Phương pháp Định Cục (xác lập Cục diện cơ bản) bắt buộc phải tuân theo “Khí Thế” để phán đoán, cũng có thể gọi là “Khí Thế Pháp”. Lấy Mười Thiên Can làm Khí, Mười Hai Địa Chi làm Thể, khắp nơi dưới trời lấy mười hai Địa Chi để loại suy sao chép toàn tức (holographic replication) hình thế của vạn vật và cơ thể người. Cho dù Bát tự có bốn Nhâm Dần, Thiên Can chỉ luận sự vận hành Khí của một Nhâm Thủy, Địa Chi chỉ luận sự vận động Thế của một Dần Mộc. Đây chính là điểm tinh diệu của cổ hiền khi phát minh ra Mười Thiên Can và Mười Hai Địa Chi. Nhiều người học Bát Tự không suy ngẫm kỹ về sự vận hành của thiên thể, càng bỏ sót không biết “Ngũ Hành” hành (di chuyển, vận hành) như thế nào, vừa thấy Bát tự có bốn Giáp Tuất, liền cho rằng có bốn Giáp, bốn Tuất. Há chẳng biết trong Mười Can chỉ có một Giáp Mộc hành động, trong Mười Hai Chi chỉ có một Tuất Thổ hành động hay sao. Đã nhầm lẫn việc lấy Thập Thần Nhân Nguyên dụng sự coi là sự vận động của Ngũ Hành, xem bốn Giáp là Tỷ Kiên, bốn Tuất là Tài Thế Tỷ Kiên mà luận, xuất hiện sai lầm lớn là dùng Thập Thần Nhân Sự để luận vượng suy Ngũ Hành một cách hỗn loạn không rõ ràng, làm hại thảm cho việc phân tích vượng suy của mệnh học cả ngàn năm. Nhìn khắp các tác phẩm mệnh lý ngày nay, không mấy ai nhận thức sâu sắc về mười Ngũ Hành Thiên Can và mười hai Địa Chi, cũng như việc Khí của Thiên Can trong Bát tự không có Chân Thể (bản thể thật sự) thì không thể dùng để luận Hình Thế. Trừ phi Thiên Can ngồi dưới có Thế của sinh khí có thể mượn, có thể luận là Thiên Khí Tá Thế (Khí Trời mượn Thế), còn lại đều luận là Vô Thế (không có Thế). Trong các sách mệnh cổ điển chỉ có 《Trích Thiên Tủy》 mở đầu luận về “Tòng Khí Tòng Thế”, nhưng không trực tiếp diễn giải rõ Mười Thiên Can là Khí và Mười Hai Địa Chi là Thế, cũng như thiên cơ về quy trình thao tác cụ thể của “Khí Thế”. Hiện tại cũng chỉ có Âm Dương Hình Khí Pháp do đệ tử của Khâu Bình Sách Tiên Sinh sáng lập mới đặt nền móng chính xác cho chân cơ dùng Can Khí Chi Thế để phân tích vượng suy Ngũ Hành, là sự khởi đầu của pháp phái “duy nhất” trong giới mệnh lý nắm vững “Khí Thế Pháp” này.
Khí Thế Pháp Định Cục, lấy tỷ lệ Khí Trời và Thế Đất tương phụ thuộc ngang bằng làm trạng thái tồn tại vượng suy, một bình phương địa hình phụ thuộc một bình phương thiên khí, lấy phép “ngồi đáy giếng nhìn trời” (tọa tỉnh quan thiên) để đối ứng với cơ chế Âm Dương tương đẳng của Thái Cực đồ, thì Trời Đất mỗi bên chiếm một nửa. Hệ Trái Đất – Mặt Trăng chỉ có thể chứa đựng năng lượng hệ Mặt Trời tương đương với kích thước của nó. Thiên Vũ (vũ trụ trên trời) dùng Mặt Trời (Nhật) biểu thị, Địa Trụ (vũ trụ dưới đất) dùng Mặt Trăng (Nguyệt) biểu thị, Nhật Nguyệt mỗi bên chiếm tỷ lệ năm mươi phần trăm. Khi luận về vượng suy toàn cục của ngũ hành Mệnh Nguyên trong Tứ Trụ Bát tự của người, Nguyệt Lệnh chiếm năm mươi phần trăm năng lượng Khí làm tiêu chuẩn định lượng vượng suy. Bốn Thế còn lại (các Địa Chi khác) tổng cộng chiếm năm mươi phần trăm (Chú thích: Chiếm Bản Khí là được cái Thế của Địa Lợi). Khí của Thiên Thời và Thế của Địa Lợi mới có thể nương theo Hình bám vào Khí (y hình phụ khí) thành Thái Cực Nhân Mệnh cảm thông đối ứng thực hiện. [Trời Người cùng Khí tìm nhau, Đất Người cùng Thế cấu thành]. Mỗi một “vật chủng” Mệnh Nguyên, “Trời có Ngũ Tinh Ngũ Khí, Đất có Tứ Thế Bát Phương”, ở Trời chỉ có hai Khí mượn Thế, ở Đất là Tứ Thế địa lợi địa bàn. Ví dụ:
- Mệnh Nguyên Giáp Ất Mộc: Thiên Can Nhâm Thân, Quý Dậu là Khí sinh có mượn Thế; Địa Chi Dần, Mão, Hợi, Tý là Tứ Thế sinh trợ.
- Mệnh Nguyên Bính Đinh Hỏa: Thiên Can có Giáp Tý, Ất Hợi là Khí sinh có mượn Thế; Địa Chi Dần, Mão, Tị, Ngọ là Tứ Thế sinh trợ.
- Mệnh Nguyên Mậu Kỷ Thổ: Thiên Can Bính Dần, Đinh Mão là Khí sinh có mượn Thế; Địa Chi Tị, Ngọ, Tuất (Thìn), Sửu (Mùi) là Tứ Thế sinh trợ. Bất kể Thìn Tuất đều là Thế của Mậu Thổ, Sửu Mùi đều là Thế của Kỷ Thổ, thấy hai thì xét là một. Về Nhân Sự thì Âm Dương không giống nhau, về Ngũ Hành Khí thì đồng là Mậu Kỷ.
- Mệnh Nguyên Canh Tân Kim: Thiên Can thấy Mậu Ngọ, Kỷ Tị là Khí sinh có mượn Thế; Địa Chi Thân, Dậu, Tuất (Thìn), Sửu (Mùi) là Tứ Thế sinh trợ.
- Mệnh Nguyên Nhâm Quý Thủy: Thiên Can thấy Canh Thìn, Canh Tuất, Tân Sửu, Tân Mùi là Khí sinh có mượn Thế; Địa Chi Thân, Dậu, Hợi, Tý là Tứ Thế sinh trợ.
Trong đó, sách thông thường nói Tuất Mùi làm Kim giòn (thúy kim) là sai lầm ngụy biện. Hình thể Tuất Mùi là Thế, Canh Tân là Khí, Khí Hình chỉ luận Canh Tuất, Tân Mùi tương trợ nhau, không tồn tại chuyện Hình (Thế) khắc Khí. Chúng ta phân tích là Khí Mậu dựa vào Thế Tuất để sinh Canh, Khí Kỷ dựa vào Thế Mùi để sinh Tân, chứ không phải Địa Chi khắc Thiên Can (Tuất khắc Canh và Mùi khắc Tân), đừng để bị lý luận sai lầm làm cho mê muội, đến bạc đầu vẫn còn luận về cái thuật giả dối này. Còn có sự sai lầm về Can Chi Thông Căn, ví dụ như Giáp Ất thấy Mùi luận là Khố Căn (gốc trong kho), thấy Giáp trong Hợi là Thông Căn, Hợi là Ấn Căn (gốc Ấn), thấy Thìn là Thông Căn,… đều là những lý luận sai lầm chồng chất sai lầm trong việc phán đoán vượng suy. Trong môi trường tự nhiên, gốc của vật thể là phần nối liền với bản thể, lại có hình thể nhìn thấy được, như tay chân của cơ thể người. Sao có thể lấy tiếng gọi cha của con trai (Khí) nói là thông với gốc rễ thân thể của cha? Trong cuộc sống gọi điện thoại cho mẹ, cũng chỉ có Khí âm thanh đến chỗ mẹ, chứ không phải thân thể con trai và mẹ nối liền nhau. Mệnh Nguyên Giáp thấy Hợi, Hợi đối với nam mệnh là Thế Thiên Ấn của ông nội, đối với nữ mệnh là Thể Thiên Ấn của mẹ, gốc của Giáp là Dần, Dần và Hợi là hai Thái Cực lục thân khác nhau. Luận về gốc rễ vượng suy của bản thể Mệnh Nguyên và luận về việc Mệnh Nguyên mượn Thế của lục thân là hai Thái Cực khác nhau, tuyệt đối không được lẫn lộn. Mối quan hệ xã hội nhân sự về gốc rễ gen di truyền của gia tộc và mối quan hệ gốc rễ tự nhiên Ngũ Hành của bản thể Mệnh Nguyên là hai tầng nội dung khác nhau, khi đánh giá vượng suy Ngũ Hành không thể không phân biệt.





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.