này, đại tượng có tượng thể hiện rõ ràng,
thông thường can lưu niên chỉ chủ sự tình năm này là sự tình gì, mà không chủ cát hung.
⑵ Thái tuế: (Chi lưu niên) Chủ năm này phát sinh cát hung của sự tình, cũng chủ tượng sự tình, bởi vì
Thái Tuế là chủ sự, thần chủ cát hung, năm này phát sinh cát hung sự tình, lấy chi lưu niên làm chủ mà
phán đoán, xem chi lưu niên là hỉ dụng thần, hay là kỵ thần, liền biết sự việc cát hung. Dưới đây đem
chỗ can lưu niên lâm mỗi loại thập thần chỗ chủ sự việc cụ thể trình bày như sau:
① Tuế quân lúc là Tỉ Kiếp là hỉ dụng, thì được bạn bè, đồng sự, anh em chị em giúp, là lúc kỵ thì sẽ vì
anh em bạn bè, đồng sự, đồng hương mà phát sinh phá tài, kiện tụng, khẩu thiệt, lấy có liên quan cùng
thân thể, còn có tượng khắc vợ, khắc cha.
② Tuế quân là Ấn tinh, thì sẽ phát sinh chỗ cùng Ấn tinh đại biểu ý nghĩa có liên quan phạm vi sự việc,
ví dụ: Học tập, công việc, đơn vị, danh dự, ngân phiếu, nhà ở, tật bệnh, tài vận.
③ Tuế quân là Tài tinh, thì sẽ phát sinh cùng vợ, cha, tài vận, thân thể (bệnh thương tai) công việc lấy
cùng phương diện sự việc hôn nhân, tình cảm.
④ Tuế quân là Quan Sát, thì khả năng phát sinh cùng cha, công việc, chức vụ, nghề nghiệp, danh dự,
kiện tụng, bệnh thương tai, các phương diện có chuyện quản việc của bạn.
⑤ Tuế quân là Thực Thương, thì phát sinh loại sự tình cùng thương bệnh tai, kiện tụng, tác phẩm phát
biểu, diễn thuyết, ngôn luận, diễn xuất, khiêu vũ, biểu diễn, đầu tư, kế hoạch.Bên trên là chỗ Tuế quân gặp chỗ tượng thập thần chủ sự, lúc ứng dụng cụ thể phải kết hợp thực tế,
kết hợp lẽ thường của xã hội, mới có thể vận dụng như thần. VD như: Một hài tử khoảng 10 tuổi gặp
lưu niên Tài tinh bị khắc, như vậy thì bạn không thể đoán là vợ có họa, cũng không thể đoán là phá tài,
có thể đoán thân thể có họa hoặc là cha có họa, đây là kết hợp đoán việc thực tế.
Tiết 3, Làm sao xem tầng lớp phú quý bần tiện con người
Nghiêm túc mà nói xem tầng lớp phú quý bần tiện con người quả khá là khó, nhưng mà sự tình cầu
trắc là chuyện muốn biết nhiều nhất, dự trắc chỉ có thể xem chuẩn tầng lớp phú quý bần tiện con
người, mới tính toán là đạt đến mục đích dự trắc chân chính. Nhưng tầng lớp phú quý bần tiện là
không nắm chắc quá tốt, cũng không có một chỉ tiêu giới hạn số lượng hoặc là tiêu chuẩn giới hạn, chỉ
có theo thời đại mà thay đổi, không ngừng biến thiên, vận dụng linh hoạt, tại sao nói như vậy chứ? Bởi
vì, xã hội là không ngừng phát triển, vật chất nhân loại, mứ độ cuộc sống văn hóa không ngừng mà đề
cao, từ giai đoạn duy trì cuộc sống tiến hóa đến giai đoạn cuộc sống tốt hơn, ví dụ như ở nước Mỹ,
mức độ cuộc sống của quân nhân rất cao, hầu như mọi người đều có sở hữu xe con, làm sao phân
phú quý bần tiện của bọn họ, đối với người Trung Quốc mà nói đều là phú quý, nhưng ở trong quốc nội
nước Mỹ mà luận, là khác biệt rất lớn, e rằng có toán một lượng xe con là hộ bần khốn, ch nên bình
đoán mệnh cục thứ tầng cao thấp, phải lấy địa phương, quốc gia đương thời, toàn thể xã hội, sức sinh
sản, mứ độ cuộc sống mà luận, người hiện đại so với người cổ đại, bần khốn cũng lấy so với giàu có
bần khốn trước thời xưa, chúng ta phải lấy phép biện chứng để luận phú quý bần tiện, mệnh thời xưa
lấy gạo xin cơm, hiện tại danh là cuộc sống khốn khó, đồ dùng chưa dồi dào, phải lấy thời đại tương
ứng, cuộc sống bình quân của quốc gia mới chuẩn để đo đếm, có lẽ, sau vài thập niên xã hội càng phát
đạt, tiêu chuẩn tầng lớp phú quý bần tiện lại thăng một cách, việc ày phải cần hai chữ ”Linh Hoạt”.
Ở đây tôi tập hợp phương pháp luận bần tiện:
1) Quy tắc xem thô:
①Tiêu chí mệnh phú quý:
Hỉ dụng thần ở mệnh cục có lực, ở trong mệnh cục không bị hợp, khắc cản trở.
②Tiêu chí mệnh bần tiện:
Hỉ dụng giao chiến, trong mệnh cục bất luận thủ dụng thần nào đều không đắc lực, thủ dụng thần
không tốt.
2) Phép tắc xem kĩ:
1, Bát tự nhập cách thuần chính, lúc hành trung niên vận là hỉ, vận dụng thần là tầng lớp phú quý khá
cao.
2, Trong lúc bát tự có chân điều hậu, đều có một mặt phú quý.
3, Ngũ hành lưu thông có tình, tuyến đường lưu thông quá dài hình thành lưu thông tuần hoàn, đại lưu
thông (toàn cục lưu thông là đại phú đại quý), lưu thông cục là lưu thông nhỏ, chủ có thể được tiểu phú
quý.
4, Bát tự Tài, Quan, Ấn hữu tình, vượng tướng hoặc có khí. Có đủ để lưu thông cùng với nhật chủ, bất
luận thấu hay không thấu đều có một mặt phú quý.
Nói tóm lại, một mệnh cục muốn đại phú đại quý tất cần phải đồng thời có đủ ba phương diện cân
bằng ở dưới, thiếu mỗi một cân bằng thì không đạt chỉ tiêu sẽ giảm quý, cả ba đều là không cân bằng
là mệnh bần tiện. - Một là, ngũ hành cân bằng, là yêu cầu ngũ hành lưu thông có tình, hình thành một loại cân bằng.
- Hai là, âm dương cân bằng, nhớ tỷ lệ can chi âm dương tứ trụ cân bằng, ngũ hành tứ trụ thuần âm,
thuần dương ch dù cân bằng cũng tương ứng giảm quý, giảm phú. - Ba là, hàn noãn thấp táo cân bằng, tức là ngũ hành người sinh mùa đông, phải có hỏa điều hậu,người sinh mùa hạ phải có thủy điều hậu. Ngoại trừ lấy cách, mệnh cục thấp khí quá năng hoặc là táo
khí quá năng đều phải giảm quý, giảm phú.
Bên trên là trình bày đối với phú quý bần tiện, dưới đây là luận tiêu chí bần tiện:
1, Nhập cách không thuần, hoặc muốn nhập mà không nhập, khó mà lý thời thanh trung niên vận lại
hành vận phá nghịch, tất chủ bần tiện.
2, Bát tự hàn noãn táo thấp mất cân bằng nghiêm trọng, mệnh bần cùng.
3, Ngũ hành không lưu thông, xung loạn khắc loạn dụng thần suy nhược hoặc mệnh cục không có
dụng thần, đại vận lại mất cân bằng vận hỉ dụng thần là loại bần tiện thấy nhất.
4, Bát tự Tài, Quan, Ấn vô khí, hoặc lúc có khí lại quá vượng, là kỵ thần, cùng nhật chủ là vô tình, mệnh
bần khốn.
3) Luận thuật phú quý bần tiện ở bên trên có thể nhìn ra: Một bát tự phú quý bần tiện cũng không
phải đều là hoàn toàn xem Tài, Quan, Ấn, mà là coi trọng ở tổ hợp mệnh cục lưu thông, coi trọng ở cân
bằng, chỉ cần đạt đến một loại cân bằng thì có thể nói mệnh phú quý. Bạn biết những thứ này thì không
khó lý giải, tại sao có tứ trụ không có Quan, không có Tài lại không có Ấn, nhưng có phú quý, tại sao có
tứ trụ, đều có đủ Tài, Quan, Ấn nhưng lại bần yểu. Nhưng có một điểm, phàm Tài Quan Ấn được sử
dụng cùng bát tự phần lớn là phú quý, mấ chốt là ở có tình hay vô tình, hữu dụng hay vô dụng.
Còn có một loại phương pháp tương đối trực quan xem phú quý bần tiện, chính là xem cách cục, xem
thiên can tứ trụ thập thần thấu thanh cấu thành loại cách cục nào để luận, phàm bát tự thành cách
thành cục cũng chủ phú quý. Thường thấy như sau:
1, Thương quan bội Ấn:
Thiên can tứ trụ thấy Thương quan và Ấn tinh, Ấn có thể chế Thương quan. Chủ nhân có tài hoa, có
quý khí, tục nói: “Thương quan bội Ấn, quý không thể nói, cho nên cách cục thiên can Thương quan bội
Ấn thông thường là chủ quý, chủ danh dự, danh khí.
2, Quan (Sát) Ấn tương sinh.
Lại xem Quan (Sát) Ấn lưỡng thấu, chủ quyền uy chủ quý.
3, Thực Thương sinh Tài:
Thiên can thấy Thực Thương và Tài tương sinh, Thực Thương cùng Tài tương sinh, Thực Thương đến
sinh Tài, phú quý từ trời ban, loại cách cục này chủ phú quý.
4, Thương quan kiến Quan:
Thiên can thấu Chính Quan cùng Thương quan, chủ nhiều quan tai, tại bệnh thương.
Thương Quan kiến Quan, vi họa bách đoan, chủ tiện.
5, Kiêu Ấn đoạt Thực:
Chỉ can thấu, chủ bần khốn, phá bại.
6, Thân nhược Tài trọng:
Chủ bần tiện, khó mà phú quý.
7, Thân thái cường mà Tài nhược:
Chủ gian khổ lao lục, thể lực kiếm tiền gian khổ , chủ bần tiện.
8, Quan Sát chế thân:
Chủ bần khốn nhiều họa.
9, Quan Sát chế thân”
Nhật chủ nhược là Quan Sát hỗn tạp, (nhật chủ vượng không kỵ Quan Sát hỗn tạp), Quan Sát hỗn tạp
chủ tiện, nhất là nữ nhân, chủ mệnh gian khổ lao tâm.
10, Thân thái nhược mà Ấn vượng:
Nhật chủ không nhận sinh, chủ nô, mệnh nô lệ bần tiện.4
, Phép định vị tầng lớp phú quý bần tiện:
1) Phú quý:
Mệnh cục phù hợp ngũ hành cân bằng, âm dương cân bằng, hàn noãn thấp táo, cả ba phương diện
cân bằng, tầng lớp phú quý rất cao, là đại phúc đại quý. Nếu ba phương diện cân bằng chỉ có đủ 2 thì
mệnh trung phú trung quý, chỉ có một thì tiểu phú tiểu quý.
2) Bát tự hỉ dụng thần ở can năm chỉ cần có khí, sẽ gia tăng tầng lớp phú quý. Nguyên cục nếu là trung
đẳng phú quý, hỉ thần ở can năm có khí thì đạt mức độ tiểu khang, từ bần tiện có thể cơm no áo ấm.
3) Bát tự không có hỉ dụng thần, hành vận trung niên lão niên lại không có hỉ dụng, là rất bần tiện, tầng
lớp thấp nhất.
4) Bát tự có hỉ dụng nhưng vô lực, không hành vận tốt, thuộc mệnh bần tiện thông thường.
Chúng ta biết làm sao đem định tầng lớp phú quý, như vậy là lấy phú làm chủ hay là lấy quý làm chủ
chứ?
Những việc này nhiều học giả khó mà lý rõ, không phân chỗ rõ ràng. Mặc dù thông thường phú quý là
phân ra rõ phú thì có quý, quý thì có phú, nhưng cũng có phân ra chủ thứ, làm sao phân ra chứ? - Thông thường: Thực thần, Thương quan, Tài tinh lúc chiếm lực chủ đạo, lấy phú để định cách.
- Quan, Sát, Ấn tinh lúc chiếm lực chủ đạo, lấy quý để định cách.
Ở trên là còn nữa chỗ bày ra 10 điều can thấu để luận định cách cục.
Nắm chắc những việc này, bạn hoàn toàn là người luận mệnh định quý bần. E rằng giống bản điển hệ
thống như vậy, cẩn thận sách luận định thứ tầng phú quý không có căn bản, cho dù có một nửa điều,
cũng là nghe tin vỉa hè, không toàn diện, làm cho người ta khó mà nắm chắc lĩnh ngộ chân chính.
Chương 04, Sáu điều phép tắc xem tứ trụ - Phàm Nam mệnh, can ngày âm lúc luận lục thân thì đều lấy can ngày dương .
- Phàm Nữ mệnh can ngày dương lúc luận lục thân thì đều lấy can ngày âm luận.
Trong đạo lý này chẳng cần nói rõ, nhưng đây là quyết khiếu, là những chỗ sách khác không có nói, là
bí mật ở trong bí mật.
△ Tiết 1, Tin tức cha mẹ cát hung:Can năm là Tỉ kiếp bất lợi cho cha, chi năm là Tài tinh bất lợi cho
mẹ, nếu lúc nhỏ hành vận Tỉ Kiếp, thân vượng, chủ cha mất sớm.
1) Trong trụ Chính, Thiên Ấn cùng thấu can, tất có mẹ đẻ hoặc mẹ nuôi, mẹ kế.
2) Chính Ấn thấu can, mà Thiên Tài tàng, là sinh lén.
3) Địa chi thấy 2 Sát là con nuôi, chi năm là Thân, Tý, Thìn còn 3 chi khác có 2 Tuất. Chi năm là Tị,
Dậu, Sửu còn 3 chi khác có 2 Mùi. Chi năm là Dần, Ngọ, Tuất còn 3 chi khác có 2 Thìn. Chi năm là Hợi,
Mão, Mùi còn lại 3 chi khác có 2 Sửu. Bên trên đều là địa chi thấy đến 2 Sát.
4) Can năm là Nhâm, can giờ là Ất hoặc can năm là Ất, can giờ là Nhâm, chủ mẹ của bản thân là vợ lẻ.
5) Tứ trụ thuần dương, Ấn suy, mẹ mất sớm. Can giờ khắc can năm, thiếu niên tang mẹ, can giờ cùng
can năm không khắc thì trung niên tang mẹ.
6) Tứ trụ thuần âm, Tài suy, cha chết sớm. Can giờ khắc can năm, thiếu niên tang cha, can giờ cùng
can năm không khắc thì trung niên tang cha.
7) Chi năm, tháng, ngày, giờ, Thai đều khắc can là mệnh sớm có tang cha mẹ.
8) Trong tứ trụ có 3 trụ nạp âm khắc Thai nạp âm, chủ cha mẹ sớm ra đi.
9) Can chi năm là Ấn tinh, là hỉ dụng thần, bản thân tất là dòng dõi nho giáo, cha mẹ tất có một người
có trình độ văn hóa cao.
10) Can năm là Thương quan, bất luận hỉ kỵ, đều chủ tổ nghiệp phiêu linh, thế hệ cha mẹ bần khốnnhiều hoạ.
11) Can chi năm lâm Tướng tinh có lực, mà còn lâm Phụ Mẫu tinh, tất chủ thế hệ cha mẹ có quyền uy,
hoặc tài năng, cha mẹ có phú quý danh vọng.
12) Can năm là Thiên Tài tọa Dịch Mã, mà Dịch Mã lại không bị hợp, chủ cha là người lập nghiệp
phương xa, cha là người xa rời quê quán.
13) Chi năm là Tuất, Hợi lại là Ấn tinh, chủ mẹ hoặc tổ thượng phần đa có tín ngưỡng tôn giáo, hoặc là
người có hiểu về ngũ thuật huyền học.
Tiết 2, Tin tức anh em chị em:
Số anh em chị em, trong tứ trụ có số lượng ước chừng, rất có chuẩn xác, có chênh lệch khá lớn, nhất
là xã hội hiện đại, kế hoạch hoá sinh đẻ, cho nên số anh em chị em có hạn chế nhất định, không sinh
đẻ tự nhiên, cho nên lại phí rất nhiều tinh lực đi tham khảo nghiên cứu số anh em chị em nhiều ít cùng
vấn đề thứ bậc, thực ra tính chất tác dụng tuỳ theo xã hội phát triển ngày càng mất đi tính tất yếu
nghiên cứu. Cho nên bản điển cũng không lấy số lượng anh em cùng thứ bậc làm trọng điểm mà lấy có
hay không có hiện tượng bần yểu bệnh tàn làm trọng điểm.
Tại sao có vài tiên sinh toán mệnh vừa nhìn bát tự, không sử dụng phân tích ngũ hành, không sử dụng
phép suy lưu niên, vừa nhìn liền nhìn ra bản thân trong số anh em chị em có hiện tượng người chết
yểu hoặc là bệnh tàn. Đây là tuyệt hoạt, xưa nay đều là vật chí bảo của manh nhân, không truyền ra
ngoài. Ngày nay ở đây, đem một vài quy luật có tin tức anh em chị em yểu vong giao cho các bạn, sau
khi các bạn đã biết cũng sẽ cần đến, đoán thẳng như thần, thực ra mệnh lý có một vài bí quyết không
nói giá trị nghìn vàng, vừa nói ra đơn giản nhưng không thể là giản đơn:
1) Trụ tháng, Thương quan vượng, nguyệt lệnh là Thương quan, là trên không nhận, dưới cũng không
nhận, chủ người này khắc anh em chị em, trên thân dưới thân anh em chị em tất có hiện tượng chết
yểu và chết sớm.
2) Bản khí địa chi là Quan Sát mà trong đó dư khí có tàng Tỉ Kiếp thì 10 có 8,9 anh em chị em có người
chết yểu, hiện tượng tối thiểu là có một người bệnh tàn, ngu đần, lao tù.
3) Can chi trụ tháng là Quan Sát, trụ tháng là cung Huynh Đệ, cho nên tất khắc anh em, nhưng lúc Tỉ
Kiếp vượng, có một phương diện anh em chị em có người làm quan, quản sự hoặc là phú.
4) Can chi trụ tháng là Giáp Thìn, Ất Mùi bị tiệt cước hơn phân nửa anh em có tổn thương, tối thiểu có
một người là hôn nhân bất thuận.
5) Người sinh ngày Giáp, trụ năm hoặc là trụ tháng thấy Giáp Thân hoặc Canh Thân, không có anh em
trai, có cũng ly tán. (Phùng Sát)
6) Người sinh ngày Ất. Trụ năm hoặc tháng thấy Ất Dậu hoặc Tân Dậu, không có anh em trai, có cũng
ly tán.
7) Người sinh ngày Bính, trụ năm hoặc tháng thấy Bính Tý hoặc Nhâm Tý, không có anh em trai, có
cũng ly tán.
8) Người sinh ngày Đinh, trụ năm hoặc tháng thấy Đinh Hợi hoặc Quý Hợi, không có anh em trai, có
cũng ly tán.
9) Người sinh ngày Mậu, trụ năm hoặc tháng thấy Mậu Dần hoặc Giáp Dần, không có anh em trai, có
cũng ly tán.
10) Người sinh ngày Kỷ, trụ năm hoặc tháng thấy Kỷ Mão hoặc Ất Mão, không có anh em trai, có cũng
ly tán.
11) Người sinh ngày Canh, trụ năm hoặc tháng thấy Canh Dần hoặc Bính Dần, không có anh em trai,
có cũng ly tán.
12) Người sinh ngày Tân, trụ năm hoặc tháng thấy Tân Mão hoặc Đinh Mão, không có anh em trai, có
cũng ly tán.
13) Người sinh ngày Nhâm, trụ năm hoặc tháng thấy Quý Mùi hoặc Bính Ngọ, không có anh em trai, cócũng ly tán.
14) Người sinh ngày Quý, trụ năm hoặc tháng thấy Bính Ngọ, Quý Mùi không có anh em trai, có cũng ly
tán.
15) Phàm hai trụ tháng, ngày có can giống mà chi xung, không có anh em trai.
16) Đinh Sửu, Đinh Mùi thấy ở ngày giờ, không có anh em trai, có cũng đề phòng thương tàn.
17) Người sinh ngày Mậu Dần, Kỷ Mão tất khắc anh em chị em.
18) Thân nhược, can không có Tỉ Kiếp, địa chi tàng Tỉ Kiếp bị hình xung khắc mất thì không có anh em
trai nếu có cũng bị tổn hại.
19) Can năm là Sát thì bản thân không phải con trưởng. (Chú thích: Thứ bậc lấy can ngày tọa chi mà
định, tọa trường sinh là trưởng, can dương suy thuận. Can âm suy nghịch. Như Nhâm Thân là trưởng,
Nhâm Tuất là lão nhị. Nhâm Tý là lão tam. Giáp cùng trường sinh là Hợi không có phối hợp thì thuận
suy Giáp Tý là trưởng. )
20) Can tháng Là Sát bản thân không phải là con trưởng.
21) Chi tháng là Sát bản thân định là con trưởng, hoặc là con một nếu không thì anh em tất bị hình
thương.
22) Can năm là Tỉ Kiếp, bản thân không phải con trưởng.
23) Can năm Tỉ Kiếp bị hợp, trong anh em chị em tất có người gửi cho người khác nuôi dưỡng.
24) Chính Quan ở can tháng, bản thân không phải con trưởng.
25) Can năm là Chính Quan, là con trưởng hoặc là kế thừa gia nghiệp.
26) Trong trụ có Chính Quan, Chính Ấn, Chính Tài đều thấu can nhất định là con trưởng.
27) Can chi năm đều là Thiên Tài, lúc nhỏ đa số là con nuôi.
28) Nam mệnh có Thất Sát vượng, phùng Tỉ Kiếp có anh mà không có em trai.
29) Trong trụ có Tỉ kiên, Thiên Tài vượng, là con một.
30) Trong trụ có Thiên Quan, Thiên Ấn, Thiên Tài trùng điệp nhất định là con thứ.
Chỗ phán đoán anh em chị em này cùng thứ bậc của bản thân là phép chết ở trong 30 điều tập hợp
của nhiều chuyên gia lớn tuổi, khử ngụy tồn chân, chỗ tinh hoa nếu có thể nắm chắc hoàn toàn đoán
tình huống anh em chị em có đủ để sử dụng.
Tiết 3, Tin tức bát tự xem con cái:
Một) Tiêu chí tin tức khắc con cái.
1) Nữ mệnh, Trụ giờ tọa Kiêu, Ấn tất khắc con cái, đa số là lưu sản, khó sinh, con cái yểu vong.
2) Nữ mệnh nhật chủ vượng, chi giờ gặp Nhận hoặc Kiêu, lúc sinh con tất khó sinh, phải giải phẫu.
3) Ngày giờ tương hình, nữ mệnh khắc chồng khắc con.
4) Ngày giờ có Thìn Tuất tương xung, trung niên đến lão niên khắc con.
5) Thời thượng ( trụ giờ) tọa Kiêu, năm tháng thấu Tài, nữ nhân có con không chết cũng thương tàn.
6) Giờ mang Quan Phù, lúc sinh ra cha có khẩu thiệt kiện tụng.
7) Nữ mệnh gặp giờ Mộc dục, thai đầu khó nuôi.
8) Ngày, giờ tương xung, trung niên đến già sợ có tang con, tóc bạc tiễn đưa người tóc còn xanh.
9) Giờ mang Thương quan, nam mệnh khắc con.
10) Can giờ là Sát vượng mà không có chế, con cái bất hiếu đa số là phản nghịch.
11) Nam mệnh nhiều Thực Thương, con cái khó thành đạt.
12) Nữ mệnh nhiều Ấn Kiêu, con cái khó có phát triển mạnh.
Hai) Tin tức tiêu chí con cái thành đạt.
1) Nam mệnh, can giờ là Tài, Quan, mà Tài Quan có khí, hoặc là thiên vượng, con cái tất có đại tượngphú quý.
2) Nữ mệnh can giờ là Tài Thực, Thương quan, mà có khí hoặc là thiên vượng, tất chủ con cái có
thành đạt phú quý.
3) Nam mệnh lấy Quan Sát làm con cái, Sát là con trai, Quan là con gái. Nữ mệnh lấy Thực Thương
làm con cái, lấy Thương quan làm con trai, Thực thần làm con gái.
Nam mệnh không có Quan Sát có thể tham khảo xem Thực Thương, nữ mệnh không có Thực Thương
có thể tham khảo xem Quan Sát.
4) Xem con cái có hay không có triển vọng đều phải xem cả hai Tử tức tinh và cung con cái.
① Tử tức tinh hoặc can chi giờ thiên vượng nhưng có chế;
② Tử tức tinh hoặc can chi giờ thiên nhược nhưng có gốc sinh;
③ Tử tức tinh hoặc can chi giờ thái vượng nhưng có chế;
④Tử tức tinh hoặc can chi giờ cực vượng ở trong cục hoàn toàn là sinh phù mà không có khắc.
Bốn loại tình huống bên trên đều là con cái có triển vọng.
Chương 05, Bát tự xem tin tức hôn nhân
Một, Xem phối ngẫu cát hung
1) Can trụ tháng Thương quan chi tọa Thất Sát, mệnh nữ nhân gặp miệng uống ba bát nước sôi.
2) Nữ mệnh nhật tọa Thương quan bất luận là hỉ kỵ, tất khắc chồng hôn nhân bất thuận.
3) Nam mệnh tọa Tỉ Kiếp tất khắc vợ, hôn nhân bất thuận.
4) Nữ mệnh có trụ ngày là Giáp Dần, Mậu Thân, chồng có hoạ chết bất ngờ.
5) Nam mệnh nhật tọa Thiên Tài chủ bản thân phong lưu, không thích chính thê mà chỉ thiên yêu tiểu
thiếp.
6) Nam mệnh nhật tọa Ấn chủ gây trở ngại cho vợ, mà vợ cùng mẹ là không hợp.
7) Nữ mệnh Quan Sát đều thấu can, tất chủ hôn nhân bất thuận, có chuyện hai lần kết hôn hoặc có
ngoại tình.
8) Nam mệnh can thấu Thiên Chính Tài tất chủ hôn nhân bất thuận, có hai lần hôn nhân hoặc có ngoại
tình.
9) Nữ mệnh Thương quan vượng không có Tài, tất khắc chồng cải giá.
10) Phàm chi ngày bị xung đều là chủ trên hôn nhân bất thuận, vợ chồng không hợp khó sống đến bạc
đầu.
11) Phàm chi ngày bị hợp hóa đều chủ phối ngẫu có ngoại tình, hoặc có người khác.
12) Nam mệnh chi ngày tàng Tài tinh, bất kể cường nhược, đây gọi là thê cung thủ lấy vợ mà vợ có tài
năng.
13) Nữ mệnh chi ngày có tàng Tài tinh lúc là hỉ dụng được lực của chồng, chồng có tài năng.
Hai, Làm sao xem tướng mạo, tính tình, tính cách phối ngẫu:
1) Chi ngày là Tý Ngọ Mão Dậu chủ phối ngẫu xinh đẹp hoặc có tài năng.
2) Chi ngày là Dần Thân Tị Hợi, chủ phối ngẫu có tướng mạo bình thường, dễ nói, thông minh tài năng.
3) Chi ngày là Thìn Tuất Sửu Mùi, chủ phối ngẫu có tướng mạo khá xấu, giản dị, đôn hậu.
Ba điều ở trên là trong sách thường nói đến, còn có một điểm là chỗ các sách không có nói đến, đó là:
Nếu như chi ngày cùng chi tháng giống nhau, vậy bất luận chi ngày như thế nào đều chủ phối ngẫu
xinh đẹp hoặc là có năng lực mạnh mẽ.
Còn có một phương pháp xem tướng mạo phối ngẫu rất kỉ càng. Chính là ngoại trừ xem chi ngày, kết
hợp Phu Thê tinh là can chi nào để luận, là ngũ hành nào để luận. Cả hai tổng hợp lại xem, trăm không
ẳmất một: Hỏa chủ xinh đẹp, mặt đỏ hồng, mộc chủ thông đạt, phát thấu, cao thẳng; Thủy chủ tròn linh
hoạt, mặt đen; Thổ chủ đôn hậu thành thực, mặt vàng, thấp bé; Kim chủ trắng nõn, thành thật, Phu Thê
tinh lâm chi thì có đủ tượng tương ứng.
Ba, Tuổi chênh lệch giữa phối ngẫu cùng bản thân
Chủ yếu xem lực khuynh hướng của Thập Thần.
1) Thông thường khuynh hướng thập thần mệnh cục bất kể nam hay nữ: có Thực Thương sinh Tài,
tuổi phối ngẫu nhỏ hơn so với bản thân, lực khuynh hướng càng lớn tuổi chênh lệch càng lớn.
2) Khuynh hướng thập thần mệnh cục là Quan Ấn tương sinh, bất luận nam nữ tuổi phối ngẫu tất lớn
hơn so với bản thân, lực khuynh hướng càng lớn, chênh lệch tuổi càng lớn.
3) Trên mặt mệnh cục cả hai lực khuynh hướng đều không quá lớn, cân đối ngang nhau, thì tuổi gần
nhau, chênh lệch không lớn.
4) Có mệnh cục lúc thanh niên hôn nhân lần đầu tuổi đối tượng gần bằng nhau, còn hôn nhân lần thứ
hai lại chênh lệch rất lớn, nguyên nhân là do đâu? Đây là do hành vận, nên lúc hôn nhân lần thứ hai
hành vận là khuynh hướng Thực Thương sinh Tài làm bạn khác giới tất lấy nhỏ tuổi hơn so với bản
thân, khuynh hướng Quan Ấn tương sinh làm bạn khác giới tất lấy tuổi lớn hơn so với bản thân, cho
nên xem tuổi chênh lệch phải kết hợp đại vận lúc thích hợp hôn nhân, tổng hợp luận đoán mới vạn lần
không mất một.
Bốn, Pháp xem cự ly vợ chồng xa hay gần:
1) Lấy can ngày làm trung tâm, xem Phu Thê tinh xa hay gần, chi năm, can năm là ở xa, chi ngày là
gần, can chi tháng và can chi giờ là hạng trung bình.
Xem Phu Thê tinh ở vị trí nào, can thấu là vị trí bên ngoài, chi tàng là vị trí quê quán.
2) Có Phu Thê tinh cùng can chi ngày tương hợp, nhất là trong chi có Phu Thê tinh tương hợp cự ly có
khả năng là gần kề.
3) Có Phu Thê tinh cùng chi ngày tương xung, có khả năng xung xa, như chi ngày tháng là Phu Thê
tinh, chi ngày tháng tương xung, từ gần trở thành xa.
Năm, Phép xem vợ chồng (phối ngẫu) đắc lực hay không?
1, Phu Thê tinh là hỉ dụng thần nhật chủ lúc đắc lực, nếu trực tiếp tọa ở chi ngày thì rất là đắc lực.
2, Phu Thê tinh là kỵ thần lúc không đắc lực, nếu trực tiếp tọa ở chi ngày thì rất không đắc lực.
3, Phu Thê tinh tuy là hỉ dụng thần, nhưng chi ngày lại là kỵ thần, là được lực phối ngẫu nhưng không
lâu dài, phối ngẫu có hoạ, hoặc có tượng hai lần kết hôn.
4, Phu Thê tinh là kỵ thần, nhưng chi ngày lại là hỉ dụng thần đắc lực, nhưng tình cảm vợ chồng không
tốt.
Sáu, Tứ trụ nam nữ có tiêu chí ngoại tình hoặc là háo sắc:
Nam mệnh:
1, Tài là hỉ dụng thần, mà ở trong mệnh cục có chiếm rất nhiều trọng lượng, nam bất luận nhiều hay ít,
đều có tâm háo sắc. Mà còn dễ được giới nữ hài lòng.
2, Ngoại trừ có Tài tinh là dụng, cần có đủ trên điều kiện như sau:
① Trong mệnh không thấy Quan tinh hoặc Quan tinh bị chế, vừa không có người quản nó.
② Ở trong mệnh cần Thương quan thấu ra hoặc cư ở tháng, mà không có bị chế là người phóng đãng.
Nữ mệnh:1
, Nữ mệnh có Quan Sát cường vượng, không chỉ hôn nhân không mỹ mãn, cả đời nhiều sóng gió. Mà
còn dễ dàng trở thành đồ chơi của nam nhân, hoặc lần lượt rơi vào tay các đối tượng phong lưu.
2
, Nữ mệnh có Thương quan vượng, tự cam chịu tình nguyện.
3, Nữ mệnh có Quan Sát vượng khắc thân, bị nhục và bị áp bức.
Nam nữ đồng luận:
① Tháng sinh ra là Tị, Ngọ, Mùi, tứ trụ không thấy Nhâm Quý Hợi Tý thủy, nhưng có Thân, Thìn, Sửu,
phùng năm hỏa thổ viêm táo, sắc dục sẽ tung hoành, phùng năm hoặc tháng là Nhâm, Quý, Hợi, Tý là
cải tà quy chính (hoặc muốn kết hôn)
② Sinh ở tháng Tị, Ngọ, Mùi hoặc mệnh cục hỏa vượng cực, trong mệnh có thủy, phùng năm khắc tất
có ngoại tình hoặc vận đào hoa, nếu trong mệnh có Quan quản thúc thì không luận vậy.
③ Bát tự thủy vượng, nhất là nhiều Quý thủy, tất chủ vì người mà nhiều dâm đãng.
④ Bát tự có chi là đào hoa, chi ngày, nếu lâm Thương quan tất là phóng đãng, là vũ nữ, là ca nữ.
4, Địa chi bát tự có một chữ giống nhau, (địa chi hoàn toàn giống nhau), phụ nữ tất là hoang dâm vô
độ.
Bảy, Phán đoán thời gian kết hôn, cùng thời gian hôn tai:
Phán đoán hôn nhân thông thường lấy mấy góc độ dưới đây để xem:
1) Thiên can trụ ngày có hay không có hợp, địa chi có hay không có động (động là bao gồm cả hình,
xung, hợp, xuyên)
2) Nhật chủ và Tài Quan cân bằng.
3) Dụng thần đáo vị ( đúng vị trí) và dụng thần thụ thương. - Tiêu chí kết hôn: Thông thường cung hôn nhân, cung phối ngẫu động, hơn nữa nhất định nhật chủ
cùng Tài hoặc Quan đạt đến cân bằng, hoặc lúc dụng thần đúng vị trí. - Tiêu chí ly hôn: Thông thường nhật chủ cùng Tài, Quan lộ rõ mất cân bằng, hơn nữa chi ngày động
hoặc thụ thương. Nhưng ngũ hành Tài Quan thụ thương lại không quá nặng, nếu thụ thương quá nặng
sợ có đau khổ tang phối ngẫu.
Chương 06, Bát tự xem nghề nghiệp cùng chỗ địa vị biến thiên
Tiết 1, Làm sao xem một người thích hợp từ việc hành nghề cùng theo nghề nghiệp nào là thích
hợp?
Sau đây là tin tức tiêu chí đem xu thế nguyên mệnh cục theo nghề nghiệp bày ra như sau:
1) Địa chi tứ trụ hoàn toàn là Thìn Tuất là nhân viên nhà nước, quan cai tù, người làm nghề giết mổ gia
súc, người tham gia tố tụng bất nghĩa.
2) Trong trụ có Thìn Tị Tuất Hợi hoặc sao Thiên Y vượng thì thích hợp nghề làm công việc y học.
3) Thân nhược mà Ấn vượng, là làm việc cung phụng hầu hạ người.
4) Chi năm là Tị, chi ngày giờ có Thân, là nhiều năm bôn ba ở bên ngoài, loại hành nghề di động.
5) Thiên can tứ trụ có Canh, Giáp, địa chi có Dần, Thân, người này là thương nhân hoặc là người chép
sử sách, loại công việc bưu điện.
6) Can năm là Giáp, Bính, Mậu. Ba trụ khác có Đinh, mà địa chi tứ trụ thấy nhiều chữ Tuất Hợi định là
tăng đạo.
7) Hoa cái phùng Không, đa số là người hiểu ngũ thuật học.
8) Hoa Cái, Thái Cực lâm Tuất Hợi, đa số là người giới ngũ huyền thuật.
9) Phụ nữ có Thương quan ở chi vượng, chi Thương quan lại tàng Tài tinh, định chủ thuộc nghề kỹ nữ
phong trần.
10) Tứ trụ thủy thổ trùng điệp là nông dân.11) Nhuận Hạ, Giá Sắc cách là quan cấp dưỡng, tức là loại công chức phục vụ cung cấp hậu cần về
lương tiền.
12) Chính tinh nhiều ở trong trụ, vượng, theo nghề công chức.
13) Thiên tinh nhiều ở trong trụ, vượng, đa số tham gia thiên nghiệp, không phải là công chức.
14) Trong trụ có Tân, Đinh, Kỷ, chi có Dậu, Hợi, Mùi là thích hợp tham gia mua bán tửu điếm.
Tiết 2, Phép xem chỗ ở cùng nghề nghiệp biến thiên:
Làm sao thông qua bát tự xem chỗ ở và nghề nghiệp thay đổi? Chúng ta là một bộ phận cấu thành
trong dự trắc. Rất nhiều người hỏi, bạn xem cho tôi năm nào có công việc biến động? Năm nào dời nhà
hoặc là xây nhà?
Từ trong tứ trụ là hoàn toàn có thể nhìn ra. Người này năm nào công việc hoặc nghề nghiệp có thay
đổi, là biến tốt hay là biến xấu.
Về phần biến tốt hay là biến xấu thì xem lưu niên hỉ hay kỵ, năm hỉ dụng thần thì biến tốt, năm kỵ thần
thì biến xấu, nghề nghiệp và địa vị thay đổi tượng chủ yếu là địa chi phùng xung có mấy loại tình huống
sau đây:
1) Tý, Ngọ, Mão, Dậu xung là xung xứ sở, chỉ chỗ đất ở biến thiên, nghề nghiệp không thay đổi.
2) Dần, Thân, Tị, Hợi xung, là xung nghề nghiệp, chỉ chỗ ở và nghề nghiệp đều thay đổi.
3) Thìn, Tuất, Sửu, Mùi xung: Xung nghề nghiệp, chỉ chỗ ở không thay đổi, mà nghề nghiệp thay đổi.
Đây là một hình thức chung đối với chỗ ở và nghề nghiệp thay đổi, phép đoán cụ thể còn phải kết hợp
như dưới đây để luận, cũng chính là nói, không thể chỉ lấy quy tắc ở bên trên tương xung để luận, như
thế sẽ không phải là cứ gặp năm xung là đều có biến động.
Một) Nhà cửa ở trong tứ trụ là lấy Ấn Kiêu làm tiêu chí.
1, Chính Ấn là đại biểu chỗ ở của ông bà cha mẹ, hoặc là bản thân có quyền sử dụng tài sản nhà cửa,
loại Chính Ấn nhà cửa bản thân này đều tàng ở 4 địa chi.
2, Chính Ấn thấu can, nó không phải đại biểu nhà cửa của tổ tiên bản thân, đa số thuộc về nhà của
quốc gia phân chia.
3, Trong trụ không có Chính Ấn chỉ có Thiên Ấn, chủ không phải chỗ ở của tổ cư (nơi ở của tổ tiên), ở
thế hệ ông cha đã di dời chỗ ở, chi năm là Thiên Ấn can năm thấu Thực Thương, tổ thượng có cuộc
sống lưu lãng hoặc đòi gạo xin cơm (làm thuê), vị trí chỗ ở là bất định.
4, Trong trụ Chính Thiên Ấn ẩn tàng ở trong 4 địa chi, biểu thị cả đời mệnh chủ đã sống qua rất nhiều
địa phương, thường dời nhà, cả đời di động ở bên ngoài khá nhiều.
5, Chính Ấn vượng, Thiên Ấn suy, đa số chủ có quyền sử dụng tài sản về nhà ở có điều kiện tốt giá trị
cao. Nhà lâm trụ giờ hoặc không có quyền sử dụng tài sản nhà ở điều kiện kém có giá trị thấp, hơn
nữa Chính Thiên Ấn đa số là toàn nhà mệnh chủ đều sống ở nhà cửa đã qua.
6, Trong trụ thiên can thấu Ấn, mà chi không tàng Ấn, hoặc hành Ấn vận đa số là chỉ chỗ ở là nhà công,
bản thân không có quyền sơ hữu.
Hai) Tiêu chí dời nhà là xung Ấn
1, Tứ trụ có tam hợp, lục hợp thành Ấn cục thì không dễ dàng dời nhà.
2, Đại vận xung tứ trụ, nhất là Tý, Ngọ, Mão, Dậu cùng Dần, Thân, Tị, Hợi lại gặp chỗ Ấn tinh tương
xung, đa số là có dời nhà.
3, Chính Ấn, Thiên Ấn cùng lâm, xung Thiên Ấn đa số là chủ di động, thông thường là sẽ không dời
nhà, xung Chính Ấn đa số là di dời.
4, Ấn, Kiêu bị lưu niên đại vận hợp, cũng có việc di dời.
Ba) Tin tức tiêu chí xây nhà sữa nhà.
Lưu niên gặp Tài tinh hình khắc Ấn Kiêu hoặc Quan Sát sinh Ấn tinh đa số là có việc thay cũ đổi mớihoặc là tu sữa.
Bốn) Tin tức tiêu chí công việc nghề nghiệp biến động
1, Đơn vị công tác đa số là lấy Quan Sát là sao đại biểu, lưu niên đại vận như gặp đến Thương quan
và Thực thần đa số có thay đổi trên nghề nghiệp, chức vụ.
2, Chi đại vận hoặc lưu niên xung động Quan Sát tinh ở trong trụ, là có thay đổi nghề nghiệp, chức vụ.
3, Hoặc là đại vận hoặc là lưu niên. Đồng thời xung động hoặc đến dời động Quan, Ấn tinh ở trong trụ.
Chủ phương diện chỗ ở và nghề nghiệp đều phát sinh thay đổi. Bất luận dưới địa chi loại nào đều cũng
như vậy.
Chương 07, Tượng tin tức Thập Thần
Tiết 1, Tượng biểu hiện Thập Thần
Tượng tin tức Thập Thần rất là trọng yếu, phải đạt đến mệnh lý cấp cao. Tất cần phải hiểu sâu tinh
thông tượng tin tức Thập Thần, thông qua tượng Thập Thần để suy đoán phú quý bần tiện của một con
người, mới có thể suy đoán tinh xác ra quỹ đạo vận hành chân thực của một con người.
Ví dụ, tượng tin tức phản ánh ra Thập Thần của một người là: một người tuân theo quy cũ pháp luật,
nhát gan sợ việc, cũng không muốn xuất đầu lộ diện, như vậy bạn không sử dụng xem tỉ mĩ tứ trụ,
thông qua con người ở trên xã hội đều có những loại tâm tính này, thì có thể sơ bộ sẽ biết cả đời của
họ ra sao. Bạn nghĩ, là người tuân theo quy củ đạo lý, nhát gan sợ việc, tất nhiên là không dám làm
việc vi phạm pháp luật, cũng không thích hợp làm nghề mua bán bởi vì họ cảm giác nhát gan sợ lỗ
vốn, làm việc lại không tình nguyện xuất đầu lộ diện, đến cái gì cũng không biểu hiện ra tài năng của
họ. Loại người này, chỉ thích hợp làm công cho người khác, tránh việc công, phú quý tất nhiên khó nói.
Phách lực không có, tất nhiên cũng khó làm quan, cho nên thông qua 10 loại tượng có thể phán đoán
người này chỉ là một người làm thuê rất là tầm thường, người luôn tránh việc công là người sẽ không
có đại phú quý.
Lại như, một người có thân vượng. Thấu Kiếp Tài và Thương quan, như vậy tượng tin tức thập thần là:
Thích xâm phạm người thích gây ra chuyện thị phi, lớn gan, trong mắt không có luật pháp. Thích ăn
uống, đánh bạc. Như vậy, người có đủ tâm tính này mọi người có thể tưởng tượng. Không phải là phần
tử ở trên xã hội đánh bạc, lưu manh, vi phạm pháp luật, loạn luân sao? Loại người này gặp vận hung,
định sẽ phạm tội làm ra chuyện vi phạm pháp luật, tất nhiên là khách vào lao tù, có tượng này thì bạn
sẽ không khó phán đoán người này có hạo lao tù, cả đời gặp nhiều chuyện khẩu thiệt kiện tụng.
Sẽ không đưa ra từng ví dụ, sau đây phân chia tượng Thập Thần cung cấp cho mọi người để tiện tham
khảo:
Căn cứ hình thái xã hội, chúng ta nắm sự nghiệp; đại thể loại hình quy nạp là ba loại:
Một) Công nghiệp:
Bao gồm: Nghề chế tạo, sinh sản, gia công, kỹ thuật, nông ngư nghiệp, quân nhân.
Hai) Thương nghiệp:
Bao gồm: Mậu dịch, mua bán, kinh tiêu, đại lý, bán lẻ, bán sỉ.
Ba) Nghề phục vụ:
Bao gồm: Nghề tự do (không có phương hướng nghề nghiệp cố định), môi giới, tài chính, bảo hiểm,
vận tải, lữ du, cố vấn, giáo dục, thiết kế …
Biết ba loại hình lớn về nghề nghiệp, như vậy bát tự dạng nào là thích hợp tham gia dạng công việc
nào hành nghiệp nào chứ? Sau đây đem loại hình bát tự cùng loại hình cơ bản nêu lên như sau:
1, Thân cường Tài nhược, hợp nghề công nghiệp.
2, Thân Tài ngang nhau, hợp nghề thương nghiệp.
3, Tài đa thân nhược, hợp nghề phục vụ.
4, Khí thế thân và Tài đều rất nhược, lấy nhật can làm trung tâm, nói thân nhược hơn Tài thì thích hợp
nghề phục vụ.
5, Thân Tài ngang nhau, ngoại trừ thích hợp nhất là nghề thương nghiệp, cũng thích hợp ở côngnghiệp.
Đây là đề ra phân loại cơ bản, nếu nói tỉ mĩ, phải kết hợp với hỉ dụng thần, nếu hỉ dụng thần là mộc, lại
tương ứng ở trong loại hình sự nghiệp tuyển chọn hành nghề thuộc mộc, những cái khác đồng lý như
vậy có thể là do bản thân tuyển chọn con đường phát triển thích nghi nhất, khiến người được xu cát tị
hung.
Ở trong ngày thường dự trắc, thường có người hỏi, ông xem cho tôi nên làm nghề gì? Luôn luôn có
người hỏi thấy dự trắc chắc nịch như vậy, khó mà trả lời, đích xác cũng trả lời không tốt, nhất là giai
đoạn hiện nay, nước ta sau khi mở ra cải cách nghề nghiệp biến thiên, tính lưu động rất lớn, có người
cả đời tham gia nhiều loại nghề nghiệp, thậm chí có người theo tính chất công việc, thay đổi hàng năm,
hoặc một năm nhiều lần thay đổi, thực ra ngay lúc cầu trắc có lúc cũng không biết, bản thân cả đời là
hành nghiệp nào, hành nghiệp nào cũng làm, cái gì cũng không có làm cố định. Người có loại hình này,
đặc điểm bát tự là từng loại lực lượng ngũ hành trong bát tự, đều không phải là thái nhược, cũng không
có thái vượng lúc gặp tuế vận cùng khởi một phương, hành nghiệp sẽ có thay đổi, cái gì cũng có thể
làm, cho nên khuôn mặt nghề nghiệp cũng rộng, khó mà định đoạt, cả đời là thuộc về hành nghề nào
cũng được.
Còn có bát tự một ngũ hành nào đó thiên vượng, khí thế phùng tuế vận cũng khó thay đổi, loại người
này luôn luôn thiên về một nghề nào đó, sự nghiệp cả đời trên cơ bản là không biến đổi, như có một
đời kinh thương, có một đời theo chính trị, có một đời theo nghề văn chương, bát tự như vậy dễ phân
biệt.
Một, Tâm tính Chính Quan (tượng tin tức)
1, Người có Chính Quan thấu ra có cảm thụ trách nhiệm. Tuân theo pháp luật quy củ đạo lý.
2, Chính Quan thái vượng, thân thái nhược. Nhật chủ nhát gan sợ việc.
3, Chính Quan thái nhược, thân thái cường, phóng đãng không chịu gò bó, khó mà lãnh đạo. Ở rất
nhiều lãnh đạo điều kiện tiên quyết đó chính là nhất định sẽ có năng lực độc lập công việc. Cho nên
khả năng là một tiểu quan.
4, Chính Quan lúc là hỉ dụng chủ người có tâm tiến lên cao, có tâm về trách nhiệm đối với công việc
mạnh mẽ, công việc có trậ tự, hoàn thành từng bước.
5, Chính Quan hiện ở trụ năm, lúc là hỉ dụng, tương đối nếu nói ở trong anh em chị em của bạn thì đa
số được cha mẹ thương yêu.
6, Can chi năm đều là Chính Quan, nếu như thân nhược, cha mẹ bạn đối với bạn là quản lý chặt chẽ,
áp lực lớn, vận bạn tất nhiên sẽ đi theo đường tự lập cánh sinh, Quan ở trên năm, trên tháng. Thời
thượng đều là giống nhau, chỉ bất quá là chuyện tốt sẽ đợi qua sau 40 tuổi, ở trên năm từ lúc bắt đầu đi
học, tính độc lập của bản thân mạnh mẽ, như vậy ở đây chính là mệnh phú quý.
7, Trụ tháng Chính Quan là hỉ dụng, trụ tháng là cung phụ mẫu, cùng hàm nghĩa là có Ấn, bản thân cha
mẹ chính là Ấn, khiến cho Quan trụ tháng bại, làm cho văn Ấn hóa Quan của bản thân, cho nên nói trụ
tháng là Quan, được cha mẹ yêu thương, cả đời ít gian khổ, ngoại trừ cha mẹ hoàn cảnh xung quanh
của bạn phàm là nó quản bạn đều là yêu thích bạn, đều mang tính chất của Ấn.
8, Chính Quan ở chi ngày, năng lực nhật chủ ứng biến mạnh mẽ, lúc gặp Tài vận có thể phát đại tài,
bởi vì Quan có thể bảo vệ Tài, thống lĩnh nhật chủ.
9, Quan Sát cùng thấu thông thường đối với nữ mệnh mà nói hôn nhân đa số là bất thuận, tượng nhiều
chồng.
10, Nữ mệnh thân nhược, ngày tọa Chính Ấn, lúc nhỏ thì nhờ cha mẹ, sau thành hôn thì nhờ chồng,
tính độc lập kém, tính ý lại hết sức mạnh mẽ, còn có một điểm chính là làm việc có chút chậm chạp.
11, Chính Quan tọa Dương Nhận, nam nữ đều giống nhau, bình thường cả đời nhiều gian khổ.
Hai, Tâm tính Thất Sát(tượng tin tức)
1, Lúc Thất Sát có chế, có thể chuyển thành tâm tính Chính Quan, Chính Quan lúc xuất hiện nhiều thì
chuyển thành tâm tính Thất Sát.2
, Phân biệt Chính Quan và Thất Sát là: Chính Quan có công năng quản thúc thân đến chỗ thiện, còn
Thất Sát chủ độc tài không nói lý lẽ.
3, Người có Thất Sát vượng thân vượng, lời nói hay áp chế, việc làm có kiên quyết.
4, Người có Thất Sát vượng có lực cảm hoá, có tài năng quản lý, tính cách không tốt, nhiều thô bạo,
người Thất Sát đi chính đường sự nghiệp có thể có một phen thành tựu, như đi theo con đường hắc
đạo cũng sẽ trở thành kẻ cầm đầu xã hội đen.
5, Người Thất Sát nặng hay nghi ngờ, áp lực lớn, cho nên ban đêm thường có nhiều cơn ác mộng.
6, Nữ nhân nếu như có Thất Sát nặng, có thân vượng, tượng đầu tiên của họ là cùng chồng bất hòa,
đối ngoại cũng là thô bạo không nói lý lẽ, là người đàn bà đanh đá, nhưng có lúc làm việc thành thật,
quuyết đoán, có tài năng sắp xếp.
7, Tứ trụ thân nhược Sát vượng thường trải qua sẽ gặp đến tiểu nhân trêu cợt.
8, Lúc thân cường Sát không có chế, người này thường trở thành tiểu nhân của người khác, hay trêu
chọc người, hay chỉnh người khác.
12, Thất Sát chủ thông minh lanh lợi.
13, Thất Sát tọa ở chi ngày là phối ngẫu, tính cách táo bạo, quật cường.
14, Thất Sát ở trụ giờ, thông thường con cái đa số là bất hiếu.
Ba, Hàm nghĩa Chính Tài (tượng tin tức)
1, Hàm nghĩa tinh thần Chính Tài, chính là nói trạng thái nhỏ bé, xem trọng cảm quan phản ánh ám thị
và dục vọng. Chú trọng vật tượng và sự vật cụ thể và đảm nhận chức vụ.
2, Người Chính Tài có tâm muốn chiếm làm của riêng, có tư tưởng truy cầu công danh, Tài trọng là
người đối với tín ngưỡng văn hóa thần bí tôn giáo đều kém, bởi vì họ luôn nghiên cứu hiện thực, ở lúc
giao tiếp con người nhất thời chỉ muốn sử dụng mục đích hiện thực.
3, Chính Tài là hỉ dụng, thuyết minh Tài ở trong mệnh cục nhược hoặc là ít, bởi vì Tài nhược Tài ít, cho
nên người Chính Tài, khá là tiết kiệm, hoặc nói hầu như keo kiệt.
4, Chi ngày là Tài gặp Không vong, nam dễ kết hôn muộn, xgo nên chỉ có dựa vào tuế vận điền thực
mới có thể kết hôn.
5, Chi ngày lúc hợp Chính Tài thì vợ chồng yêu nhau (nam mệnh)
6, Chi ngày lúc hợp không phải Chính Tài, vợ có ngoại tình.
7, Mệnh cục Chính Tài, Kiếp Tài cùng xuất hiện, cả đời dễ gặp tiểu nhân phá tài.
8, Chính Tài tọa đất Không Mộ Tuyệt địa, khẳng định mà nói, vợ có đại bệnh, có tượng thân thể không
tốt.
9, Chính Tài tọa Dương Nhận có tượng phá tài hoặc là vợ không hiền.
10, Chính Tài ở trụ tháng là cần kiệm keo kiệt.
11, Chính Tài ở trụ giờ thứ nhất là con cái giàu có, hoặc nói con cái giàu có, hoặc nói con cái có thể
theo nghề kinh thương.
12, Chính Tài phần đa không luận hỉ kỵ, đều tham ăn biếng làm, tham lam.
13, Tứ trụ nam mệnh nhiều Chính Tài, tranh hợp nhật chủ, có tượng nhiều vợ.
14, Nữ mệnh thân nhược Tài nhiều Tài vượng, chủ phong lưu, vì Tài nhiều, thì sinh ra nhiều Quan, thì
sinh ra nhiều nam nhân.
Bốn, Tượng tin tức Thiên Tài
1, Thiên Tài là tài đến từ bên ngoài, thực tế, ở trong mệnh cục là tượng nhận hối lộ, Chính Tài là thông
qua kinh doanh bình thường mà được tài. Thiên Tài chỉ loại mua vé số, đánh bạc, nhện hối lộ, nhận
quà biếu xén không nhọc công mà thu nhận tài sản, mệnh cục có Thiên Tài tàng ở địa chi đặc biệt
nhiều, là ám sinh quan, cho nên là tượng nhận hối lộ.
2, Thiên Tài thấu ra là người coi trọng hiện thực, xuất phát từ hiện thực, loại này không có thành kiếnquá nặng.
3, Thiên Tài là vật gia dụng trong nhà thường dùng hàng ngày, vợ không quá thân mật.
4, Thiên Tài vượng là người đối với việc thái độ khống chế bản thân và ôm giữ tiền bạc có cũng được
mà không có cũng được.
5, Chính Tài khá là cẩn thận, khá là chân thực cho nên đối với ái tình khá là chuyên nhất, còn Thiên Tài
thì không chuyên nhất.
6, Người lấy Thiên Tài là dụng, là người rộng rải, trọng nghĩa khinh tài, nhân duyên cực tốt.
7, Thiên Tài là dụng, vinh hoa phù phiếm, chỉ thích làm biếng mà hưởng thụ, là đường bần cùng.
8, Thiên Tài lúc ở thiên can thái vượng thì có tượng háo tửu sắc.
9, Thiên can thấu mà Thiên Tài là có tượng hôn nhân bất thuận, đặc biệt là trụ giờ và trụ tháng đều là
Tài, thấu ở trụ giờ và trụ năm là có phân biệt, ở trong thực tế vừa có vợ lại vừa có tình nhân.
10, Thiên Tài tọa tử mộ tuyệt, có cha hoặc thiếp nghi hoặc đau thương.
11, Can năm là Thiên Tài chi năm là Tỉ Kiếp, vậy thì bất lợi ở chỗ tha hương hoặc là cầu tài ở tha
hương (đất khách quê người).
12, Can chi trụ năm đều là Thiên Tài, có tượng lúc nhỏ làm con nuôi.
13, Thiên Tài ở trụ tháng, có tượng cha giữ quyền trong nhà.
14, Thiên Tài ở chi ngày, nam mệnh dễ có chuyện phong lưu.
15, Thiên Tài ở trụ giờ, không có Tỉ Kiếp hình xung, về giá co một điểm tốt.
16, Nữ mệnh nhiều Thiên Tài là kỵ thần bị liên can bởi cha.
Năm, Tượng tin tức Thương quan
1, Thương quan ở lúc trong thực tế, chính là ý nguyện xuất đầu lộ diện, thích nỗi danh, bản thân giữ
gìn lời nói cùng đối với làm quan tốt.
2, Thương quan dựa vào miệng nói ra, nó xem trọng một tiếng vỗ tay của người khác đối với mình,
thích hợp hành nghề minh tinh văn nghệ ca hát. Coi trọng báo đáp, hi vọng được cảm kích.
3, Thương quan vượng, là người không sợ quan, lại cả gan làm loạn, nó lại chú trọng thanh danh, chú
trọng người khác bình luận về mình, lại thích công trạng, thích khoác lác, thích khoa trương.
4, Nữ mệnh ngày tọa Thương Quan có hôn nhân bất thuận, xem mọi người đều không bằng mình, tâm
cao khí ngạo, tự phụ thanh cao.
5, Thương quan thấu can thì tậm háo thắng mạnh mẽ, thích phô trương, có một loại tâm lý phản
nghịch.
6, Thương quan thái vượng, hiển lộ cá tính quá phóng đãng, bất kể nam nữ đều như nhau, trong mắt
không có bề trên, không có lễ nghĩa khắc chế, nữ phần đa bán lấy tác phong bất chính.
7, Thương quan vượng lòng hiếu kỳ mạnh, còn có lực khoa trương, hoang tưởng, hết sức lãng mạn,
rất tưởng tượng cuộc sống văn thơ, giàu có sức tưởng tượng.
8, Chính Ấn cùng Thương quan là trái nghịch, Chính Ấn nó chủ yếu là bảo thủ phụng hiến ái tình,
Thương quan nó lại không bảo thủ, nó chủ yếu là xông ra bên ngoài.
9, Nhật chủ vượng, nhiều Thương quan, thông minh giỏi hùng biện, ý nguyện bày tỏ bản thân, rất thích
hoặc là tín ngưỡng tôn giáo.
10, Thương quan ở trụ năm, bất luận là hỉ kỵ, tổ thượng đều không quá tốt, chủ tổ nghiệp phiêu lưu.
11, Thương quan ở trụ năm lại gặp tuế vận gia tăng thêm lực, dễ có tai hoạ.
12, Thương quan ở trụ tháng có tổn thương anh em hoặc có tượng anh em bất hòa.
13, Thương quan ở chi ngày nam mệnh thương yêu vợ, nữ mệnh khắc chồng.
14, Thương quan ở trụ giờ, nam mệnh duyên với con cái bạc bẽo.
15, Thương quan bất luận ở năm, tháng, ngày, giờ trên trụ tương ứng lục thân đều phải bị tổn thương
Quan, có tượng không đủ lục thân.Sáu, Tượng tin tức Thực Thần
1
, Thực thần vượng, không thích độc tài, ý nguyện dân chủ, hành sự quyết định, không thích áp đặt
cho người.
2, Thương quan có ý thức lưu động thông minh, Thực thần cũng có ý tứ này.
3, Thực thần đại biểu lời nói, động thân, lữ du, khiêu vũ, vận động.
4, Thương quan thích ra ngoài sóng gió, còn Thực thần xu thế bình thản.
5, Thực thần thấu ra lúc bình thường lời ăn tiếng nói hay, ý nguyện ăn thịt kho tàu, tiêu hóa giỏi chửi
quan, bởi vậy cũng chủ trường thọ.
6, Thực Thương quá nhiều, hảm ăn nhác làm, không muốn làm việc.
7, Thực thần phùng Không, hoặc bị Kiêu đoạt. Lúc nhỏ thiếu sữa bú.
8, Thực thần và Thất Sát cùng thấu có tượng nắm quyền.
9, Thực thần ở trụ tháng, chi tháng là Chính Quan, có vận quan. Thích hợp kiếm công việc.
10, Chi tháng Thực thần là người hòa khí.
11, Nữ mệnh Thực thần nhiều thì hôn nhân bất thuận.
12, Nữ mệnh Thực thần và Thiên Ấn đồng trụ dễ có chuyện lưu sản (sinh non).
Bảy, Tượng tin tức Chính Ấn
1, Chính Ấn là tâm thích phụng hiến ái tình, còn có một loại phương diện là mang nặng nhẫn nhục, cần
cù kiên nhẫn làm việc.
2, Mặt trái Chính Ấn là hay dựa theo kẻ mạnh, không có chủ kiến, cho nên nhiều Ấn Kiêu. Đây là người
làm việc hay có đầu mà không có đuôi, chủ ý hay thay đổi.
3, Nhiều Ấn Kiêu, là người không có cảm thấy áp lực, bình thường lười nhác, việc gì cũng đều xem
như không có gì là quá phức tạp, khá chú trọng động gân não. Dễ dàng thỏa mãn.
4, Chính Ấn đại biểu quyền lợi, địa vị, sự nghiệp, chỗ dựa, chủ văn chương, danh dự.
5, Quan không có Ấn thì không biểu hiển, thân vượng thắng Quan, không có Ấn nắm quyền không
chân thực.
6, Tài vượng, hành Ấn vận, thông thường là thân nhược, thanh danh không tốt.
7, Người Ấn vượng tính ỷ lại cao.
8, Chính Ấn tọa Thất Sát giống như Sát Ấn tương sinh, thành thật giữ tín, Chính Ấn tọa Kiêu, thiếu
khuyết tính quyết đoán.
9, Nữ mệnh nhiều Chính Ấn, tượng khắc chồng.
Tám, Tượng tin tức Thiên Ấn
1, Tâm tính Thiên Ấn khá là khô khan cứng nhắc, ngu si cho nên ít nghĩ ra cách làm, nó cũng không có
ý xâm phạm và làm phiền đến người khác, nhưng mà nó cũng không muốn quan tâm đến người khác,
cho nên người có tâm tính Kiêu Ấn, thoạt nhìn có lúc có tu dưỡng, nhưng có lúc cũng không thông lòng
người.
2, Chính Ấn có ý nguyện nỗ lực, còn Thiên Ấn thì không tình nguyện nỗ lực, cho nên, Kiêu Ấn để lộ ra
lòng mình quá nhiều, có lúc kỳ quái.
3, Thiên Ấn có quyền lực thuộc về nghề nghiệp không phải chính thức, ví dụ như thành tựu và địa vị ở
nghệ thuật, y sinh, luật sư, tôn giáo, nghề tự do, nghề phục vụ.
4, Người lấy Kiêu thần làm dụng, đa số thông minh có tài năng, tâm nhiều mưu mô.
5, Người Thiên Ấn vượng thì bất lợi cho con cái.
6, Mệnh có Thiên Ấn, lại có Quan Sát hỗn tạp, là mệnh đa thành đa bại.
7, Thiên Ấn tọa Tỉ kiên, chủ cả đời nhiều lao khổ.
Ấ Ấ8, Can chi đều là Thiên Ấn, hoặc thấu ra 2 vị Thiên Ấn mà còn vượng, thân lại vượng, luôn luôn thường
ở trong nhà hay mất đồ vật.
9, Trụ năm thấy Thiên Ấn có được tổ nghiệp, tượng này tổn hại gia danh, chỗ này là Thiên Ấn là kỵ, là
hỉ thì không như vậy.
10, Thiên Ấn ở chi ngày nam thì không được vợ hiền, nữ thì không có chồng giỏi ( là chỉ Thiên Ấn ở lúc
là kỵ thần)
11, Nữ mệnh có Thiên Ấn ở trụ giờ, bất luận là hỉ kỵ, đều bất lợi cho con cái, con cái phần đa có hiện
tượng lưu sản, bệnh thương vong.
12, Nữ mệnh nhiều Thiên Ấn dễ có chuyện lưu sản.
Chín, Tượng tin tức Tỉ kiên, Kiếp tài
1, Thân vượng thấu Kiếp tài, chính là nói thích xâm phạm người khác, hay gây ra tai họa, gây ra thị phi.
2, Tỉ kiên vượng là không nguyện chủ động xâm phạm người khác, không muốn gây ra tai họa sinh
chuyện thị phi.
3, Tỉ kiên thái vượng biểu thị lòng tự tôn mạnh, sĩ diện tự ái, là người cố chấp, không dễ thay đổi,
không muốn bị người cai quản, thích tự do.
4, Tỉ Kiếp nhiều thì bất lợi ở kết bè mua bán, tài sản dễ bị đoạt.
5, Tứ trụ nhiều Tỉ kiên, không có chế, anh em bất hòa, quá cương.
6, Tỉ kiên ở trụ nă có tượng xa nhà độc lập.
7, Chi ngày là Tỉ kiên hôn nhân bất thuận, bất luận nam nữ đều luận như vậy.
8, Tỉ kiên tọa đất Tử Mộ Tuyệt, anh em chị em thông thường không ở một nơi.
9, Người không có Tỉ Kiếp, thân lại vượng, tính cách kỳ quái, không hòa đồng.
10, Người có Tỉ Kiếp nhiều, dễ có chuyện phá tài khắc vợ, có tiền cũng khó bảo tồn.
Tiết 2, Tượng nội hàm Thập Thiên can
Tiết ở trên bày rõ các tượng tin tức các loại Thập Thần Tài, Quan, Ấn Tỉ, đây là tin tức mỗi tượng Thập
Thần, đây là tượng chức năng từng loại Thập Thần, ví dụ như Chính Quan, là Quan quản lý vậy, ý chủ
tượng quản thúc, đây là chức năng của nó. Thương quan, chính là khắc chế quản lý của Quan, cùng
không cho quan quản lý đối với bạn. Loại Thập Thần này giống như cùng biểu lộ chức năng sinh khắc
rất rõ ràng mà hiển lộ ra ngoài. Nhưng bên trong có rất ít luận Giáp mộc Chính Quan cùng Ất mộc
Chính Quan là có gì khác nhau. Mộc Quan cùng Hỏa Quan, cùng Thổ Quan các loại thuộc tính ngũ
hành làm Quan khác nhau lại bao hàm ý tứ gì, có chỗ nào khác nhau, Quan tinh như thế, vậy thì các
loại thập thần khác như Thương Quan, Chính Ấn, lâm ngũ hành khác nhau, hoặc là lúc khí cùng ngũ
hành khác nhau thì có tượng tin tức gì. Ở tiết này chính là luận cùng vấn đề này, đây là vấn đề ở tầng
lớp cao là làm cho bạn thành tựu tứ trụ đến một trình độ nhất định, chỗ truy cầu luận mệnh đến mức độ
tinh vi.
Cuộc sống nhân loại của chúng ra ở trên địa cầu, là trái đất hiện nay nuôi dưỡng nhân loại chúng ta, nó
có đủ tính bao dung, tha thứ. Đặc tính hứng nhận, như vậy, trái đất là thuộc ngũ hành gì chứ? Là thuộc
thổ, sử dụng đại biểu thập thiên can, vậy là lấy thổ chỗ tượng đại biểu tính bao dung, trung hậu thành
thực, rộng rãi, tất nhiên lấy Tuất thổ là mặt đất, là nuôi dưỡng chúng ta, như vậy trái đất chính là mẹ
của nhân loại chúng ta, vậy là Chính Ấn tinh. Mà nhân loại thì là mẹ Chính Ấn chỗ nuôi dưỡng trái đất,
là Tỉ kiên, Kiếp tài, vậy Tân kim là Kiếp tài còn Canh kim là Tỉ kiên. Lấy chỗ này mà loại suy, suy diễn ra
thập thiên can chỗ có đủ đặc tính của Thập thần, thứ tự là :Từ chỗ thập thiên can bên trên lộ ra bản chất thuộc tính để xem, ví dụ như Giáp mộc bất luận ở trong
một mệnh cục là thập thần nào, nói vượng nhược, Giáp mộc vừa phát huy chức năng thập thần ở
nguyên mệnh cục, thì nó phát huy bản chất chức năng thuộc tính, ví dụ như Giáp ở trong nguyên mệnh
cục nói là Chính Quan, nó vừa phát huy chức năng chức trách của Chính Quan, ngoài hiển lộ ra tượng
tin tức Chính Quan có có đủ một bản tính khác, nó cũng phát huy ra tâm tính của Thiên Tài, như vậy ở
trong mệnh cục Chính Quan đại biểu là tuân theo quy củ pháp luật, tâm có tính trách nhiệm cao có tâm
tiến chức, lại lộ ra người này đối với tài lợi là muốn có truy cầu, chú trọng thực tế, có tính cách làm đến
nơi đến chốn, như vậy hai loại tâm tính này nhữu hợp lại ở một lúc chính là người này có tính rất thích
truy cầu danh lợi, có lòng cầu tiến tâm có trách nhiệm, mà không vọng tưởng. Khá là hiện thực, như
vậy nó một khi tiến vào vận tốt, thì sẽ làm ra một phen sự nghiệp.
Giống như tuổi của bạn thấy đến lúc nhật can bát tự là Giáp mộc, hoặc trong trụ có nhiều mộc, thì bạn
có thể đoán:
1) Là người ngay thẳng, từ thiện, có lòng trắc ẩn, nhưng cố chấp không dễ dàng thay đổi. Đây là đặc
điểm bản tính của mộc, đây là ý nghĩa thứ nhất.
2) Người này rất muốn truy cầu vật chất mạnh mẽ, muốn chiếm làm của riêng mãnh liệt, xem trọng
thực tế, là người khá là hiện thực, đây là chỗ Giáp mộc có một bản tính là Thiên Tài chỗ lộ ra tính cách,
hai loại tính cách này có ở trên thân của nhật chủ, đều có lộ ra. Vậy người này là loại người nào, kết
hợp cả hai, là hiểu rõ ở tâm.
Lại ví dụ như, nhật chủ là Bính hỏa, có đặc tính là Thất Sát, nếu trong trụ hỏa nhiều hoặc vượng, vậy
có thể đoán:
1) Nhật chủ tính nóng, hướng lên, có tính cách tích cực mạnh dạn không chịu thua, đây là đặc tính của
Bính hỏa.
2) Là người có khí phách, hoặc hay xúc phạm, nhưng lại thông minh lanh lợi, đây là tâm tính của Thất
Sát.
Đồng lý, đang lúc nhật chủ là kim, thì kim là Tỉ Kiếp, bởi vì thuộc tính ngũ hành thập thiên can cùng tâm
tính thập thần xu hướng là như nhau, vậy thì chỗ nhật chủ tượng các loại tin tức phản ánh khá là đơn
thuần, khá là trực quan, khá là mạnh mẽ.
Đang lúc tượng tin tức thập thần cùng thập thiên can ở trong ngũ hành chỗ có đủ bản tính tương phản,
thực tế tượng tin tức thể hiện ra thì khá là phức tạp, người này có đủ tính hai mặt, chợt ẩn chợt hiện,
một mặt hiện ra, một mặt ẩn tàng, là con người cũng như vậy, bề ngoài khiến cho người ta có một cảm
giác, thực tế người này cảm giác cùng biểu hiện trái ngược nhau. Ví dụ như hữu có người biểu hiện rất
nhu nhược, rất hòa nhã, thực tế trong tâm người này thập phần kiên cường, có chủ ý, tâm mâu thuẫn
cũng rất mạnh mẽ, chỉ là không nói ra mà thôi.
Không mong đợi đưa ra một ví dụ nào, biết đạo lý này thì bản thân tự có thể kết hợp ở tiết thứ nhất là
tượng tin tức thập thần, từ từ tham khảo nghiên cứu, tin tưởng, ở lúc bày ra một bát tự, thì hình tượng
người này sẽ giống như một dạng điện ảnh, rất sống động mà thể hiện ra ở trước mắt bạn. Nó đã có
đủ loại hành vi này, loại tâm tính này, vậy nó có cái gì thể hiện ra ở trong cuộc sống thực tế, có thể có
hay không có thể lập ra sự nghiệp, có hay không có tâm sự nghiệp, liền tưng bừng mà ra. Quan hệ
nhân duyên của họ, tình cảm vợ chồng, …, không thể khoan dung cùng trong tâm tính c tính cách, khi
đó bạn sẽ là một cao thủ chân chính, từ hành vi, từ trên bản chất xem ra vấn đề, suy đoán cuộc đời,
mới là mệnh sư dự trắc cấp cao.
Thập thiên can tượng trưng cho tượng tin tức thập thần, có lúc không cần phân loại quá tỉ mĩ, thông
Thiên Tài Chính Tài Thất Sát Chính Quan Thiên Ấn Chính Ấn Tỉ kiên Kiếp tài Thực thần Thương
quan
Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý
① ② ③ ④ ⑤ ⑥ ⑦ ⑧ ⑨ ⑩thường chỉ làm phân loại cơ bản, bởi vì lúc cho người dự trắc là thời gian không cho phép tỉ mĩ như
vậy, trừ phi thị là lúc nghiên cứu mệnh tạo của bản thân và người nhà, thông thường tổng hợp để xem
như dưới đây:
1, Giáp Ất mộc, có đủ đặc tính sinh trưởng, phát sinh, thông đạt, là người ngay thẳng có lòng trắc ẩn,
khá là thành kiến cố chấp, có quan hệ đối ứng cùng tâm tính thập thần Thiên, Chính Tài, đại biểu đối
với thế giới vật chất muốn chiế làm của riêng cho mình mạnh mẽ, có tính cách coi trọng hiện thực.
2, Bính Đinh hỏa, có đủ đặc tính hướng lên ánh sáng, không chịu thua, ở lúc thất bại cũng có thể nhìn
đến hi vọng, có quan hệ đối ứng cùng tâm tính thập thần Quan Sát, chủ làm việc có tinh thần hăng hái
truy cầu danh lợi.
3, Mậu Kỷ thổ, có đủ đặc tính là nuôi dưỡng vạn vật có quan hệ đối ứng cùng tâm tính thập thần Ấn
thụ, chủ có tính bao dung, tu dưỡng, trung hậu thành thực.
4, Canh Tân kim, kiên cường, cứng rắn, không chịu khuất phục, có quan hệ đối ứng cùng tâm tính thập
thần Tỉ Kiếp. Chủ là người khá là vội vàng, có tính xâm phạm, thích đấu tranh.
5, Nhâm Quý thủy, có đủ đặc tính lưu động, có quan hệ đối ứng cùng thập thần Thực Thương, chủ
người mẫn cảm, nhiều ảo tưởng, nhiều mưu kế, thích biến động, có lúc nghĩ rằng làm được nhiều việc.
Bên trên là chỗ đại biểu tâm tính, ở trong tứ trụ làm sao nhìn thấy, làm sao vận dụng, chủ yếu là thể
hiện mấy phương diện như sau:
1) Nhật chủ, xem nhật chủ là ngũ hành nào.
2) Trong trụ ngũ hành tối vượng rất có thể thể hiện tính cách cùng đặc tính của nhật chủ.
3) Ngũ hành có cự ly gần kề nhật chủ là ảnh hưởng lớn nhất đối với nhật chủ.
4) Tổng hợp vượng suy, tổng hợp phân tích.
Chương 08, Bát tự đoán sinh tử
Cát hung thì dự trắc tốt, còn sinh tử thì rất khó đoán. Bát tự đoán sinh tử là việc khiến cho người dự
trắc đau đầu nhất, cũng là một mục bát tự khó đoán nhất. Chính là bởi vì khó, một khi đoán chuẩn thì
lại là rất có thể khiến cho người phải khâm phục, lại là chuyện làm cho người dự trắc tự hào nhất, do
vậy mà xưa nay học Dịch đều cần cù suy nghĩ đối với chỗ này, vừa nhìn kết quả mà chùn bước.
Dân gian có vài cao nhân, bày ra bát tự, dụng trí tính toán, liền biết ngay người này là bát tự người
chết, khiến người cầu trắc phải thán phục, đương nhiên chỗ này không phải là chuyện một sớm một
chiều, có đủ kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Có manh nhân sử dụng quyết《 Lộc đảo Mã tà 》 đoán
sinh tử, tỷ lệ chuẩn xác ở 60% -70%, vận dụng tinh thục có thể đạt đến càng cao. Nhưng quyết 《 Lộc
đảo Mã tà 》 đối với cùng loại hình áp dụng có đúng, có loại hình lại không có đúng. Thực ra có rất
nhiều phương pháp xem sinh tử. Bản môn phái có ba loại nguyên tắc đoán sinh tử, tỷ suất chuẩn xác
rất cao vượt qua cả phép quyết 《 Lộc đảo Mã tà 》 , hơn nữa áp dụng lại rộng rãi, đối với các chủng
loại hình bát tự đều có độ linh nghiệm nhất định. Chỉ cần sử dụng linh hoạt, tỷ suất chuẩn xác có thể
đạt trên 80% . Sau đây đem phương pháp này công khai với mọi người.
Có 3 nguyên tắc phán đoán có liên quan đến vấn đề sinh tử:
1) Phản ngâm luận sinh tử.
2) Phục ngâm luận sinh tử;
3) Thai Dưỡng Sinh cùng Tử Mộ Tuyệt.
Sau đây là luận thuật tỉ mĩ:
1) Phản ngâm luận sinh tử: Có một nguyên tắc chính là vận thiếu niên phản lánh đến trụ năm, vận
thanh niên phản lánh đến trụ tháng, vận trung niên phản lánh đên trụ ngày, vận về già phản ánh đến trụ
giờ. Cũng chính là nói giai đoạn đại vận tương ứng năm tuổi phản lánh đến giai đoạn năm tuổi tương
ứng trên trụ hạn vận, chủ bản thân ở trong 10 năm đại vận này có lo cho tính mệnh, đây là bước thứ
nhất định ban đầu, người này ở đâu trong bước đại vận có lo cho tính mệnh.Bước thứ hai, tìm xem lưu niên ở trong lưu niên nào ứng hung, thông thường khiến cho người dự trắc
có thể tìm ra 2 hoặc 1 lưu niên nào là nghiêm trọng nhất, cơ bản là làm sao xác định lưu niên chứ?
Thông thường đều ở lưu niên cùng đại vận hoặc là năm cùng mệnh cục phục ngâm hoặc là gặp năm
nhật nhập mộ là ứng hung.
Có vài người gặp họa sinh tử cũng không có chết, nhưng nói chung là có mùi vị cửu tử nhất sinh, có
định thời khắc sinh tử như nghìn cân treo sợi tóc.
2) Nguyên tắc thứ 2 là phục ngâm: Phạm vi phục ngâm luận sinh tử không giới hạn cùng chung một
giai đoạn thời gian đại vận đến xung tứ trụ cùng một giai đoạn thời gian, chỉ cần xem đại vận cùng
mệnh cục có hiện tượng phục ngâm, biểu thị rõ giai đoạn đại vận này có tượng người chết hết thọ. Loại
phương pháp này xem sinh tử có lúc cũng không phải là bản thân có họa tử vong, rất khả năng là chỉ
người thân có họa sinh tử. Chủ yếu là xem dụng thần, dụng thần bị khắc thì là bản thân, nếu không thì
xem trụ lục thân nào, thập thần nào bị xung, bị khắc vô sinh, thì đó là lục thân này.
Xác định ở bước đại vận nào có họa sinh tử thì tiếp tục suy lưu niên, thông thường là ở lưu niên phục
ngâm ứng họa, cổ thư có nói: “Phùng Tuế Vận cùng lâm, bản thân không chết thì người khác chết.” Tuy
nhiên cũng không phải đều là như vậy, nhưng cũng là một tiêu chuẩn và phương pháp đoán ứng kỳ
sinh tử. Bên trên chính là sử dụng nguyên tắc Tuế Vận cùng lâm. Phục ngâm bao gồm cả tuế vận cùng
lâm, còn có một điểm có lúc cũng không phải là ở năm phục ngâm mà chết. Thường là ở phục ngâm
vừa đúng gặp hợp, ngũ hành sau khi hợp lại cùng thuộc về ngũ hành phục ngâm cũng là ứng kỳ.
3) Nguyên tắc thứ 3 là Thai Dưỡng Sinh cùng Tử Mộ Tuyệt: Đây là nguyên tắc khá coi trọng ở xung hội
hợp, trong tuế vận mất mạng nhất định là có cảm ứng, như thế nào là cảm ứng chứ? Chính là nhất
định nhật nguyên phải là chỗ thập thần đại biểu thân nhân ở đất Thai Dưỡng Sinh hoặc Tử Mộ Tuyệt bị
xung đến bản mệnh, hoặc từ bên ngoài xung nhập bản mệnh, hoặc là ở trong nguyên mệnh bị vận trình
xung mất. Hoặc là bị hợp nhập bản mệnh (từ đại vận hoặc lưu niên đến bản mệnh) hợp xuất bản mệnh
(vật ban đầu có ở trong mệnh, bị tuế vận hợp đi ra ngoài) nhóm nguyên tắc này cái gì cũng đều có thể
lấy luận, khá là phức tạp, thông thường nếu như không có quá đầy đủ thời gian, là không có cách nào
đi bày ra từng cái một, mệnh cục đều có các loại lục thân Thiên Tài, Chính Ấn, Chính Quan …, không
có cách nào đi đối chiếu từng cái lục thân Thai Dưỡng Sinh cùng Tử Mộ Tuyệt. Trừ phi là ở lúc nghiên
cứu mệnh tạo của bản thân.
Lấy Thai Dưỡng Sinh cùng Tử Mộ Tuyệt đoán sinh tử, không những có thể chỉ lấy nhật chủ để đối
chiếu từng việc, mà xem lục thân sinh tử cũng lấy phép này để đối chiếu từng việc, xem nhật nguyên
hoặc lục thân ở nguyên mệnh cục, cùng trong hành vận có hay không có gặp phải Tử Mộ Tuyệt, nếu
Tử Mộ Tuyệt, ở mệnh cục ở đại vận, coi toàn bộ, như vậy có thể định ra ban đầu, ở bước vận này là có
họa sinh tử, lại gặp lưu niên tử, mộ, tuyệt thì chính là ứng kỳ sinh tử.
Về phần Thai Dưỡng Sinh, lại rất sợ trường sinh bị xung xuất xung mất, gặp đại vận xung mất, tất có
họa sinh tử, gặp năm gia tăng lực xung, đó là dấu hiệu có chuyện sinh tử.
Ví dụ như, Càn tạo:
Đinh Canh Quý Ất
Tị Tuất Sửu Mão
Đại vận: Kỷ Dậu (6 tuổi).
Lưu niên: Giáp Dần.
Bản tạo này ở bước đại vận thứ nhất, lưu niên Giáp Dần thì qua đời, nhật nguyên Quý thủy thấy đến
chi giờ Mão mộc là trường sinh, rất sợ hợp xuất (hợp hóa mất) xung xuất, Thai Dưỡng cũng như vậy,
Thai chính là mang thai, thai khí động hài nhi, thì phải lưu sản, nguyên thần khí thai nếu nhổ tận gốc thì
không có cách nào hoàn thành cuộc đời, mà Thai Dưỡng Sinh vừa đúng là giai đoạn trước và sau của
bảng Thập Nhị trường sinh, tiến triển sinh mệnh, khí Thai Dưỡng Sinh là ở mặt trước, còn mặt sau là
Tử Mộ Tuyệt.
Bản tạo là trường sinh bị xung xuất mệnh cục, nhổ tận gốc rễ, bất kể xung là ở một trụ thời gian nào,
chỗ này xung rất lợi hại, bởi vì đại vận là vận Kỷ Dậu, Dậu cùng Tị Sửu ở trong mệnh hợp thành kim
cục, gia tăng lực lượng Dậu kim có nhiều tin tức, đến xung Mão, chỗ này thì bát tự phạm nguyên tắcxung xuất hoặc hợp xuất Thai Dưỡng mà chết. Phùng lưu niên Giáp Dần, Mão do Dần mộc bang phù
không tuân phục xung khắc, tất dẫn đến kim mộc tương chiến, kết quả nhật chủ gặp tai ương.
Lại như Càn tạo:
Quý Bính Mậu Đinh
Mùi Thìn Thân Tị
Đại vận:
Ất Giáp Quý Nhâm Tân Canh
Mão Dần Sửu Tý Hợi Tuất
10 20 30 40 50 60
Bản tạo: Vân lúc về già, đến xung trụ giờ, đại vận Tân Hợi cùng trụ giờ thiên khắc địa xung, cùng
nguyên cục phản ngâm, cho nên ở bước đại vận này có lo cho tính mệnh, không chết cũng nửa cái
mạng cửu tử nhất sinh, là cửa khẩu tính mệnh cả đời, từ năm 51 tuổi bắt đầu là tính toán về già, kết
quả ở trong bước vận này phát sinh tai nạn tính mệnh hai lần, may mắn đều ở đất tuyệt xứ phùng sinh.
Đến vận Canh Tuất, là trụ đại vận thứ sáu, cùng trụ tháng đều là thiên khắc địa xung, Tân Hợi và Canh
Tuất 2 đại vận này vừa đúng quá gần kề, đây là vận Canh Tuất, không những xung đề cương, mà còn
là đất nhật chủ mộ khố. Thời xưa ở trên mệnh lý có một nguyên tắc, là: Dụng thần ở đất tử tuyệt hoặc
dụng thần bị hợp bị xung tiêu tan, đều có nói là lo cho tính mệnh.
Bản tạo ở trong 50-60 tuổi, 53 tuổi sau khi mở hội nghị ở Bộ Nam Kinh trung ương đi ra thì bị đâm
chưa chết, 56 tuổi năm Mậu Dần, chạy đến Việt Nam bị bắn chưa chết. Vận Canh Tuất năm Giáp Thân
đến 62 tuổi bởi vì đến Nhật Bản mà qua đời
VD Càn tạo:
Quý Tân Tân Mậu
Tị Dậu Mão Tuất
Vận:
Nhâm Quý Giáp Ất Bính
Tuất Hợi Tý Sửu Dần
2 12 22 32 42
Bản tạo 12 tuổi hành vận Quý Hợi cùng chi năm Tị xung, đây cũng là một cửa khẩu, ở lúc 12-17 tuổi sẽ
gặp đến chuyện phát sinh lo cho tính mệnh, hiện hành vận Ất Sửu, Tị Dậu Sửu tam hợp tăng cường
lực kim, đến xung chi ngày Mão, mà Mão này vừa đúng là giai đoạn hạn vận trung niên, bản tạo lúc 36
tuổi vừa vào trung niên thì sẽ có lo cho tính mệnh, vì sao ở năm này có lo cho tính mệnh chứ? Chỉ có
phát sinh ở năm Tị Dậu Sửu hoặc là lực lượng lưu niên tăng cường bang trợ Dậu kim, năm 1988 năm
Mậu Thìn, Thìn Dậu hợp hóa kim. Vốn là trong bát tự có Mão Dậu xung, trụ trung niên bị đến tổn
thương, như vậy Dậu Thìn hợp kim khiến Mão mộc bị nhổ rễ tận gốc. Năm sau tất có họa sinh tử, nếu
không thì cũng khó mà tránh qua Kỷ Tị. Tị Dậu Sửu hợp kim cục. Nhật chủ lại gặp đất tử địa.
Thực tế: Năm 1988 năm Mậu Thìn chết vì bệnh ung thư.
Chương 09, Bát tự xem họa thương bệnh lao tù
Có vài manh nhân, vừa nhìn bát tự liền có thể rất nhanh tìm người này là có bệnh tàn hay không, thân
thể có chứng bệnh gì, có vết thương hay không …, đây là tuyệt hoạt, là bản lĩnh chân thật, nói trắng ra
là từ kết quả ngũ hành sinh khắc chế hóa. Nhưng nói như vậy, lại rất chụp mũ. Ví dụ như Đinh hỏa bị
khắc, kết quả là bệnh tim máu huyết hay là thần kinh, hay là bệnh trên con mắt, là không xác định
được. Nếu bạn dựa vào kinh nghiệm được vài năm công phu mới có thể từng bước lấy ra cách thức
phân biệt hai việc này, ở đây bất tất luận tỉ mĩ ngũ hành sinh khắc, đem một vài thương bệnh cùng lao
tù ở trong mệnh cục nói cho mọi người cùng tham khảo, chúng ta cầm đến sẽ dùng, tiết kiệm thời gian
và tiết kiệm sức lực. Để nghiên cứu làm ra máy ti vi, sau khi bạn học kỹ thuật chế tạo thì đi sản xuất, hà
tất lại phải đi nghiên cứu từ đầu, sáng tạo từ đầu.1) Can năm là Bính, thiên can trụ ngày, giờ có Nhâm Quý thủy, nếu thủy vượng, hỏa nhược, chủ người
này có bệnh đôi mắt, nghiêm trọng thì sẽ bị mù.
2) Giáp Ất mộc ở can năm, trụ giờ, ngày có Canh Tân kim vượng, đầu mặt tất có tổn thương, vết sẹo.
3) Can năm bị khắc, chi năm bị hình, chủ đầu méo mắt lệch.
4) Trong mệnh cục có Dương Nhận gặp chi tháng xung phá, bị tàn tật.
5) Trong tứ trụ có Kỷ Mão, Kỷ Dậu chủ có bệnh đau lưng, chân thọt, hoặc người nhà có người bệnh
lưng chân.
6) Chi năm tháng có Thân, trụ ngày hoặc giờ là Canh Dần, chủ có họa hại thân tổn thương chân.
7) Can năm là Thương quan, chủ đầu có tổn thương, nhất là Giáp mộc ở can năm lại là Thương quan,
tất là không sai.
8) Can năm có Bính hỏa Thương quan, chủ đầu có chứng lở loét.
9) Dương nhận lập tứ chi là kỵ, tất làm quỷ không đầu.
10) Trụ tháng có Thương quan vượng là kỵ, mà trong trụ có hỏa bị thủy khắc không cà thọt thì mù.
11) Thương quan kẹp Sát là kỵ, không thọt cũng đui.
12) Thương quan, Thất Sát kẹp nhật chủ là kỵ, tất do tai họa bất ngờ mà chết.
13) Kiêu Thực kẹp nhật chủ là kỵ, đa số là quỷ hung tử.
14) Hỏa táo, thổ táo hoặc tạo là Giá Sắc cách, tất do tai họa xe cộ, ác tật, hoặc đổ máu, đao kiếm mà
chết.
15) Trong tứ trụ có mộc thổ lưỡng vượng, chủ da dẻ có tổn thương, mà tỳ vị có bệnh.
16) Trong tứ trụ kim mộc lưỡng vượng, tương chiến chủ gân cốt có tổn thương.
17) Nhật chủ gặp vượng hỏa khắc xiết năng, dễ gặp hỏa tai, điện hoặc bị phỏng.
18) Nhật chủ gặp vượng thủy khắc xiết nặng, dễ gặp thủy tai hoặc họa xe cộ.
19) Nhật chủ gặp vượng mộc khắc xiết nặng, dễ bị thương do côn bổng hoặc ngã từ trên cao bị
thương.
20) Nhật chủ gặp vượng thổ khắc xiết nặng, dễ gặp kim khí hoặc họa xe tung.
21) Nhật chủ gặp vượng thổ khắc xiết nặng, dễ gặp đụng tổn thương, té ngã bị thương hoặc bị đánh
tổn thương.
22) Canh Thân, Tân Dần đủ, kim lại nhiều, lại hành vượng vận đầy đủ chủ người chết do binh đao.
23) Trụ năm là Mậu Thân, ngày hoặc giờ là Ất Dậu, chủ trước tiên là có kiện tụng, sau bị ném giếng mà
chết hoặc do thủy, uống thuố độc mà chết.
24) Nếu trụ năm là Mậu Thìn, trụ ngày hoặc giờ là Quý Dậu chủ vì do trộm cướp mà phá sản.
25) Trụ ngày là Canh Ngọ, trụ giờ là Tân Tị, chủ người có nhiều bệnh về tư tưởng.
26) Trụ ngày là Ất Dậu, trụ giờ là Giáp Thân, ở lúc nhỏ có bệnh gan phong.
27) Trụ năm nạp âm là thổ (thủy) còn ba trụ khác nạp âm có một là thủy (thổ), mà chi ngày, giờ là Dần
Mão, chủ cả đời nhiều bệnh tật ho suyễn, phong đàm.
28) Thiên can tứ trụ thấy Đinh, Quý tương chiến, chủ người có nhiều tật bệnh về tư tưởng.
29) Thủy vượng, ít thổ chủ tỳ vị có bệnh ( đau bao tử).
30) Trong trụ có nhiều Thìn Sửu thấp thổ, lại gặp nhiều thủy, thủy vượng, da dẻ có bệnh, da khô, lang
ben …
31) Trong trụ tỷ số kim nếu người sinh mùa đông, mà Sửu thổ nhiều hoặc thổ nhiều, đa số chủ nhân có
bệnh phổi.
32) Nhâm thủy nhược, đắc vượng kim sinh, dễ mắc bệnh bàng quang kết sỏi.
33) Quý thủy nhược, đắc vượng kim sinh, dễ mắc bệnh kết sỏi thận.
34) Giáp Ất mộc thái vượng hoặc thái nhược dễ mắc bệnh gan mật.
35) Địa chi tứ trụ nhiều Thìn thổ là nhiều tranh kiện, có nhiều kiện tụng khẩu thiệt.
36) Mậu nhật chủ hoặc Kỷ nhật chủ, tứ trụ có Giáp Dần, gặp Giáp, Dần, Ất, Mão, vận chủ có kiện tụng
tố tụng.
37) Tứ trụ Dần, Tị, Thân, tam hình đều đủ, định có họa kiện tụng hoặc là lao tù.38) Trong tứ trụ có trụ năm là Giáp Dần, trụ ngày, giờ là Tân Sửu, định có họa quan hình.
39) Nhật chủ thân vượng, không có Thương quan, không có Tài hoặc Tài nhược, hành tài vận thì dễ có
họa lao tù.
40) Nhật chủ thân vượng, Tỉ Kiếp nhiều, lại hành vận Tỉ Kiếp hoặc Ấn vận chủ có họa quan ti lao tù
(ngoại trừ tòng cách).
41) Nhật chủ thân nhược, Quan Sát vượng, lại hành vận Quan Sát dễ có họa quan ti lao tù.
42) Nhật chủ thân nhược, Tài vượng, lại hành Tài vận, chủ có họa quan ti lao tù.
43) Trong trụ có Kiêu Ấn vượng, vận phùng Thực thần, hoặc trong trụ có Thực thần vượng, vận lại
phùng Kiêu Ấn, chủ có họa quan ti lao tù.
44) Quan tinh là dụng thần, bát tự có Thương quan vượng, phùng Quan tinh thấu ra lưu niên, dễ có
họa lao tù.
Chương 10, Tượng tin tức Thập thần quá nhiều cùng tượng khuyết Không
Trong Bát tự có một thập thần nào đó quá nhiều, hoặc thiếu khuyết một thập thần nào đó, ở trong thực
tế đều có một tượng tin tức nào? Có ý nghĩa đặc định nào?
Trong Bát tự có một ngũ hành nào đó quá nhiều (10 loại) tất có những ngũ hành khác quá ít, quá nhiều
thì tất nhiên có đặc điểm thiếu khuyết quá nhiều thì sẽ có tượng tin tức thiếu khuyết, ở đây đem chỗ
này tượng này triển khai một lúc, cung cấp cho đồng đạo, tham khảo, ứng dụng:
(Một) Tượng tin tức bát tự có Ấn tinh quá nhiều
1, Nhật chủ tính ỷ lại lớn, tâm không có chí lớn, cả ngày lười nhác không muốn làm việc gì.
2, Không có chủ kiến, chủ ý hay thay đổi, thích nghe theo người lớn.
3, Thích nghe lời nói tốt, thích cung phụng.
4, Tính hướng nội không thích nói ra, kín miệng.
5, Học nhiều ít thành, làm việc có đầu không có đuôi.
6, Tố chất thân thể kém, nhiều bệnh.
7, Đơn vị công tác biến động khá nhiều, quan hệ cùng lãnh đạo không tốt.
8, Cả đời trong trụ quá rất nhiều nhà, thường di dời, thông thường lấy Ấn tinh (bao gồm cả chi tàng) số
mục định cả đời có nhiều dời nhà nhiều lần.
9, Nữ nhân khắc con cái, đa số có chuyện lưu sản.
10, Thích động gân não, việc gì đều không muốn làm cho quá phức tạp
Hai, Tượng tin tức Bát tự quá nhiều Quan Sát
1, Tinh thần ũ rũ, thiếu khuyết ý chí chiến đấu, nhát gan sợ việc, tâm không có chí lớn.
2, Thân thể khá kém, nhiều tai nạn bệnh đau.
3, Tiểu nhân nhiều, có chí khó vươn, có nhiều tài mà không gặp thời.
4, Sinh hoạt, công việc cùng bên ngoài, áp lực xung quanh lớn tinh thần gánh vác nặng, mệnh lao khổ
bần tiện.
5, Suy nhược, đa số bị người coi khinh, không có chí tiến thủ, tính cách hay ngại ngùng, hướng nội.
6, Nữ mệnh hôn nhân bất thuận, nhiều chồng, trước kết hôn e có bị chuyện nhiều lần mất trinh.
7, Cả đời buồn nhiều vui ít, khó thành người có năng lực.
8, Làm việc, phục vụ, sợ ra ngoài, không muốn xuất đầu lộ diện.
Ba, Tượng tin tức bát tự nhiều Tỉ Kiếp1
, Không tụ tài, hợp bè làm ăn, tất phá tài.
2
, Thích xâm phạm người khác, thích gây chuyện thị phi, thích đấu tranh, cứng đầu, vô lý nhưng cũng
vẫn tranh cải.
3, Mệnh vợ bạc bẽo, cha đoản thọ.
4, Thân thể bản thân khá là cường tráng, ít có bệnh, chịu khó chịu đựng được khổ cực.
5, Khá có thành kiến cố chấp, hay để tâm vào chuyện nhỏ nhặt.
6, Hay sĩ diện, tâm tính tự tôn mạnh khó mà nhận thấy sai lầm của bản thân, thường là không phục tâm
phục khẩu.
7, Phần đa là lao động thể lực, dựa vào thể lực mà kiếm tiền.
8, Không muốn động gân não, xung động, tính khí không tốt.
9, Nhiều bạn bè, nhân duyên tốt, nhưng người thân hay đến kiếm chuyện vì tiền tài.
10, Dễ dàng bị lừa gạt, tài đến tài đi khó mà tồn tại lâu dài.
Bốn, Tượng tin tức bát tự quá nhiều Tài tinh
1, Loại râu quặp (sợ vợ) vợ quản lý nghiêm ngặt, dễ có họa bệnh thương.
2, Cả đời dễ vì tài hoặc vì chuyện nữ nhân mà gặp họa hoặc gây tới chuyện kiện tụng khẩu thiệt.
3, Văn chương không tốt, không thích đi học, cấp bằng văn hóa khá thấp.
4, Năng lực lĩnh đạo không tốt, thuộc hạ không nghe theo sự chỉ huy của mình.
5, Tham tài, keo kiệt, muốn tiền mà không muốn sống, nhận tiền chớ không nhận người.
6, Trọng tài khinh nghĩa, tham làm hưởng thụ, ham ăn biếng làm.
7, Thích hợp dựa vào thể lực hoặc mạo hiểm kiếm tiền.
8, Khắc mẹ, mẹ nhiều bệnh tai, mẹ không thọ dài
Năm, Tượng tin tức bát tự quá nhiều Thực Thương
1, Nói nhiều, miệng tạp, nhà đông dài, nhà tây ngắn, hay chuyển lời, hành trang tâm lý không ít chuyện,
lời nói không giữ gìn, có chuyện mà không nói thì khó chịu.
2, Tâm hẹp hòi, ít độ lượng, hay tính kế báo thù, báo oán.
3, Tự cao tự đại, nhiều thanh cao, ngạo mạn, khinh thị người khác, duy chỉ có ta là độc tôn, hay châm
biếm người, ngại thỉnh cầu, nhân duyên không tốt, bị người ác cảm.
4, Thích ca múa, thích tửu sắc, có ăn có uống, đại đa số là thân mập, phóng đãng, nhân tính không
muốn bị người quản thúc.
5, Cùng Quan là không hợp, khó cùng lĩnh đạo thân tình, hay đối nghịch với quan.
6, Tư tưởng truy cầu công danh khá nặng, chú trọng cái nhìn của người khác đối với bản thân.
7, Tâm hay đố kị, hay nhờ vả.
8, Nữ tính đa số là phóng đãng, đa số là vũ nữ, ca nữ, kỹ nữ. Phong lưu cùng với khách làng chơi.
- Nam mệnh khắc con cái, con cái yểu chiết hoặc không thành người.
10, Thích hành nghề tự do, không thích hợp đi làm công chức, khó có quan chức hoặc là làm quan
không bền (ngoại trừ Thương quan thương tận).
Bên trên là tượng tin tức bát tự có thập thần quá nhiều, như vậy ở trong bát tự thiếu khuyết một thập
thần nào đó đều sẽ có tượng tin tức nào? Lý thuyết tiêu chuẩn bát tự thiếu khuyết là thiên can hoặc địa
chi bản khí tàng can ở trong bát tự không có chứa thì gọi là thiếu khuyết.Sau đây cung cấp tượng tin tức cho mọi người tham khảo:
Một , Bát tự thiếu khuyết Ấn tinh
1, Lúc nhỏ hay sinh bệnh, không muốn uống thuốc.
2, Cùng mẹ là duyên bạc, cùng trưởng bối duyên bạc (ngoại trừ tòng cách)
3, Mặt sau nơi ở có kênh mương, hoặc địa thế bằng phẳng, không có núi, không có nhà cửa, vật kiến
trúc có tác dụng tầng cao.
4, Trí nhớ kém, hay quên, ở trong xã hội phần lớn học không có chỗ dùng.
5, Không có người giúp đỡ, không ở trong công ty xí nghiệp nhà nước, đơn vị nhà nước (ngoại trừ tòng
cách).
Hai, Bát tự thiếu khuyết Tỉ Kiếp
1, Người nhiều cô độc, không có chỗ dựa, ít bạn bè, mọi chuyện cá tính là dựa vào bản thân mạnh mẽ.
2, Chỉ dựa vào loại nghề nghiệp như kỹ nghệ, thủ nghệ tinh mà mưu sinh, phục vụ kỹ thuật, mà người
khác chủ động đến nghề nghiệp của bản thân.
3, Ít anh em chị em.
4, Thích tĩnh, không thích động, cá tính cô tịch, cùng người không hợp bầy.
5, Không muốn hợp bầy làm ăn, thích một mình, mọi chuyện không muốn đi cầu người khác.
6, Trong mắt không có bạn bè, anh em chị em tồn tại, không muốn có cân bằng cùng tiếp xúc với anh
em chị em.
7, Không thích loại sự nghiệp mở công xưởng, cùng bán hàng, đại lý.
8, Ít lời ít nói, chỉ quan tâm mình, không muốn quan tâm người khác, liên lạc với người khác.
Ba, Bát tự thiếu khuyết Thực Thương
1, Hành sự có tâm kiên nhẫn, ít biến động, nhưng gặp năm Thực Thương, thì có ý thay đổi, tất có chức
nghiệp, chỗ ở, tư tưởng quan niệm, chuyện thay đổi đi theo hướng phương diện đầu tư.
2, Bát tự không thấy Thực Thương, lúc nhỏ phản ứng ngu độn, chậm biết nói, hoặc lời nói không rõ,
gặp năm Thực Thương vượng tài vận dần dần chuyển tốt.
3, Bát tự không thấy Thực Thương, giỏi giữ bí mật, không muốn loạn ngôn loạn ngữ, không thích lý lẽ.
4, Là người nói ra, chú ý đúng mực, không muốn tán gẫu.
5, Không thích vận động, ca hát, khiêu vũ, hoặc là nói người này có giọng hát không hay, ca hát qua lại,
tiến nhịp khiêu vũ không quá hài hòa, điệu bộ không đẹp đẽ.
Bốn, Bát tự thiếu khuyết Tài tinh
1, Cả đời tài đến tài đi, công dã tràng, nhiều lắm đại tài thì lại phá đại tài, thường là nửa năm đắc tài,
nửa năm sau thì phá tài.
2, Phá tài phần lớn là phá vô tình, không phải bị lừa bị cướp đoạt, chính là phương diện bệnh thương
tai, nói chung phá tiền là khá lớn.
3, Cùng với cha duyên bạc, cha đa số chết sớm, hoặc bệnh tàn, không có tài năng.
4, Cùng vợ duyên phận bạc, vãn hôn, tình cảm vợ chồng không tốt, khó mà sống đến bạc đầu.
5, Bát tự không thấy Tài tinh, kiếm tiền cũng rất khó, dựa vào thể lực kiếm tiền là khá nhiều, không có
tài sản bên ngoài (ngoại trừ có Thực Thương)6, Tiêu tiền không có kế hoạch, hoặc kế hoạch không nghiêm cẩn, cho nên vì mù quáng đầu tư mà phá
tài.
Năm, Bát tự thiếu khuyết Quan tinh
1, Không thích người khác quản thúc, trong mắt không có pháp luật, làm theo ý mình, khi hành sự tâm
địa bất chính, hội nhập hắc đạo, đồ phỉ. Nếu ở giới quân cảnh, thì có tinh thần không sợ hi sinh, có lập
đại công.
2, Nữ mệnh duyên chồng bạc, đối với chồng tình cảm không sâu, có tâm thái ôm lấy cũng được mà
không có cũng được.
3, Thích nghề tự do, sẽ không có công chức, nếu tòng cách, cần thiên can hoặc bản khí địa chi có Ấn
tinh mới sẽ có công chức.
4, Rất khó làm quan, cùng quan là vô duyên.
5, Nam mệnh cùng con cái là không có duyên, không quan tâm con cái, hoặc con cái có yểu chiết (chết
yểu), tượng xa rời bản thân.
Chương 11, Bát tự xem đặc trưng thân thể cùng tướng mạo
Thông qua bát tự xem một người cao thấp, thân thể béo gầy, bộ phần thân thể nào có nốt ruồi. Tóc dày
mỏng, phát như thế nào. Da trắng hay đen. Đây tuy không phải là nội dung dự trắc chủ yếu nhưng có
lúc lại có thể gia tăng sắc thải, khiến người phải kinh ngạc. Tất nhiên, người đến xin cầu trắc, thì ở
trước mặt bạn, loại ý nghĩa của nội dung dự trắc này không lớn. Nhưng đối với Manh nhân mà nói, đối
với đương sự cầu trắc vì không thấy ở trước mắt nếu bạn có thể nói ra được một hai đặc trưng, vậy sẽ
luôn khiến cho người cầu trắc phải thán phục, cho là như thần. Thực chất xem đặc trưng thân thể cũng
không phải là sự tình rất khó. Chỉ cần hiểu rõ đạo lý ở trong đó thì bạn có thể nói mà không suy nghĩ
nhiều. Không cần phải phân tích tỉ mĩ, nếu muốn biết đặc trưng thân thể con người, trước tiên bạn phải
biết, can chi từng ngũ hành, sẽ đại biểu cái gì, trong tứ trụ năm, tháng, ngày, giờ, từng trụ sẽ đại biểu
bộ vị thân thể nào, sau đó bạn mới có thể nhìn ra thân thể người này có bộ vị nào là đặc trưng.
Cầm một bát tự làm thành một người, thiên can là bên phải còn địa chi là bên trái. Chi ngày là đại biểu
trung tâm con người.
Lại nắm trụ năm đại biểu bộ phận đầu cổ con người. Trụ tháng đại biểu bộ ngực. Trụ ngày đại biểu
phần bụng. Trụ giờ là vị trí bên dưới phần eo.
Lấy những nguyên tắc này để xem trước, sau, trái, phải, có lúc sẽ có mâu thuẫn, sẽ khiến cho người
cảm giác mơ hồ, không biết theo con đường nào, đây tất cần phải dựa vào kinh nghiệm.
Như vậy từng ngũ hành ở trong bát tự lại đại biểu cái gì chứ?
1, Mộc ở trong ngũ hành, đại biểu lông tóc trên thân thể, móng tay.
2, Thổ ở trong ngũ hành, đại biểu da thịt trên thân, cũng đại biểu nốt ruồi trên thân.
3, Kim ở trong ngũ hành, đại biểu răng, xương cốt cách trên thân.
4, Thủy ở trong ngũ hành, đại biểu phần miệng hoặc bộ phận sinh dục trên thân.
5, Hỏa ở trong ngũ hành, đại biểu con mắt trên thân con người.
Ngũ hành đại biểu vóc dáng chiều cao, màu da, tướng mạo
1, Giáp mộc, cao, thẳng đứng.
2, Ất mộc, cao, thon thả.
3, Bính hỏa, vóc dáng có thể cao, mặt đỏ hồng.
4, Đinh hỏa, vóc dáng có thể cao, khá là tuấn tú.
5, Mậu thổ, vóc dáng thấp, sắc mặt màu da vàng.
6, Kỷ thổ, vóc dáng thấp, sắc mặt màu da vàng.7, Canh kim, vóc dáng cao, màu da trắng.
8, Tân kim, vóc dáng cao, màu da trắng.
9, Nhâm thủy, vóc dáng trung bình, xinh đẹp.
10, Quý thủy, vóc dáng trung bình, xinh đẹp.
Đây là đặc trưng ngũ hành thông thường, cụ thể ở lúc phán đoán tướng mạo, có thể vận dụng linh
hoạt.
VD Giáp mộc là vóc dáng cao, nếu như tọa dưới tiệt cước, thời thanh thiếu niên lại hành vận thổ kim,
vóc dáng tất nhiên sẽ không có cao, trái lại trở vóc dáng thấp. Cho nên xem vóc dáng cao thấp thì ngũ
hành là một cơ sở. Xem vóc dáng cao thấp thì phải xem hành vận là sinh phù hay chế ức, ở thời thanh
thiếu niên vận gặp sinh phù, thì vóc dáng có tăng cao, ức chế thì thành thấp. Như vậy thì từng ngũ
hành có vóc dáng cao thấp cơ sở là bao nhiêu chứ? Ở đây không có định luận. Bởi vì đất nước khác
nhau, khu vực khác nhau, chủng tộc khác nhau, thì tiêu chuẩn vóc dáng cao thấp sẽ khác nhau. Lấy
người Trung Quốc bình quân giá trị để xem tổng thể lấy một người xấp xỉ bình quân giá trị cung cấp
cho mọi người tham khảo. Đây cũng không phải là con số chết hay sống:
1, Chiều cao mộc ngũ hành:
Nam: 1. 73 m, Nữ: 1. 63 m.
2, Chiều cao Hỏa ngũ hành:
Nam: 1. 70 m, Nữ: 1. 60 m.
3, Chiều cao Thổ ngũ hành:
Nam: 1. 56 m, Nữ: 1. 46 m.
4, Chiều cao kim ngũ hành:
Nam: 1. 70 m, Nữ: 1. 60 m.
5, Chiều cao Thủy ngũ hành:
Nam: 1. 70 m, Nữ: 1. 60 m.
Xem chiều cao là cao hay thấp, lấy nhật chủ làm chuẩn là xem ngũ hành nào, ở nguyên cục vượng hay
suy, có hay không có khắc chế, càng trọng yếu hơn là phải kết hợp vận thanh thiếu niên là xem có hay
không có trợ hay chế ức, tổng hợp phán đoán mới có thể xác định một giá trị cơ bản.
Ví dụ vận dụng tổng hợp:
Càn:
Nhâm Quý Ất Nhâm
Thìn Mão Mão Ngọ
Đại vận:
Giáp Ất Bính Đinh
Thìn Tị Ngọ Mùi
1, Người này bộ vị chỗ tai cùng cổ có khối thịt lồi nhỏ không rõ ràng. Bởi vì chi năm Thìn thổ là ở phần
đầu. Giả định Thìn thổ này trên mặt có kim, kim đem khí thổ đến rút ra, nhưng không nhất định kim này
có ở thiên can, thổ kim ở địa chi kề nhau, cũng sẽ có sức dẫn động, khiến cho da cơ thịt biểu hiện ra
bên ngoài một khối bướu thịt lồi, mà bản tạo mệnh cục lại không có kim, chỉ có Thìn thổ, có thể là Quý
thủy ở trong Thìn hơi bị Ất mộc tiết ra, cho nên thịt lồi ra không rõ ràng.
2, Gần phần vai và cổ có một viên nốt ruồi hiện rõ, đây có thể khẳng định, mà chi Thìn tàng Mậu, Ất,
Quý, Mậu thổ là màu vàng, Ất mộc là màu xanh, Quý thủy là màu đen, nếu là Bính Tuất, hẳn phải là nốt
ruồi màu hồng, Bính Thìn có khả năng màu da có thể là màu cà phê.
3, Phần ngực còn có một điểm vài sợi lông ngực, mấy sợi rất ít. Bởi vì bản tạo có 2 Ấn, ở trụ tháng và
giờ, trụ tháng là phần ngực. Chi ngày là phần bụng, do vậy ở chỗ bên rốn phần bụng, cũng có thể có
mấy sợi lông riêng. Nếu như can tháng Quý thủy, đổi thành Ất mộc thì lông cũng nhiều, sẽ rất rõ ràng,
hoặc đổi thành Đinh Mão, từ hỏa dọc theo người ra ngoài, lông ngực thì khá nhiều.4
, Vùng giữa hậu môn và bộ phận sinh dục (gọi là hội âm) hoặc là bên trong đùi bên trái đoán có một
viên nốt ruồi ngầm có màu cà phê hoặc là màu phấn hồng. Bởi vì chi giờ là vị trí bắp đùi bên trái, mà
chi giờ Ngọ tàng can Đinh, Kỷ. Kỷ thổ chính là da hiện rõ có nốt ruồi, Đinh hỏa là màu hồng, là nốt ruồi
ngầm. Bởi vì chi giờ Ngọ hỏa bị thiên can Nhâm thủy cái đầu, không thấu ra ngoài.
5, Tướng mạo, ngũ quan (thường chỉ các bộ phận ở trên mặt) cân đối, bộ mặt không có vết sẹo to lớn.
Bởi vì toàn bộ thiên can đều là Ấn tinh, thiên can lại là bên ngoài, rõ ràng nhất là bộ mặt (nắm toàn bộ
bát tự làm thành phần đầu là một Thái Cực, thiên can là bộ mặt, thuộc dương, địa chi ẩn tàng thì thuộc
âm, là phần tóc) bởi vì thứ nhất là Ấn tinh có tác dụng bảo vệ hóa Sát sinh thân. Bộ vị bảo vệ, là
khuynh hướng ở bên ngoài. Thứ hai là, Thực Thương ở trong thập thần có nhiều tùy hứng ăn chơi, gây
họa dễ bị tổn thương. Cho nên thiên can có Ấn có thể khống chế Thực Thương vừa phải, mà giảm
thiểu nhận đến cơ hội thương hại bất ngờ, thiên can có Ấn, vượng thì biểu thị bộ mặt có lực hóa giải,
cho nên tất nhiên là có ngũ quan cân đối, sẽ không có vết sẹo khuyết hãm lớn.
6, Tóc đen mềm mịn, nguyên nhân là do bát tự người sinh ra có thủy mộc nhiều thì tóc là màu đen, còn
Ất mộc là mềm, thủy là màu đen, nếu bát tự nhiều hỏa thì tóc màu vàng khô ráo, phân nhiều nhánh.
7, Chiều cao là khoảng 1. 75 m, thẳng đứng. Bởi vì Ất mộc đắc nguyệt lệnh, bát tự thủy mộc tương
sinh không có kim khắc, hành vận thanh thiếu niên lại không có kim, cho nên chiều cao không có thấp.
Thực tế (1.75 m) nam mệnh, mộc chiều cao căn bản là khoảng 1. 73 m. Ở trong tứ trụ vốn có sinh, mà
bước vận thứ nhất, là Thìn vận mộc có khí, cho nên tăng thêm 20 cm, biến thành 1. 75 m.
Chương 12,《 50 điều giang hồ tuyệt mật》
Như vậy thì người mập gầy xem như thế nào chứ? Trước tiên phải hiểu rõ người chỉ có ăn có uống,
mà tính cách rộng rãi, ở dưới tình huống ít lo ít buồn thì mới có thể mập được. Có người lúc thanh niên
khá gầy, nhưng về sau trung niên lập tức mập ra, còn có người lúc thanh niên thì mập, nhưng vài năm
sau nhìn lại, lại gầy đến còn da bọc xương, cơ chế bên trong là kết quả vận hóa ngũ hành. Là giao vận
cùng mệnh cục cộng đồng tác dụng kết quả, cho nên xem mập gầy không chỉ có thể dừng ở nguyên
cục bát tự, phải kết hợp với đại vận, nhìn đoạn thời gian nào mập, thời gian nào gầy. Thôi, nói đến
chính đề. Đã biết có ăn có uống mà tính cách rộng rãi thì người dễ mập, như vậy làm sao biết bát tự
dạng nào có đủ những đặc điểm này chứ?
Tài là nguồn dưỡng mệnh, là thức ăn, không có kén ăn là mập. Thực thần, Thương quan đại biểu là hệ
thống tiêu hóa của con người. Nếu ở bát tự vượng thấu hình thành Thực thương sinh Tài, thức ăn có
nguồn không dứt, tiêu hóa lại tốt, thì dễ tích trữ chất bổ, tiêu hóa, được thân thể hấp thu, mà người có
Thực Thương hay nói hay cười. Nhất là Thực thần, xu hướng thái độ đối với sự vật đối với con người
là bình thản, dễ dàng thỏa mãn. Thỏa mãn luôn vui vẻ, cho nên bát tự có Thực Thương vượng, lại có
thể đến sinh Tài thì dễ dàng phát mập, gặp giao vận giúp cho Thực Thương cùng Tài tăng lực, thì sẽ
mập.
Trái lại, bát tự người có nhiều Ấn, đa số là hao tâm lao lực, mà lại khắc chế tài nguyên Thực Thương,
cho nên thông thường người có khuynh hướng Ấn vượng đều khá là gầy. Phùng Tài vượng vận, thân
thể mới có thể dần dần mập ra một chút.
Đây là nguyên tắc thông thường phán đoán mập gầy, nhưng độc giả không nên quên đi hai chữ vượng
suy, Thực Thương hoặc Tài thấu ra nếu bị chế hoặc không có vượng, là điều kiện không đủ để mập,
tạm thời khó mập, phùng đại vận phù khởi, Thực Thương cùng Tài cùng lúc đi khắc thần, mới có thể
mập được. Chúng ta phê tứ trụ, xem đời người, không thể giới hạn ở nguyên cục bát tự, nó chỉ là một
tượng căn bản, phải kết hợp hành vận mới là người sống sờ sờ, mới có thể nhìn ra các phương diện
biến hóa của đời người, mới có thể hợp với thực tế.
50 điều Giang hồ tuyệt mật:
1, Tiêu chí bát tự người sinh ra khi trời mưa xuống:
Phàm là bát tự người sinh có trời mưa xuống hoặc tuyết rơi, thì can chi trong tứ trụ có nhiều thủy, can
chi không có táo thổ mà toàn là thấp thổ. Về phần trời mưa xuống hay là tuyết rơi, một là nhìn thời tiết,hai là xem vị trí địa lý, ở Nam phương mùa đông không có tuyết rơi.
2
, Tiêu chí bát tự người sinh mổ:
Trong trụ có Thương, Sát, Kiêu cùng đủ hình hại, tổ hợp bất lợi chỉ người ra đời, năm đó suýt nữa nuôi
không sống đó là sinh mổ.
3, Trong trụ có 4 thủy, sinh ở trên thuyền hoặc gần nước mà sinh, hoặc sinh ở chỗ thuộc trạng thái
động.
4,Trong trụ có 3 hỏa, lúc sinh ra hàng xóm có tang sự, hoặc trong nhà có chuyện hoạn nạn khốn khó.
5, Người sinh ra ở trên đường hoặc là ra ngoài đường.
Tiêu chí tứ trụ nạp âm có hỏa thổ, mà thổ nạp âm nhiều hơn hỏa, can ngày hoặc giờ thấy Canh, nhớ là
người sinh giữa đường.
6, Tiêu chí thời gian người sinh ra vượt quá mức bình thường:
Thiên can trụ giờ cùng Thai Nguyên tương hợp, địa chi trụ giờ lại cùng địa chi Thai Nguyên liền kề
nhau (kề nhau như: Tý và Sửu, Sửu và Dần, Dần và Mão, Mão và Thìn… ) chủ thời gian người sinh ra
vượt qua khỏi bình thường.
7, Tiêu chí bát tự sinh đôi bào thai con gái:
1) Tứ trụ có Bính hoặc Đinh, có 2 trở lên, chi ngày và giờ có chữ Dần.
2) Thiên can tứ trụ có Nhâm, hoặc Quý, có 2 trở lên, chi ngày hoặc giờ có chữ Thân.
8, Tiêu chí bát tự sinh ở bờ nước:
Trong trụ can năm là Giáp, tháng, ngày, giờ, Thai có can là thủy, một mộc 4 thủy, là sinh ở bờ nước.
9, Tiêu chí bát tự người hói đầu:
Trong trụ can thấu Canh, Tân, kim, thủy, ít mộc, phùng vận kim vượng là người này hói đầu.
10, Tiêu chí bát tự người có bệnh phù tay chân:
Trong mệnh cục có Tý và Ngọ, nhận định có bệnh phù chân tay.
11, Tiêu chí bát tự có bệnh eo lưng, chân:
Chi ngày có Mão, chi giờ là Thìn, ở trong trụ Mão vượng, phùng vận thủy, mộc, chi giờ Thìn thổ thụ
thương, tất có bệnh eo lưng, chân. Nếu không thì có họa lao tù.
12, Tiêu chí bát tự người thường mắc chứng bệnh thương phong cảm mạo:
Nhật nguyên là Nhâm Quý thủy vượng, trong trụ có kim cũng vượng, thổ có thể sinh kim, kim nhiều,
thủy hàn, tất là thường mắc chứng bệnh thương phong cảm mạo.
13, Tiêu chí bát tự người làm quân nhân, công an, cảnh sát, tư pháp, bảo an:
1) Trong trụ nhiều Giáp mộc, mà địa chi có Tướng tinh;
2) Trong trụ nhiều Đinh hỏa, hoặc nhiều Ngọ hỏa, ngày tọa Tướng tinh;
3) Trong trụ nhiều Mậu Tân, là quân nhân binh lính;
4) Kiếm Phong Kim lâm ở trụ giờ, mà mang Dịch Mã lâm Tướng tinh, tất là tướng lĩnh biên cương;
14, Trụ ngày hoặc trụ giờ Đinh Dậu là tuyệt hậu không có con kế thừa, chỉ sinh con gái, mà không sinh
con trai.
15, Can năm Thất Sát chi tọa Thương Quan, là rời xa quê hương, lúc nhỏ đa số là làm con nuôi.
16, Bát tự không Tài không Ấn, là làm con nuôi.
17, Can chi trụ năm đều là Thiên Tài, đa số là làm con nuôi.
18, Tiêu chí anh em, chị em đưa người làm con nuôi:
Can năm Tỉ Kiếp, bị can tháng hợp, là tình anh em chị em hướng theo người ngoài, chủ ở trong anh
em chị em có đưa cho người hoặc là bái kết nghĩa.
19, Tứ trụ nữ nhân, lúc can giờ là Kiêu chi là Dương Nhận đa số có chuyện lưu sản, hoặc phải phẫu
thuật khi sinh đẻ.20, Chi năm cùng chi ngày phục ngâm, bản thân hoặc phối ngẫu lúc sinh ra không thấy đến ông bà nội,
tối thiểu ở trước lúc 6 tuổi ông bà nội đã qua đời.
21, Bát tự có Hoa Cái, Thái Cực tinh lâm Tuất Hợi, mà Tuất Hợi vừa đúng là Ấn tinh hoặc là Thương
quan, người này tất hiểu ngũ thuật, huyền học, cùng có duyên với đạo Phật.
22, Chi năm có phục ngâm, mà bản khí chi năm là Thương quan, bà nội là đôi bào thai, hoặc là người
có hai lần kết hôn.
23, Chi năm có phục ngâm, mà bản khí chi năm là Thiên Ấn, ông nội là đôi bào thai, hoặc là người hai
lần kết hôn.
24, Ngày Đinh sinh ở tháng Ngọ, tứ trụ không có thủy, mệnh chết yểu.
25, Trong bát tự thấy Nhâm Dần, Quý Mão, thủy nhiều là kỵ, chủ phòng ốc trong gia đình rò rỉ nước,
hoặc thường trải qua chỗ thủy vây khốn.
26, Trụ năm bát tự có Nhâm Dần hoặc Quý Mão, thủy mộc lúc là kỵ thần thì tổ phần gia đình có nước,
nếu có Tử ở năm mộc, tất là mộ phần chết ở năm mộc này, bên trong có hiện tượng tích thủy, hoặc
hiện tượng lậu thủy ( nước chảy rỉ).
27, Bát tự nhiều táo thổ, ít thủy, ít hỏa, thích uống rượu, mà tửu lượng lại cao.
28, Người có bát tự tự hình, trên thân thể đều có ám tật khó mà chữa khỏi, tối thiểu có một ám tật
không có biện pháp chữa trị tốt.
29, Người có bát tự phùng tam hình đầy đủ (như Dần Tị Thân), thông thường gặp phải một sự tình,
nhất định thì có nhiều sự kiện sự tình liên tục xảy đến.
30, Làm sao xem người mắc bệnh mà chết?
Bát tự nhìn ra là thấy mắc bệnh chết, làm sao biết là mắc bệnh gì mà chết? Tuyệt đại đa số người mắc
bệnh chết là định ở trong bát tự thiếu khuyết ngũ hành hoặc ngũ hành tối nhược cùng ngũ hành bát tự
tối vượng chỗ đại biểu vị trí bộ phận bệnh có bệnh mà chết. Đây là chỉ người chết, nhưng chỗ mắc
bệnh bình thường cũng không phải đều là bệnh do trên ngũ hành tối vượng hoặc thiếu khuyết.
31, Tiêu chí bát tự người làm đồ tể giết heo, mổ dê:
Bát tự Canh, Tân kim thấu là Ấn tinh mà vượng, địa chi nhiều Thìn, Tuất, mà ngày gặp ở Dương Nhận,
tất là người hành nghề đồ tể.
32, Tiêu chí bát tự giới diễn viên điện ảnh, minh tinh ca nhạc, biểu diễn nghệ thuật:
Thực thương vượng, Quan tinh nhược hoặc không có, nhật chủ nhiều kim, thủy, mộc. Bát tự kim thủy
lại vượng.
33, Tiêu chí bát tự cha mẹ không hợp nhau:
Bát tự Ấn tinh cùng Tài tinh kề gần ở giữa tương khắc tương xung không có thông quan, chủ tình cảm
cha mẹ không tốt, về già cải nhau, ly hôn.
34, Tiêu chí bát tự dạ dày có bệnh (xuất huyết dạ dày):
Bát tự thấy Thìn Tuất tương xung hoặc có Bính Thìn, Bính Tuất phục ngâm, phần dạ dày dễ dàng có
bệnh xuất huyết dạ dày.
35, Làm sao nhìn ra mộ phần tổ tiên ở trong rảnh nước hoặc ở bên kênh mương:
Bát tự có chi năm phùng Không, mà là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, thổ Không, Thổ Không thì hãm. Thì mộ
phần tổ tiên tọa ở trong kênh nước.
36, Trên môi, vùng lân cận nhân trung có nốt ruồi, đại biểu bản thân thường đã từng có người bị chết
nước hoặc là tai nạn do xe đụng.
37, Chi năm là Thìn, ba trụ khác nạp âm có Đại Hải Thủy gọi là “Long nhập đại hải”, tất chủ người này
phụng chức ở kinh đô (Chú thích: bát tự chỉ có một Thìn có thể là 2 hoặc có nhiều thì không phải).
38, Can ngày là thủy, bát tự nạp âm là có Thiên Hà thủy gọi là “Thủy thông thiên hà” chủ người này sẽ
có danh khí, lưu danh thiên cổ.
39, Làm sao từ bát tự nhìn ra người này là ngu ngốc đần độn? Là do “Thủy thổ hỗn tạp” . Làm sao mớitính là thủy thổ hỗn tạp chứ? Chính là ở trong bát tự những ngũ hành khác đều là thiên nhược, mà
thủy ngũ hành cùng thổ ngũ hành thế lực tương đương không phân trên dưới, mà dẫn đến ở trong
mệnh cục trình trạng thái trung hòa, gọi là Thủy Thổ hỗn tạp, chủ người ngu si đần độn, thiếu trí tuệ.
40, Người sinh ra ở tháng hỏa, ngày hỏa, giờ hỏa, tứ trụ thấy kim hỏa tương chiến, thiên can không
thấu thủy, tất có bệnh đường tiết niệu, gặp năm hỏa, năm thủy, tất có dẫn phát bệnh.
41, Bát tự thủy vượng, có Tý Mão hình, mà mộc lại là thấu can tất có bệnh gan, phùng năm thủy, tất có
bệnh dẫn phát.
42, Địa chi một khối kim thủy, sinh ở mùa đông hoặc bắc phương, định có bệnh hàn.
43, Trong mệnh cục thổ rất vượng, người nông thôn tất có bệnh tỳ vị (dạ dày).
44, Thân cường, Tài nhược, chỉ có một Tài tinh lại lạc Không Vong, chủ không vợ không tài, cả đời cô
quả.
45, Chi ngày tọa Thực Thương, bị Ấn tinh xung khắc, chủ lời nói người này cà lăm hoặc là giọng nói
không rõ.
46, Bát tự nhật chủ là mộc, sinh ở mùa xuân, bát tự lại nhiều thủy, mệnh bần tiện.
47, Làm sao xem nữ mệnh là trợ giúp nhà chồng hay là trợ giúp cha mẹ chồng?
Bát tự có khí thế Ấn tinh Tỉ Kiếp mạnh, hoặc đại vận đến đất Ấn Tỉ vận thì gia đình mẹ đẻ phát. Bát tự
có khí thế Quan Sát, Tài tinh khá vượng, hoặc đại vận đến đất Tài Quan Sát vận, thì gia đình chồng
phát.
48, Tiêu chí đặc thù bệnh gan mật: Phàm bát tự không có Tài, nhật chủ bất luận là ngũ hành nào đều
có bệnh gan mật.
49, Xem con cái giống cha hay là giống mẹ, bất luận nam nữ, phàm bát tự có khí thế Quan Sát Ấn tinh
khá cường là giống mẹ. Phàm bát tự có khí thế Thực Thương, Tài khá cường, là giống cha. Khuynh
hướng lực của cả hai đều không lớn, chủ đều giống cha mẹ hoặc đều không quá giống.
50, Tiêu chí bát tự tuyệt hậu không có con trai: Hiện rất rõ là trụ năm, tháng thiên khắc địa xung, chủ
không có con trai, nhưng có thể có con gái.
Bài “Manh phái bí điển” đến đây là hết.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.