(1) Tỷ Kiên (比肩) và Kiếp Tài (劫财) – Tỷ Kiên và Kiếp Tài thuộc cùng loại, thực chất là hai mặt của một thể thống nhất. Tuy nhiên, do lập trường chính – phản (cùng dấu – khác dấu với Nhật chủ) của cả hai khác nhau, nên tính năng của hai bên cũng có những điểm khác biệt trong sự tương đồng. Những điểm khác biệt chủ yếu đại khái có mấy điểm sau:
- Tỷ Kiên là vật cùng loại và cùng tính (cùng Âm Dương) với Nhật chủ, do đó có thể phản ánh tính cách mặt chính diện của Nhật chủ. Loại tính cách này dễ biểu hiện ra bên ngoài trong đời sống hoặc trong lời nói hành động công khai. Kiếp Tài là vật cùng loại nhưng khác tính (khác Âm Dương) với Nhật chủ, do đó có thể phản ánh tính cách mặt phản diện (hoặc mặt ẩn) của Nhật chủ. Loại tính cách này đa phần biểu hiện trong thế giới nội tâm hoặc trong đời sống riêng tư.
- Tỷ Kiên và Nhật chủ có công năng bình đẳng, có thể hoán đổi cho nhau, do đó Tỷ Kiên đôi khi có thể tạm thời đóng vai trò của Nhật chủ, mà Nhật chủ lại là trung tâm đối ứng của tất cả Lục Thần. Nói cách khác, Nhật chủ có thể công khai tạo ra các mối quan hệ khác nhau với thế giới bên ngoài. Do đó, Tỷ Kiên có thể phản ánh tâm thái chủ động tham gia vào các công việc bên ngoài của Nhật chủ, còn Kiếp Tài thì có thể phản ánh tâm thái bị động tham gia vào các công việc bên ngoài của Nhật chủ.
- Phàm những người trong Bát tự có cả Tỷ Kiên và Kiếp Tài đều mạnh và tương đương nhau, không những có thể tích cực tham gia vào các công việc bên ngoài, mà còn sở hữu một thế giới nội tâm phong phú, cách đối nhân xử thế của họ ít thiên vị, ít gây ra hậu quả nghiêm trọng, do đó thường có thể thể hiện phong thái ôn hòa, giữ được sự cân bằng.
- Nếu ví Tỷ Kiếp như “thân tâm” của một người, thì Tỷ Kiên có thể phản ánh chức năng sinh lý bên ngoài, còn Kiếp Tài có thể phản ánh chức năng tâm lý bên trong. Do đó, phàm những người trong Bát tự mà lực lượng của Tỷ Kiên mạnh hơn Kiếp Tài rất nhiều, sẽ có xu hướng coi trọng hơn biểu hiện hành vi hoặc hoạt động lao lực của một người. Phàm những người trong Bát tự mà lực lượng của Kiếp Tài mạnh hơn Tỷ Kiên rất nhiều, sẽ có xu hướng coi trọng hơn biểu hiện tinh thần hoặc hoạt động tâm cơ của một người.
- Người có lực lượng Tỷ Kiên mạnh hơn Kiếp Tài rất nhiều, thường thích kết giao với những người bạn liên quan đến sự nghiệp của mình, hoặc những người có hành vi, hoạt động tương tự mình, tức là những người bạn có thể cùng hợp tác. Người có lực lượng Kiếp Tài mạnh hơn Tỷ Kiên rất nhiều, thường thích kết giao với những người bạn không liên quan trực tiếp đến sự nghiệp của mình, nhưng có thói quen sinh hoạt riêng tư, quan niệm dễ dàng thông hiểu với mình, tức là những người bạn có thể đồng tâm. Vì vậy, có thể nói, người Tỷ Kiên mạnh dễ hòa đồng nhưng khó kết tâm giao, người Kiếp Tài mạnh dễ kết tâm giao nhưng khó hòa đồng.
- Phàm những người trong Bát tự có khí thế Tỷ Kiếp không yếu, tâm tính chung của họ là quan niệm tương đương đậm nét, tính cạnh tranh rất mạnh, ý thức tự chủ rõ ràng, lòng tự trọng mạnh hơn người bình thường (xin tham khảo phần Tâm tính đơn lẻ của Lục Thần). Lúc này, nếu Tỷ Kiên mạnh hơn Kiếp Tài, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng hành vi thực tế nhiều hơn. Nếu Kiếp Tài mạnh hơn Tỷ Kiên, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng lý tưởng tâm lý nhiều hơn.
(2) Thực Thần (食神) và Thương Quan (伤官) – Thực Thần và Thương Quan thuộc cùng loại, thực chất là hai mặt của một thể thống nhất. Tuy nhiên, do lập trường chính – phản của cả hai khác nhau, nên tính năng của hai bên cũng có những điểm khác biệt trong sự tương đồng. Những điểm khác biệt chủ yếu đại khái có mấy điểm sau:
- Thực Thần có thể tiết hóa Nhật chủ bằng mối quan hệ cùng tính (cùng Âm Dương), mà sự tiết cùng tính thuộc về tiết vô tình, lực của nó không tiết hết. Do đó, Thực Thần biểu thị: Nhật chủ đối với việc hấp thụ mở rộng khái niệm tri thức và học tập ứng dụng kỹ năng tài nghệ, có những đặc chất như ôn hòa, chậm rãi, tỉ mỉ, nghĩa hẹp, tĩnh tại, ổn định, bảo thủ, bền bỉ, có sức chịu đựng, dài hạn. Thương Quan có thể tiết hóa Nhật chủ bằng mối quan hệ khác tính (khác Âm Dương), mà sự tiết khác tính là tiết hữu tình, lực của nó tất sẽ tiết hết. Do đó, Thương Quan biểu thị: Nhật chủ đối với việc hấp thụ mở rộng khái niệm tri thức và học tập ứng dụng kỹ năng tài nghệ, có những đặc chất như mãnh liệt, nhanh chóng, thô đại, nghĩa rộng, động thái, đa dạng, tân thời, gấp gáp, có khí phách, ngắn hạn.
- Thực Thương đã đại diện cho khái niệm tri thức và kỹ năng tài nghệ, do đó tất cả những sự vật thuộc phạm trù tri thức và kỹ năng, như các ngành học thuật, công việc biểu diễn và kỹ thuật của các ngành nghề, trong đó những gì có đặc chất “ôn hòa, chậm rãi, tỉ mỉ…” thì Thực Thần đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng; trong đó những gì có đặc chất “mãnh liệt, nhanh chóng, thô đại…” thì Thương Quan đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng.
- Phàm những người trong Bát tự có cả Thực Thần và Thương Quan đều mạnh và tương đương nhau, thường động tĩnh thích hợp, có thể thô có thể tinh. Loại người này không chỉ có tư tưởng bảo thủ, mà đồng thời cũng兼具 (bao gồm/sở hữu) những quan niệm tân thời. Họ đối với việc học tập và vận dụng tri thức, kỹ năng thường có thể duy trì hiệu suất phát huy cân bằng, ổn định. 4. Đối với các ngành học thuật, phàm những người trong Bát tự Thực Thần mạnh hơn Thương Quan rất nhiều, có xu hướng thiên về các môn học văn chương tĩnh tại hơn, ví dụ như ngôn ngữ, triết học, sử địa, chính trị, pháp luật, kinh tế, quản trị kinh doanh, và các môn học khác lấy việc nghiên cứu một đối một làm chủ đạo. Phàm những người trong Bát tự Thương Quan mạnh hơn Thực Thần rất nhiều, có xu hướng thiên về các môn học kỹ thuật động thái hơn, ví dụ như: vật lý, hóa học, y học, công trình, giao thông, cơ khí, nông nghiệp, thực phẩm, và các môn học khác lấy “tính thực dụng” làm mục tiêu nghiên cứu chính. 5. Đối với các kỹ thuật ngành nghề, phàm những người trong Bát tự Thực Thần mạnh hơn Thương Quan rất nhiều, có xu hướng thiên về các đặc chất như mềm mại, tao nhã, tỉ mỉ hơn, ví dụ như hội họa, âm nhạc, văn nghệ, cắm hoa, may vá, thiết kế, người viết thuê (đại thư), bác sĩ nội khoa…v.v. Phàm những người trong Bát tự Thương Quan mạnh hơn Thực Thần rất nhiều, có xu hướng thiên về các đặc chất như sôi nổi, hoạt bát hơn, ví dụ như thể dục thể thao, khiêu vũ, võ thuật, kỹ xảo đặc biệt, ca hát, lao công, luật sư, bác sĩ ngoại khoa…v.v. 6. Phàm những người trong Bát tự có khí thế Thực Thương không yếu, tâm tính chung của họ là tính cảm xúc tương đối mạnh mẽ, tầm suy nghĩ tương đối sâu rộng, ham muốn thể hiện bản thân cao hơn, khả năng khêu gợi tốt hơn (xin tham khảo phần Tâm tính đơn lẻ của Lục Thần). Lúc này, nếu Thực Thần mạnh hơn Thương Quan, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức lý tưởng tinh thần hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ nhất trong mục 5 đã nêu; nếu Thương Quan mạnh hơn Thực Thần, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức hành vi thực tế hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ hai trong mục 5 đã nêu.
(3) Chính Tài (正财) và Thiên Tài (偏财) – Chính Tài và Thiên Tài thuộc cùng loại, thực chất là hai mặt của một thể thống nhất. Tuy nhiên, do lập trường chính – phản của cả hai khác nhau, nên tính năng của hai bên cũng có những điểm khác biệt trong sự tương đồng. Những điểm khác biệt chủ yếu đại khái có mấy điểm sau:
- Chính Tài là vật bị Nhật chủ khắc bằng mối quan hệ khác tính (khác Âm Dương), mà sự khắc khác tính thuộc về khắc hữu tình, lực của nó không khắc hết. Do đó, Chính Tài biểu thị: Nhật chủ đối với việc điều khiển quản lý công cụ kiếm tiền và theo đuổi sáng tạo hưởng thụ vật chất, có những đặc chất như ôn hòa, chậm rãi, tỉ mỉ, nghĩa hẹp, tĩnh tại, ổn định, bảo thủ, bền bỉ, có sức chịu đựng, dài hạn. Thiên Tài là vật bị Nhật chủ khắc bằng mối quan hệ cùng tính (cùng Âm Dương), mà sự khắc cùng tính thuộc về khắc vô tình; lực của nó tất sẽ khắc hết. Do đó, Thiên Tài biểu thị: Nhật chủ đối với việc điều khiển quản lý công cụ kiếm tiền và theo đuổi sáng tạo hưởng thụ vật chất, có những đặc chất như mãnh liệt, nhanh chóng, thô đại, nghĩa rộng, động thái, đa biến, tân thời, gấp gáp, có khí phách, ngắn hạn.
- Tài Tinh đã đại diện cho công cụ kiếm tiền và hưởng thụ vật chất, do đó tất cả những sự vật thuộc phạm trù của cải và đồ dùng, như nghề nghiệp, sự nghiệp, tiền bạc, lương bổng, lợi nhuận, động sản, bất động sản v.v…, trong đó những gì có đặc chất “tĩnh tại, ổn định, bảo thủ…” thì Chính Tài đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng; trong đó những gì có đặc chất “động thái, đa biến, tân thời…” thì Thiên Tài đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng.
- Phàm những người trong Bát tự có cả Chính Tài và Thiên Tài đều mạnh và tương đương nhau, đối với người, của cải, vật chất thuộc về Tài Tinh, không những có thể coi trọng cả tình cảm lẫn lý trí, mà đồng thời cũng có thể song hành cả lương tâm và lòng ham muốn lợi ích. Loại người này khi quản lý nhân viên cấp dưới thường ân威並濟 (vừa có ơn vừa có uy), và cách thức theo đuổi của cải của họ cũng thường công thủ thích hợp.
- Đối với các công cụ kiếm tiền, phàm những người trong Bát tự Chính Tài mạnh hơn Thiên Tài rất nhiều, có xu hướng thiên về các tính năng hòa bình, ổn định, ví dụ như: nhân viên ngoan ngoãn, cấp dưới hướng nội, thiết bị y tế, bàn ghế văn phòng, máy thu tiền, cân, giấy, bút, thước, gương, và các công cụ khác lấy “sự ổn định” làm tác dụng kiếm tiền chính. Phàm những người trong Bát tự Thiên Tài mạnh hơn Chính Tài rất nhiều, có xu hướng thiên về các tính năng mạo hiểm, phóng khoáng, ví dụ như: nhân viên cực đoan, cấp dưới hướng ngoại, máy móc sản xuất, xe cộ vận chuyển, khoan điện, dao, kéo, búa, cưa, kim, và các công cụ khác lấy “khí phách” làm tác dụng kiếm tiền chính.
- Đối với các chức vụ sự nghiệp, phàm những người trong Bát tự Chính Tài mạnh hơn Thiên Tài rất nhiều, có xu hướng thiên về các đặc chất như an nhàn, hướng nội, ví dụ như: giao dịch đất đai, mua bán nhà cửa, kinh doanh cửa hàng, ngành bán lẻ, ngành bảo hiểm, ngành dịch vụ, và các chức vụ nội bộ của công ty, cơ quan…v.v. Phàm những người trong Bát tự Thiên Tài mạnh hơn Chính Tài rất nhiều, có xu hướng thiên về các đặc chất như cơ động, hướng ngoại, ví dụ như thương nhân, đại lý ô tô, ngành sản xuất, ngành bán buôn, ngành xây dựng, ngành công trình, và các chức vụ ngoại giao của công ty, cơ quan…v.v.
- Phàm những người trong Bát tự có khí thế Tài Tinh không yếu, tâm tính chung của họ là ham muốn chi phối mạnh mẽ, ham muốn chiếm hữu mãnh liệt, quan niệm vật chất đậm nét, ý thức về sự đền đáp rõ ràng (xin tham khảo phần Tâm tính đơn lẻ của Lục Thần). Lúc này, nếu Chính Tài mạnh hơn Thiên Tài, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức lý tưởng tinh thần hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ nhất đã nêu; nếu Thiên Tài mạnh hơn Chính Tài, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức hành vi thực tế hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ hai trong mục 5 đã nêu.
(4) Chính Quan (正官) và Thất Sát (七杀) – Chính Quan và Thất Sát thuộc cùng loại, thực chất là hai mặt của một thể thống nhất. Tuy nhiên, do lập trường chính – phản của cả hai khác nhau, nên tính năng của hai bên cũng có những điểm khác biệt trong sự tương đồng. Những điểm khác biệt chủ yếu đại khái có mấy điểm sau:
- Chính Quan có thể khắc chế Nhật chủ bằng mối quan hệ khác tính (khác Âm Dương), mà sự khắc khác tính thuộc về khắc hữu tình, lực của nó không khắc hết. Do đó, Chính Quan biểu thị: Nhật chủ đối với việc ràng buộc kiểm soát thân tâm bản thân và xây dựng mở rộng địa vị quyền hạn, có những đặc chất như ôn hòa, chậm rãi, tỉ mỉ, nghĩa hẹp, tĩnh tại, ổn định, bảo thủ, bền bỉ, có sức chịu đựng, dài hạn. Thất Sát có thể khắc chế Nhật chủ bằng mối quan hệ cùng tính (cùng Âm Dương), mà sự khắc cùng tính thuộc về khắc vô tình, lực của nó tất sẽ khắc hết. Do đó, Thất Sát biểu thị: Nhật chủ đối với việc ràng buộc kiểm soát thân tâm bản thân và xây dựng mở rộng địa vị quyền hạn, có những đặc chất như mãnh liệt, nhanh chóng, mạnh mẽ, nghĩa rộng, động thái, đa biến, tân thời, gấp gáp, có khí phách, ngắn hạn.
- Quan Sát đã đại diện cho năng lực tự kiềm chế và địa vị quyền hạn, do đó tất cả những sự vật thuộc phạm trù quy tắc và uy quyền, như cấp trên, thủ trưởng, ông chủ, pháp luật, quy章 (quy định, điều lệ), hợp đồng, cũng như trách nhiệm công việc, trách nhiệm gia đình, trách nhiệm xã hội v.v…, trong đó những gì có đặc chất “nghĩa hẹp, bền bỉ, có sức chịu đựng…” thì Chính Quan đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng; trong đó những gì có đặc chất “nghĩa rộng, gấp gáp, có khí phách…” thì Thất Sát đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng.
- Phàm những người trong Bát tự có cả Chính Quan và Thất Sát đều mạnh và tương đương nhau, thường văn võ兼資 (có cả tài văn lẫn tài võ), có thể co có thể duỗi. Loại người này không chỉ biết cách ràng buộc nhắc nhở bản thân, mà đồng thời cũng biết cách quản lý kiểm soát quần chúng. Họ đối với việc thực thi chức vụ và quyền thế, thường có thể duy trì nguyên tắc允执厥中 (nắm giữ trung dung, không thiên lệch), cương nhu thích hợp.
- Đối với năng lực tự ràng buộc, phàm những người trong Bát tự Chính Quan mạnh hơn Thất Sát rất nhiều, có xu hướng thiên về các đặc chất như ôn hòa, bền bỉ, ví dụ như: điều chỉnh hoạt động phù hợp, tuân theo pháp lệnh tập tục, chọn phương châm sống, đặt ra mục tiêu lý tưởng dài hạn, tiến dần từng bước. Phàm những người trong Bát tự Thất Sát mạnh hơn Chính Quan rất nhiều, có xu hướng thiên về các đặc chất như mãnh liệt, hiệu quả ngắn hạn, ví dụ như cưỡng ép cấm đoán ham muốn vật chất, lao tâm khổ tứ, làm việc cật lực, đặt ra mục tiêu lý tưởng ngắn hạn, gấp rút.
- Đối với năng lực ràng buộc từ bên ngoài, phàm những người trong Bát tự Chính Quan mạnh hơn Thất Sát rất nhiều, có xu hướng thiên về việc tuân theo các quy phạm ngoại lực mang tính ôn hòa, ví dụ như lời khuyên chân thành của người khác, mệnh lệnh hợp lý của cấp trên, lời dạy bảo quan tâm của bậc trưởng bối…v.v. Phàm những người trong Bát tự Thất Sát mạnh hơn Chính Quan rất nhiều, có xu hướng thiên về việc tuân theo các quy phạm ngoại lực mang tính cưỡng chế, ví dụ như sự trừng phạt nghiêm khắc của cấp trên, sự áp bức của kẻ ác địa phương, quy định cứng rắn của chính phủ, sự trấn áp vô tình của quân đội cảnh sát…v.v.
- Phàm những người trong Bát tự có khí thế Quan Sát không yếu, tâm tính chung của họ là: tính tự giác kỷ luật và tính cảnh giác rất tốt, tính phục tùng cao hơn, tinh thần trách nhiệm rất mạnh, quan niệm lý trí nổi bật (xin tham khảo phần Tâm tính đơn lẻ của Lục Thần). Lúc này, nếu Chính Quan mạnh hơn Thất Sát, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức lý tưởng tinh thần hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ nhất trong mục 5 đã nêu; nếu Thất Sát mạnh hơn Chính Quan, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng hành vi thực tế hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ hai trong mục 5 đã nêu.
(5) Thiên Ấn (偏印) và Chính Ấn (正印) – Chính Ấn và Thiên Ấn thuộc cùng loại, thực chất là hai mặt của một thể thống nhất. Tuy nhiên, do lập trường chính – phản của cả hai khác nhau, nên tính năng của hai bên cũng có những điểm khác biệt trong sự tương đồng. Những điểm khác biệt chủ yếu đại khái có mấy điểm sau:
- Thiên Ấn có thể sinh trợ Nhật chủ bằng mối quan hệ cùng tính (cùng Âm Dương), mà sự sinh cùng tính, lực của nó không sinh hết. Do đó, Thiên Ấn biểu thị: Nhật chủ đối với việc tu dưỡng thực hành công ích danh tiếng thiện lành và duy trì phát huy đạo đức luân lý, có những đặc chất như ôn hòa, chậm rãi, tỉ mỉ, nghĩa hẹp, ổn định, bảo thủ, bền bỉ, có sức chịu đựng, dài hạn. Chính Ấn có thể sinh trợ Nhật chủ bằng mối quan hệ khác tính (khác Âm Dương), mà sự sinh khác tính thuộc về sinh hữu tình, lực của nó tất sẽ sinh hết. Do đó, Chính Ấn biểu thị: Nhật chủ đối với việc tu dưỡng thực hành công ích danh tiếng thiện lành và duy trì phát huy đạo đức luân lý, có những đặc chất như mãnh liệt, nhanh chóng, thô đại, nghĩa rộng, động thái, đa biến, tân thời, gấp gáp, có khí phách, ngắn hạn.
- Ấn Tinh đã đại diện cho công ích danh tiếng thiện lành và đạo đức luân lý, do đó tất cả những sản phẩm thuộc phạm trù luân thường và đức thiện, như tín ngưỡng tôn giáo, việc thiện, tam cương ngũ thường, tứ duy bát đức, tu tâm dưỡng tính v.v…, trong đó những gì có đặc chất “ôn hòa, nghĩa hẹp, bảo thủ…” thì Thiên Ấn đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức cao hơn đối với chúng; trong đó những gì có đặc chất “mãnh liệt, nghĩa rộng, cởi mở…” thì Chính Ấn đều thể hiện xu hướng tiềm năng hoặc xu hướng ý thức rõ ràng hơn đối với chúng.
- Phàm những người trong Bát tự có cả Thiên Ấn và Chính Ấn đều mạnh và tương đương nhau, thường có tín ngưỡng tôn giáo ở mức độ vừa phải, nhưng không mê tín, có quan niệm đạo đức luân lý ở mức độ vừa phải, nhưng không bảo thủ. Loại người này đa phần có thể kính già yêu trẻ, coi trọng danh dự, có lòng tin kế thừa đạo thống tốt đẹp, cũng có dũng khí sửa đổi những truyền thống không tốt.
- Đối với việc tu dưỡng công ích danh tiếng thiện lành, phàm những người trong Bát tự Chính Ấn mạnh hơn Thiên Ấn rất nhiều, có xu hướng thiên về việc áp dụng các phương pháp trực tiếp, cụ thể, ví dụ như: xây cầu sửa đường, nhận nuôi trẻ mồ côi, tham gia ủy lạo quân đội, tổ chức biểu diễn từ thiện, tham gia tình nguyện, tham gia dân phòng…v.v. Phàm những người trong Bát tự Thiên Ấn mạnh hơn Chính Ấn rất nhiều, có xu hướng thiên về việc áp dụng các phương pháp gián tiếp, mang tính tượng trưng như quyên góp, hiếu thuận cha mẹ, giáo dục con cháu.
- Đối với việc thực hành trách nhiệm đạo đức luân lý, phàm những người trong Bát tự Chính Ấn mạnh hơn Thiên Ấn rất nhiều, có xu hướng thiên về việc áp dụng xu hướng thực hành từ ngoài vào trong, ví dụ như: nhân từ với người rồi mới nhân từ với mình, tin người rồi mới tin mình, giúp người thành công rồi mới giúp mình thành công, giúp người rồi mới tự giúp mình, yêu nước rồi mới yêu nhà…….v.v. Phàm những người trong Bát tự Thiên Ấn mạnh hơn Chính Ấn rất nhiều, có xu hướng thiên về việc áp dụng xu hướng thực hành từ trong ra ngoài, ví dụ như: tự mình nhân từ rồi mới nhân từ với người, tự mình tin tưởng rồi mới tin tưởng người khác, tự mình thành công rồi mới giúp người thành công, tự giúp mình rồi mới giúp người, yêu nhà rồi mới yêu nước……v.v.
- Phàm những người trong Bát tự có khí thế Ấn Tinh không yếu, tâm tính chung của họ là lòng tự tôn, danh dự khá mạnh, lòng tin tưởng rất cao, lòng trắc ẩn rất nặng, quan niệm truyền thống đậm nét, ý thức phục vụ rõ ràng (xin tham khảo phần Tâm tính đơn lẻ của Lục Thần). Lúc này, nếu Thiên Ấn mạnh hơn Chính Ấn, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức lý tưởng tinh thần hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ nhất đã nêu; nếu Chính Ấn mạnh hơn Thiên Ấn, thì các tâm tính kể trên sẽ có xu hướng thể hiện bằng phương thức hành vi thực tế hoặc bằng phương thức của đặc chất thứ hai trong mục 1 đã nêu.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.