Thực Thần bẩm sinh có ba tác dụng lớn: một là thổ tú (thể hiện tài năng), hai là sinh tài (tạo ra của cải), ba là chế sát (khắc chế Sát tinh). Do đó Thực Thần còn có ba tên gọi đáng mơ ước: vì có thể thổ tú nên gọi là “Tú Thần”; vì có thể sinh tài nên gọi là “Tước Tinh”; vì có thể chế sát nên gọi là “Thọ Tinh”. Vì tác dụng lớn nên mới có câu “Thực Thần hữu khí thắng Tài Quan” (Thực Thần có khí mạnh hơn Tài Quan). Ba tác dụng lớn này một khi bị phá hoại thì trí tuệ tài năng không thể phát huy, cầu tài mưu lợi bị cắt đứt nguồn tài, Thất Sát không bị chế ngự sẽ đến công thân.
- Một là Thực Thần là thần của tú khí. Thực Thần có tác dụng tiết khí tinh hoa của mệnh chủ, là tú khí và năng lượng do chính mệnh chủ thổ lộ ra, mà tú khí ưu việt hay kém cỏi, năng lượng lớn hay nhỏ, đều phải trả giá bằng việc tiết mệnh chủ, nên bắt buộc thân phải cường (mệnh chủ phải mạnh), khi này Thực Thần mới có thể thuận dụng như hạt giống mẩy thì mầm mới khỏe, hồ có nguồn nước mới dài lâu, mẹ khỏe mạnh thì thai mới tốt, dinh dưỡng đủ đầy con mới lớn. Cho nên Thực Thần đại diện cho sự bộc lộ tinh hoa của con người, đại diện cho tú khí nội tại, tài hoa đầy bụng, kỹ nghệ khéo léo, tài ăn nói lưu loát,… Do lực tiết mệnh chủ của Thực Thần không lộ ra ngoài như Thương Quan, nên loại tú khí này tương đối nội hàm, không quá khoa trương, tài ăn nói dù tốt cũng không làm mất lòng người khác, không giống Thương Quan tuy tài ăn nói tốt nhưng lại khiến người ta sợ hãi, đố kỵ và chán ghét. Nếu mệnh chủ có gốc rễ mạnh, kỹ nghệ mà Thực Thần thổ lộ ra chính là siêu phàm thoát tục, có thể kiếm được bạc tiền lớn.
- Hai là Thực Thần là sao tước lộc. Thực Thần có thể sinh Tài, Tài là nguồn nuôi mệnh, là thứ mệnh chủ chi phối, nên Thực Thần chính là công cụ lợi hại để sinh tài, là nguồn gốc của vật chất, có thể đại diện cho nguồn hàng và nguồn tài lộc. Chúng ta thường nói tài nguyên dồi dào, chính là chỉ Thực Thần vượng và có khí, là dụng thần. Do đó Thực Thần thuần túy, chủ nhân tài lộc dày dặn, cơm ăn áo mặc phong phú, độ lượng khoan hồng, thân thể đầy đặn, ung dung tự tại, con cái ưu tú, quý mà có lộc, phú mà có thọ, nên nói “Thực Thần hữu khí thắng Tài Quan”. Sách mệnh viết: “Thực Thần sinh vượng hỷ sinh tài, Nhật chủ cương cường phúc lộc lai, Thân nhược thực đa phản vi hại, hoặc phùng kiêu thần chủ hung tai, Thực Thần sinh vượng vô hình khắc, toàn phùng thử cách thắng tài quan, Canh đắc vận hành sinh vượng địa, thiếu niên chiết quế bái kim man.”
- Ba là Thực Thần là sao phúc thọ. Thực Thần có thể chế Sát, trong Bát tự, Thất Sát là hung thần số một, sao tai họa số một. Sát đến công thân, tính mạng con người sẽ bị uy hiếp, hoặc bệnh tật, hoặc tai nạn xe cộ bất ngờ, hoặc thị phi xâm phạm, nặng thì đoạt mạng người, không được chết yên lành. Mà chế Sát là thiên chức của Thực Thần, nên Thực Thần thấy Thất Sát, giống như mèo thấy chuột, cảnh sát thấy kẻ trộm, có bản năng tự nhiên chế phục Thất Sát, Thực Thần cường vượng, Thất Sát tự nhiên không dám làm càn, không dám công thân, nên Thực Thần chính là sao hóa giải tai nạn, là phúc tinh. Thực Thần chế Sát, chính là dùng mưu trí khắc chế tà ác, dùng kỹ nghệ tranh đoạt danh lợi. Thất Sát là bệnh tật, là tai họa, là hoạn nạn, là bạo chúa, là tiểu nhân, đại diện cho mọi sự vật có hại đối với tôi. Dùng Thực Thương chế Sát, chính là hàng long phục hổ, trừ bạo an dân, chính là tiêu tai giải nạn. Có ý tượng giết địch lập công, chữa bệnh cứu người và lưỡng chiến quần nho. Do đó sách mệnh nói: “Thực Thần chế Sát, anh hùng độc áp vạn nhân; Thực Thần chế Sát, anh tuấn văn chương phát thiếu niên; Thực Thần chế Sát y lộc phong; Thực cư tiên, Sát cư hậu, bình sinh y lộc phúc tối hậu; Sát trọng chế khinh, thời khắc hữu điên phúc chi nguy” … Nếu Thực Thần khí yếu, hư phù vô căn, lại trong trụ có Quan Sát, vốn dựa vào Thực Thần này để chế Sát, lại bị Kiêu Ấn phá mất Thực Thần, không thể chế Sát, Thất Sát sẽ khắc thân, đa phần chủ về yểu mệnh nghèo hèn.
Ba tác dụng lớn của Thương Quan là: một là khắc Quan, hai là tiết thân, ba là sinh tài.
- Một là Thương Quan khắc Quan. Thương Quan là “Thần Bác Quan” (thần lột chức quan), vật khắc Quan. Cho nên, cách Thương Quan không nên thấy Quan tinh, thấy thì Thương Quan và Quan tinh thế bất lưỡng lập, nếu không có cứu giải, hoặc thương không tận tất mệnh chủ bị thương tổn nặng, hung họa liên miên. 《Độc Bộ》nói: “Thương Quan kiến Quan, vi họa bách đoan. Vận hạn khứ Quan, tất chủ cao thiên.” (Thương Quan gặp Quan, là trăm mối họa. Vận hạn bỏ Quan, ắt chủ thăng tiến cao). Cho nên, “Cách Thương Quan cốt yếu phải thương tận” Quan tinh. 《Tam Mệnh》nói “Nếu trụ thấy Thương Quan, mà Quan tinh ẩn hiện, thương không hết, tuế vận lại gặp Quan tinh, Quan đến thừa vượng, lại gặp hình xung phá hại, Nhận Sát khắc thân, thân nhược tài vượng, tất chủ tù đày, tử vong, ngũ hành có cứu, cũng tàn tật. Nếu tứ trụ không Quan mà gặp Thương Sát trọng, vận nhập Quan hương, tuế quân lại gặp, nếu không bệnh mắt, tất chủ tai họa phá bại”. Sách mệnh nói: “Tứ trụ Thương Quan, vận nhập Quan hương tất phá.” “Thương Quan phục hành Quan vận, bất trắc tai lai” (Thương Quan lại đi vào vận Quan, tai họa không lường trước được). Thương Quan thương tận, thì là chuyện tốt, có thể xem là quý. 《Tướng Tâm Phú》nói “Thương Quan thương tận, đa nghệ đa năng” (Thương Quan thương tận, nhiều tài nhiều nghệ). 《Độc Bộ》nói “Thương Quan vô Quan, ngộ bác tắc trệ. Vận hành Quan hương, cục trung phản quý.” (Thương Quan không Quan, gặp lột chức thì trì trệ. Vận hành đến đất Quan, trong cục lại thành quý).
- Hai là Thương Quan tiết thân. Thương Quan là “Thần Đạo Khí”, là vật hao tổn thân. Thương Quan hao tiết khí của bản thân còn mãnh liệt hơn Thực Thần. Thực Thần tiết khí ôn hòa hữu tình, Thương Quan tiết khí mạnh mẽ vô tình. Do đó cách Thương Quan bắt buộc phải thân cường có gốc, đủ sức chịu đựng sự đạo tiết của Thương Quan, mới có thể thể hiện và phô bày tinh lực và tài hoa của bản thân. Nếu Thương Quan quá nặng mà thân yếu, thì trộm khí quá mức, không nghèo thì yểu, con cái ắt có tổn thất. Đồng thời cũng bất lợi cho lục thân, nên sách mệnh nói: “Niên đới Thương Quan, phụ mẫu bất toàn; Nguyệt đới Thương Quan, huynh đệ bất hoàn; Thời đới Thương Quan, tử tức hung ngoan; Nhật đới Thương Quan, thê thiếp bất hiền.” (Năm có Thương Quan, cha mẹ không toàn vẹn; Tháng có Thương Quan, anh em không đầy đủ; Giờ có Thương Quan, con cái hung dữ ương ngạnh; Ngày có Thương Quan, vợ thiếp không hiền). Nếu Thương Quan nặng mà thân vượng không nơi nương tựa, chính là người tu hành hoặc nghệ sĩ. Sách mệnh nói “Thương Quan đa nhi thân vượng vô y, định vi tăng đạo nghệ thuật vi sĩ.”
- Ba là Thương Quan sinh tài. Thương Quan tuy là hung thần, nhưng nếu Bát tự có Tài tinh, thì có thể hóa giải hung tính của Thương Quan, Thương Quan cũng biến thành công cụ sinh tài. Do đó 《Tam Mệnh》 nói “Thương Quan tuy hung, nãi ngã sở sinh, tự gia chi vật, thương tận tắc năng sinh tài, tài vượng tắc năng sinh quan, tạo hóa triển chuyển hữu tình” (Thương Quan tuy hung, là do ta sinh ra, là vật của nhà mình, thương tận thì có thể sinh tài, tài vượng thì có thể sinh quan, tạo hóa luân chuyển có tình). Cho nên, Thương Quan rất thích gặp Tài, có Tài, Thương Quan có việc chính đáng để làm, liền có thể dùng trí tuệ tài năng của mình để sáng tạo của cải, mưu cầu cuộc sống tốt đẹp. 《Độc Bộ》 nói “Thương Quan hữu Tài, tử cung hữu tử. Thương Quan vô Tài, tử quan hữu tử.” (Thương Quan có Tài, cung con có con. Thương Quan không Tài, cung con có chết). 《Thiên Lý Mã》: “Thương Quan kiến Tài giả, hựu quan cao nhi tài túc.” (Người Thương Quan gặp Tài, lại quan cao mà tài đủ). “Thương Quan phùng Tài, nãi hưởng ưu du chi phúc” (Thương Quan gặp Tài, được hưởng phúc ung dung). Cách Thương Quan nếu không có một chút Tài tinh để dựa, tuy thông minh khéo léo, chẳng qua là hư danh hư lợi. Sách mệnh nói: “Thương Quan vô Tài khả ỷ, tuy xảo tất bần”, “Thương Quan vô Tài, chủ bần cùng”.
Còn tiếp…





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.