Năm 1983, Càn tạo: Quý Hợi, Mậu Ngọ, Giáp Tuất, Canh Ngọ, Bính Lệnh. 

Đại vận khởi hành từ ba tuổi: Đinh Tỵ, Bính Thìn, Ất Mão, Giáp Dần, Quý Sửu.

Giáp mộc nhật nguyên sinh tháng Ngọ, Bính khí tư mệnh đương quyền, Giáp lâm thời suy khí mà mất thiên thời, tọa hạ Tuất trung Mậu thổ mà hao thân mất thế, địa chi vô bản khí thông căn, chỉ có Quý tọa Hợi, Nhâm sinh Giáp đắc một thế, thuận cục thân nhược. Xem xét tứ trụ không còn thế sinh phù nào khác, ngược lại có Mậu hợp khắc Quý, Canh khắc Giáp giảm thế, cục hung bất cát, âm dụng Quý thủy, cục hạn Mậu Ngọ hợp dụng đại hung.

Định cách là thực thần cách, đối với thân nhược, thực thần cượng vượng là kỵ. Nếu có khắc tiết, thực thần có thể từ hung chuyển cát. Xem xét kỹ càng tạo này, Bính hỏa tàng trong Ngọ, tổ hợp Hợi Ngọ, tổ hợp Ngọ Tuất tương đương Nhâm có ý khắc Bính và Mậu Kỷ có ý tiết Bính, cách thần Bính hỏa không có tác dụng tốt nên có thể dùng kiêu đoạt và tài tiết, cách hung biến cát, có thể nói là giàu.

Dương dụng ( công năng xã hội) của mệnh này nên chọn thế nào? Dương dụng là then chốt công danh lợi lộc sự nghiệp, nhất định phải chọn cái có lợi nhất cho nhật chủ và có thể phát huy công năng lớn nhất của nhật chủ mới có thể chọn làm dương dụng. Thiếu âm không tham gia quá trình lấy dụng Thiếu dương, khí ở địa chi trong cục chỉ còn Bính Đinh Tân Mậu Kỷ lần lượt tham khảo. Từ cân bằng tiêu trưởng tứ trụ mà nói, thương thực quá vượng tiết thân sinh tài, không nên chọn dùng. Tân quan đối với nhật chủ thân nhược chỉ có quan phi, càng bất lợi cho nhật chủ. Chính tài Kỷ thổ tuy tiết thương thực, nhưng không có lộ trình tác dụng công năng của nhật chủ. Chỉ có tổ hợp Giáp Tuất và Mậu Giáp Nhâm trong Hợi, thiên tài Mậu thổ nằm dưới chi ngày gần nhật chủ, lại có thể tiết thương thực, và có thể cầu tài tại nhà. Nhưng cũng không nên bỏ qua sự có hại cho nhật chủ, vì tài có thể sinh quan sát, nhiều tài hại mình, Mậu hợp Quý đặc biệt bất cát, không phát thì được, phát thì kém phúc hưởng thụ. Kết luận, mệnh này thiểu dương chỉ có thể chọn khí tài Mậu, tài lộ ra ngoài, đánh giá xã hội mệnh này là phát tài.

Cục hung, cách cát, dương dụng là thần của sự nghiệp, cũng là con đường phát huy công năng của nhật thể và trái phải. Mậu xuất từ thể Tuất, truy hợp ấn Quý, thì có văn bằng. Đinh trong thể Tuất là thương quan, tinh thông minh tài trí, thương khắc quan thì là người thích tự do, thương thực đục mà không thanh, nhiều con đường cầu tài, hiển tượng có chút hèn hạ. Thương khắc quan tinh hàm ý vô duyên với quan tinh, đơn vị không có phần, là người tự lực mưu sinh. Vận hành là Đông, khắc dụng Thiếu dương, nhất định làm một ngành, thất bại một ngành. Thực thương có kho, nhất định có thể liên quan đến chăn nuôi gia súc, và nên là tượng đầu tư tại nhà ở địa phương ( Ngọ hợp Tuất). Thực thương là loại thực phẩm gia súc, thổ tiết hỏa là bài tiết, và thương thực tạp, nên có tượng chăn nuôi. Ngọ và Hợi ám hợp, có ứng tượng bản thân theo đuổi nuôi heo, nhưng rất khó thành công.

Mệnh này thân nhược không thắng tài, thiên tài lộ ra ngoài Giáp Mậu gần nhau, hợp với tổ hợp Mậu Giáp trong Hợi, nhất định vì bạn bè đánh bạc mà phá đại tài. Ở năm nào? ở năm quan sát khắc nhật, dẫn động Hợi, Tuất, Ngọ tác dụng.

Đại vận Ất Mão, dẫn động thê cung thê tinh, Mão phá Ngọ, Mão hợp Tuất, Kỷ là chính tài, Mão phá Ngọ, suy phá vượng thì vượng phát, Kỷ trong Ngọ hợp Giáp, chính tài hợp nhật. Tân Mão thì có ứng đàm bạn, Nhâm Thìn thì có hỷ thê cung. Lưu niên Quý Tỵ, Tỵ Hợi, Mậu Quý tác dụng năm nay ăn có chế tiểu cát.

Lưu niên Giáp Ngọ, Mão phá Ngọ, Giáp Canh xung, Ất Canh hợp, Mão Tuất hợp, và thể Mậu Canh là Ngọ, thể Giáp cũng là Ngọ, nhiều quan hệ tác dụng như vậy thì nên lý giải thế nào? Trước tiên phân tích chủ tượng đại vận phản ánh vận này là những sự tượng lục thân và sự hạng bản thân nào, sau đó kiểm tra kỳ ứng lưu niên, quan hệ tác dụng phức tạp thì không phức tạp.

  1. Luận hợp trước: Mão Tuất hợp, có liên quan đến thê cung, thể dương dụng, có liên quan đến công tác sự nghiệp, thành Giáp thể, có liên quan đến thân thể. Tân Đinh Mậu trong Tuất, có liên quan đến quan, có liên quan đến thương, có liên quan đến tài và cha…
  2. Mão Ngọ phá: Có liên quan đến thê tinh, có liên quan đến phá tài, có liên quan đến thương tai, có liên quan đến sát khắc.
  3. Ất Canh hợp: Chủ tượng vận này hung nhất, có liên quan đến tai họa tà sát công việc của thất sát.
  4. Nhật chủ Giáp thân nhược: Dẫn phát thương sát, và tổ hợp Canh Ngọ, điềm báo đại hung.
  5. Vượng thì phát: Điềm báo sinh tài, dẫn phát thiên tài về kho, tượng tiến tài.

Trên đây là chủ tượng đại vận. Chúng ta lại từ góc độ tiêu trưởng thiểu âm thiểu dương đi phân tích: vận Ất tiết Quý hữu lực, nhưng kiếp tài cũng có thể giúp nhật tăng thế. Bất cát nhất là Mão Tuất hợp, Mão phá Ngọ, đều là suy hợp phá vượng, tính của vượng bị dẫn động mà phát, và Ngọ Tuất đều là thể Mậu, âm dụng Quý bị Mậu hợp chế đại hung. Nếu quan hệ tác dụng là vượng hợp phá suy, thì suy phát, người bị phát không có lực tác dụng can chi. Bản khí Mậu trong Tuất dương dụng bị hợp phát, Mậu là tài thuộc tính xã hội, chủ phát tài, và tài có liên quan đến thân thể. Trong cục Hợi Ngọ, Giáp Kỷ hợp, lưu niên Giáp Ngọ, dẫn phát cơ của nó, tỷ kiên hợp tài, Kỷ bị hao, kỳ là Giáp tài, ly hôn mùa xuân. Vợ mang 10 vạn đi hợp với Giáp khác, trước tháng thu đánh nhau bị quan phi bị bắt giữ.

Lưu niên Giáp Ngọ, tự tọa thương thể bất cát, lưu nguyệt Đinh Sửu, thương quan sinh tài, thân vào quỷ kho, xuống mỏ than, gặp tai nạn mỏ than mà chết, đền bù hơn 150 vạn, kết thúc cuộc đời. Thông thường đại vận lưu niên đồng thời dẫn động âm dụng và chân thể nhật nguyên đều đại hung. Cách là cách, cục là cục, minh thể lập dụng lý kỳ diệu nhất. Không có âm dụng, trước kia hay luận như vậy, thân nhược phát tài hay thân nhược làm quan không liên quan đến bản thể ngũ hành.

Mệnh này Ngọ tuyệt Hợi là tổ hợp quan trọng chí mạng, thể Mậu Ngọ tuyệt thể Quý Hợi. Quan hệ tứ tuyệt trong tứ trụ tương đối quan trọng, không thể bỏ qua. Ngọ Hợi khi nào luận ám hợp? Lấy thái cực lập luận, như tình cảm là loại hợp. Như Dần Hợi hợp, Dần Hợi phá, khi nào luận hợp, khi nào luận phá, đều có tiền đề sử dụng. Mệnh này không luận Ngọ tuyệt Hợi, khẳng định là tăng thế cục cát. Vượng suy không xem quan hệ tác dụng, tăng thế và giảm thế thì nhất định phải xem xét quy tắc chi tiết tổ hợp tác dụng. Tuyệt là thổ khắc thủy, hợp là Kỷ hợp Giáp, kéo Giáp về Kỷ, hai việc khác nhau. Ám hợp là tượng, không nằm trong thứ tự tác dụng. Luận tuyệt, thổ khắc thủy, thủy vô lực luận không được tăng thế là cát. Tạo này đắc một thế là đắc một thế Quý tọa Hợi. Nhâm trong Hợi sinh Giáp không thành một thế, chỉ dùng để luận tăng thế. Ngọ tuyệt Hợi, thổ khắc thủy, Nhâm vô lực tăng thế.

Chúng ta từ ngày chết có thể suy ra, năm Ất Mùi tháng Đinh Sửu ngày Quý Tỵ, âm dụng trong bát tự quan trọng biết bao, mỗi người chết đều liên quan đến âm dụng. Trên Ngọ có thổ, bên cạnh có Tuất Hợi.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc