Ba tác dụng lớn của Chính Quan là: (1) Sinh trợ Ấn tinh (生扶印星); (2) Bảo vệ Tài, Hao tiết Tài (护财泄财); (3) Khắc chế Kiếp Nhận (克制劫刃).
- Sinh trợ Ấn tinh: Quan tinh là cơ quan chính phủ, tổ chức cấp trên, công danh quyền lực, áp lực công việc; Ấn tinh là phù hộ thân, là quyền uy của bản thân. Quan Ấn tương sinh là tượng trưng cho việc dùng danh tiếng quyền lực của mình để mưu cầu địa vị và phú quý. Quan đến sinh Ấn sẽ có lợi ích như được đề bạt thăng cấp, nhận thưởng, công danh vinh dự. Nếu Quan nặng Ấn nhẹ, thì quý khí lớn, Quan tinh sinh Ấn, Ấn có thể sinh Thân, danh lợi tự đến; nếu Quan nhẹ Ấn nặng, thì Ấn tiết khí Quan càng mạnh, tác dụng của Quan tinh rất hạn chế, quý đến không đủ, Quan đến không lớn, chỉ là làm quan phục vụ, vất vả mà thôi.
- Bảo vệ Tài tinh (Hộ Tài): Quan tinh là thần bảo vệ Tài. Quan tinh bảo vệ Tài thông qua việc khắc chế Tỷ Kiếp, Dương Nhận (阳刃). Trong Bát Tự có Tỷ Kiếp đoạt Tài, Dương Nhận khắc Tài, thì tài phú và phụ nữ của bản thân không có đảm bảo an toàn, luôn có kẻ trộm rình mò, anh em bạn bè lừa dối. Có Quan tinh khắc chế Tỷ Kiếp, thì giống như cửa nhà dán môn thần (thần giữ cửa), sẽ dựa vào năng lực, ảnh hưởng, thủ đoạn của bản thân hoặc pháp luật để chế phục cái ác, bảo vệ được Tài tinh và phụ nữ của mình. Kẻ trộm hễ thấy Quan tinh giữ cửa, sẽ không dám tùy tiện, làm càn làm bậy.
- Hao tiết Tài tinh (Tiết Tài): Tài là nguồn nuôi dưỡng Mệnh, Quan là công danh lợi lộc. Tài là cơ sở vật chất, Quan là nhu cầu tinh thần. Đôi khi, công danh và thành tựu của một người không thể tách rời sự chống đỡ của cơ sở vật chất như tài phú. Đặc biệt trong xã hội kinh tế thị trường, Quan ngày càng không thể rời xa sự hỗ trợ của Tài tinh. Vì vậy, nghĩa tượng Quan tinh tiết Tài chính là vì quyền lực mà tiêu hao tài phú vật chất của mình, vì công danh mà trả giá bằng người phụ nữ bên cạnh mình, dùng tài phú để mưu cầu công việc tốt, môi trường tốt, quyền lực tốt. Trong thực tế, giao dịch quyền-tiền, quyền-sắc, tặng quà hối lộ, bỏ tiền mua quan, đều là nghĩa tượng Quan tinh tiết Tài.
- Khắc chế Kiếp Nhận: Quan là công danh, pháp luật, áp lực công việc; Tỷ Kiếp là bản thân, anh chị em, bạn bè. Quan Sát khắc Tỷ Kiếp là dùng công danh để ràng buộc bản thân, buộc mình nỗ lực phấn đấu. Đương nhiên, đối phó với Quan Sát nên dùng Ấn hóa hoặc Thực chế, không nên dùng Tỷ Kiếp trực tiếp chống lại Quan Sát, đó gọi là “lấy thân thử pháp” (以身试法), lấy mạng tranh đấu, uy vũ thì có uy vũ, cứng rắn thì có cứng rắn, nhưng đa phần sẽ không có kết quả tốt đẹp, đa số chỉ trở thành liệt sĩ chống bạo lực. Nếu Sát nặng Thân nhẹ, sẽ “chung thân hữu tổn” (终身有损 – cả đời có tổn hại). Dù Thân mạnh Sát nông, cũng sẽ kiện tụng không yên. Tỷ Kiếp còn đại diện cho nhân khí (sự ủng hộ), bị Quan Sát khắc ngã xuống, sẽ bị người khác kỳ thị, giống như người ta kỳ thị người từng ngồi tù vậy. Tỷ Kiếp lại đại diện cho anh em bạn bè, khi bị Quan Sát khắc chế quá độ, anh em bạn bè của bạn sẽ gặp tai họa. Thông thường người có Thất Sát vượng ở Nguyệt Lệnh, đa phần là người trên khắc anh chị, dưới khắc em trai/gái, đôi khi còn họa lây đến bạn bè thân thiết. Đồng thời, Quan Sát là Phu tinh (sao chồng) của nữ mệnh. Quan Sát nhiều thì số lần kết hôn nhiều. Nếu Kiếp nặng Quan nhẹ, thì quan hệ vợ chồng sẽ rất kém. Ngược lại Quan nặng Thân nhẹ, thì hay bị chồng làm liên lụy hoặc bị chồng bắt nạt.
Ba tác dụng lớn của Thất Sát: Một là khắc thân công thân, hai là trộm tiết Tài khí (đạo tiết tài khí – 盗泄财气), ba là sinh trợ Ấn tinh.
- Thất Sát công thân: Thất Sát là hung thần bẩm sinh khắc tôi. Thất Sát không có chế phục, sẽ gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe và an toàn tính mạng của bản thân, khiến môi trường sống, môi trường sinh tồn của bản thân luôn ở trong tình trạng nguy hiểm. Có thể thấy, Thất Sát công thân vô tình đến mức nào. Giống như một người luôn làm bạn với hổ, ôm hổ mà ngủ, kết bè với tiểu nhân, sống chung với trộm cướp, lâu ngày gần mực thì đen, bản thân cũng sẽ biến thành tiểu nhân, trộm cướp. Thất Sát công thân, nhẹ thì tai nạn xe cộ thương tật, nặng thì tù tội mất mạng. Do đó 《Tam Mệnh Thông Hội》 (三命通会) nói Thất Sát ví như tiểu nhân hung bạo, không kiêng dè, nếu không có lễ pháp kiểm soát, không trừng phạt không răn đe, ắt sẽ làm hại chủ của nó, phá hoại thân thể ta.
- Trộm tiết Tài khí: Thất Sát là cao thủ trộm Tài, là hung thủ phá hoại Tài. Thất Sát nếu gặp Tài tinh, tính chất của Tài tinh sẽ hoàn toàn thay đổi, Tài tinh sẽ sinh Sát, biến thành kẻ đồng lõa giúp giặc làm ác (trợ trụ vi ngược – 助纣为虐). Khiến Thất Sát công thân càng thêm vô tình, càng thêm hung ác. Loại người này một khi có tiền, sẽ dùng tiền tài đi làm việc xấu. 《Tam Mệnh Thông Hội》 nói: “Thân nhược Sát cường, hữu Tài dẫn quỷ đạo khí, phi bần tắc yểu” (身弱煞强,有财引鬼盗气,非贫则夭 – Thân yếu Sát mạnh, có Tài dẫn dụ ma quỷ trộm khí, không nghèo thì yểu). 《Định Chân》 (定真) nói: “Thất Sát như phùng Tài trợ, kỳ Sát dũ hung” (七煞如逢财助,其煞愈凶 – Thất Sát nếu gặp Tài trợ giúp, Sát đó càng hung). Đương nhiên, Thất Sát trộm tiết Tài khí cũng có lúc tốt, đó là trong trường hợp Thân mạnh Sát yếu, ngược lại có Tài tinh thì tốt, như “Tài tư nhược Sát” (财滋弱杀 – Tài nuôi Sát yếu) chính là喜 (thích) Tài sinh Sát.
- Sinh trợ Ấn tinh: Ấn tinh là liều thuốc tốt hóa giải Thất Sát. Thất Sát gặp Ấn Thụ, giống như thổ phỉ gặp tướng tài, hôn quân gặp lương tướng, tham quan gặp hiền thần, bệnh ác gặp thầy giỏi, tiểu nhân gặp quân tử, kẻ trộm gặp cảnh sát, Thất Sát sẽ thành tâm vui vẻ thay đổi hung tính, biến thành danh dự, địa vị, uy quyền, biến thành đại anh hùng, đại hào kiệt, đại nhân vật. 《Tam Mệnh Thông Hội》 nói: “Sát kiến Ấn nhi hiển, Sát trợ Ấn sinh” (煞见印而显,煞助印生 – Sát gặp Ấn mà hiển lộ, Sát trợ giúp Ấn sinh). 《Tứ Ngôn Độc Bộ》 (四言独步) nói: “Sát bất ly Ấn, Ấn bất ly Sát, Sát Ấn tương sinh, công danh hiển đạt” (煞不离印,印不离煞,煞印相生,功名显达 – Sát không rời Ấn, Ấn không rời Sát, Sát Ấn tương sinh, công danh hiển đạt).
Còn tiếp…





Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.