Trong Thập Thần, lấy Tài, Quan, Ấn, Thực làm Tứ Cát Thần (Bốn Thần Tốt); lấy Sát, Thương, Kiêu, Nhận (tức Kiếp Tài) làm Tứ Hung Thần (Bốn Thần Xấu). Tứ Cát Thần thể hiện khí ôn hòa, văn tĩnh, như bề tôi hiền tài thời thịnh thế, dùng văn giáo đức hóa để trị quốc. Tứ Hung Thần thể hiện khí cứng rắn bạo ngược, ngang ngược, như kiêu hùng thời loạn thế, dùng giáo dài đại kích để dẹp loạn. Thực Thần ôn hòa, Chính Quan thuận tòng, Chính Ấn ổn định, mệnh cục có nhiều thì là người khiêm hòa. Kiếp Tài mạnh mẽ, Thất Sát dữ dội, Thương Quan ngang ngược, mệnh cục có nhiều thì là người ngang ngạnh quái đản.

Thông thường, phàm mệnh cục Tài nhiều thì ngu (vì Tài khắc Ấn – trí tuệ), Quan nhiều thì tiện (vì Quan khắc thân), Ấn nhiều thì cô độc, Thương nhiều thì tai hại (vì Thương khắc Quan), Nhận (Kiếp Tài) nhiều thì tàn tật, Lộc (Lâm Quan) nhiều thì nghèo (vì Lộc dễ bị xung phá), Mã (Dịch Mã) nhiều thì bôn ba, Xung nhiều thì không yên ổn, Hợp nhiều thì nhiệt tình, Dương nhiều thì thẳng thắn, Âm nhiều thì sâu sắc, Mộ Khố nhiều thì tổn hại Lục Thân. Không có Tài thì không thực tế, không có Quan thì ít áp lực, không có Ấn thì thiếu phúc đức, không có Thương thì không mới lạ, không có Sát thì không uy phong, không có Gốc (Căn) thì khó tự lập. Tài và Quan chính là Danh và Lợi, là mục tiêu mà mọi người theo đuổi. Ấn và Thực là học vấn và kỹ năng, là công cụ để giành lấy danh lợi. Tỷ Kiếp là thân thể và đồng nghiệp, là vốn liếng và nhân khí (sự ủng hộ của mọi người) để giành lấy danh lợi.

  1. Nghĩa Tượng Ấn hóa Quan Sát:
    Dùng học vấn để đạt công danh, dùng học vấn để giành danh lợi. Ấn là học hành, học giỏi thì làm quan, học hành là con đường hàng đầu để người ta giành lấy công danh. Đương nhiên, Ấn không nên quá nhiều, quá nhiều sẽ khiến người ta lười biếng, thiếu ý chí tiến thủ, tương ứng sẽ giảm bớt quý khí. Nữ mệnh Quan tinh yếu, chồng sẽ không có thành tựu lớn. Quan Sát càng nhiều thì áp lực càng lớn, buộc người ta không ngừng nỗ lực, liều mạng phấn đấu, thành tựu đạt được cũng tương ứng sẽ lớn hơn.

Vì vậy cổ nhân nói:

  • “Nhiều Sát hung hăng, một Ấn có thể hóa giải”;
  • “Sát Ấn cùng sinh, công danh đặc biệt thành đạt”;
  • “Quan Ấn cùng sinh, ra làm quan nổi danh”;
  • “Lấy Sát hóa Quyền, chắc chắn xuất hiện khách quý nơi hàn môn”;
  • “Ấn nặng Quan nhẹ, chức vụ ở bậc thấp”;
  • “Ấn nặng Quan nhẹ, ngồi nhà chiêu chồng” (nữ mệnh);
  • “Kiêu Ấn trùng trùng, người phụ nữ có chuyện sinh ly tử biệt”.
  1. Nghĩa Tượng Thực Thương chế Sát:
    Dùng Thực Thương chế Sát, tức là dùng trí mưu để khắc chế cái ác, dùng kỹ năng nghệ thuật để giành lấy danh lợi. Thất Sát là bệnh tật, tai họa, bạo chúa, tiểu nhân, đại diện cho tất cả những gì gây hại cho tôi. Dùng Thực Thương chế Sát, chính là hàng long phục hổ, trừ bạo an dân, tiêu tai giải nạn. Có nghĩa tượng như giết giặc lập công, chữa bệnh cứu người, thuyết phục đám đông. Nếu không chế được Thất Sát, Thất Sát sẽ có nguy cơ công thân bất cứ lúc nào. Nếu chế Sát quá mức, Thất Sát sẽ mất uy phong vốn có, anh hùng không có đất dụng võ. Chỉ cần Thực Thương vừa đủ chế ngự Thất Sát, Thất Sát hơi vượng mạnh một chút cũng được, mệnh chủ đều sẽ xuất đầu lộ diện, làm nên sự nghiệp.

Do đó sách mệnh nói:

  • “Thực Thần chế Sát, anh hùng độc áp vạn nhân”;
  • “Thực Thần chế Sát, anh tuấn văn chương phát lúc thiếu niên”;
  • “Thực Thần chế Sát áo lộc đủ đầy”;
  • “Thương Quan hữu tình đến hợp Sát, bảng vàng ghi danh chắc là thật”;
  • “Thực trước, Sát sau, cả đời áo lộc phúc dày nhất”;
  • “Sát nhẹ chế nặng, dù học cũng không thành”;
  • “Sát nhẹ chế nặng, làm người cuối cùng gặp gian truân”;
  • “Sát nặng chế nhẹ, luôn có nguy cơ lật đổ”;
  • “Thực Thần nặng dễ cô độc/góa bụa” (nữ mệnh).
  1. Nghĩa Tượng Thương Quan khắc Quan:
    Dùng Thương khắc Quan, tức là không hành động theo quy tắc, tùy hứng làm bậy. Bởi vì Quan là quy tắc, pháp luật và những điều được công nhận, dùng Thương khắc Quan chính là phá hoại quy tắc, phủ định quyền uy, lật đổ những điều xã hội công nhận, khác người lập dị, tự cho mình là đúng. Thương Quan chính là sự kiện, cách mạng, đại nghịch bất đạo. Không theo quy tắc, cũng có nghĩa là phá cái cũ lập cái mới, sẽ rước họa vào thân, thậm chí ngồi tù mất đầu, nhiều biến động, bôn ba, vất vả. Nữ mệnh Thương Quan khắc Quan, sẽ hay cãi lại chồng, không thích chồng ràng buộc. Thương nặng Quan nhẹ thì coi thường chồng, Thương nhẹ Quan nặng thì bị chồng làm nhục. Nếu Thương Quan khắc hết Quan tinh (Thương Quan thương tận), tức lật đổ toàn bộ Quan tinh, thì lại là đại cát thượng hạng. Khắc hết Quan, bạn thành Quan lớn nhất. Nên nói: “Thương Quan thương tận, quý không thể tả”. Nữ mệnh Thương Quan thương tận Quan tinh, không làm bậy, sẽ là người phụ nữ trinh tiết. Gặp vận Tài cũng sẽ có chồng, vì Tài vượng sinh Quan.
  • Nữ mệnh Thương Quan phúc không thật, không Tài không Ấn giữ cô đơn nghèo khó;
  • Trụ ngày Thương Quan hay mắng chồng;
  • Thương Quan thương tận, là liệt nữ trinh khiết.
  1. Nghĩa Tượng Tài sinh Quan:
    Dùng Tài sinh Quan Sát, tức là dùng tiền tài sắc đẹp để lấy lòng quan quý, dùng tiền tài sắc đẹp để đổi danh vị. Tài là bạc trắng, người đẹp; Quan là chức quyền, danh dự. Dùng Tài sinh Quan là dùng tiền bạc, mỹ nữ nịnh bợ cấp trên, hoặc mua quan. Nữ mệnh dùng Tài sinh Quan Sát, là hỗ trợ kinh tế cho chồng hoặc tình nhân, nên có câu “vượng phu”. Tài là thân thể, đường tình cảm của phụ nữ, dùng Tài sinh Quan Sát, là động lòng yêu đàn ông. Sợ nhất Thân yếu không gánh nổi Tài Quan, Quan Sát trở thành hố không đáy làm hao tiền tài. Nữ mệnh gặp chồng xui xẻo, nam mệnh gặp con cái đòi nợ. Quan tinh cần Tài tinh tương trợ. Quan tinh không có Tài tinh, gọi là “cô quan vô phụ”, làm quan không lớn, hoặc không lâu.
  • “Tài vượng sinh Quan, nhờ hối lộ mà lấy được quý”;
  • “Áo tím đai vàng, Tài trợ Quan vượng”;
  • “Tài vượng sinh Quan, vợ chồng như keo sơn”;
  • “Sao Tài có khí sinh Quan, giúp chồng vượt trội”;
  • “Tài nuôi Thất Sát, Quách Tử Nghi nắm quyền tướng soái”;
  • “Nguyệt lệnh Tài ở đất Tuyệt, vợ không có đức hiền nội trợ”;
  • “Tài sinh Thất Sát đuổi Thân suy, hoặc nghèo hoặc yểu”;
  • “Tài gặp đảng Sát, chết yểu lúc nhỏ”;
  • “Nhật chủ quá yếu, hoặc Tài nhiều sinh Sát, đều là mệnh phá tổ nghiệp vất vả”;
  • “Gặp Tài kỵ Sát mà có Sát, mười phần hết chín là nghèo”.
  1. Nghĩa Tượng Tài khắc Ấn:
  • Ấn là lương tâm, Tài là tiền bạc, Tài khắc Ấn là vì tiền bạc mà không kể lương tâm.
  • Ấn là học hành, Tài là tình cảm, vật dục, Tài khắc Ấn là trọng vật dục, coi nhẹ học hành, trọng tình cảm, không kể mặt mũi.
  • Ấn là quê hương, Tài là lợi ích kinh tế, Tài khắc Ấn là vì cầu tài mà rời xa quê. Tài khắc Ấn là tín hiệu di chuyển, thường có nghĩa chuyển nhà, đổi công việc, mua nhà, xe, cửa hàng.
  • Ấn là mẹ, Tài là cha, Tài khắc Ấn có nghĩa mất mẹ, cha mẹ ly dị.
  • Ấn là chỗ dựa, quý nhân, Tài khắc Ấn là mất chỗ dựa, gặp nạn.
  • Ấn là phúc khí, Tài khắc mất Ấn, nhiều lao lực, tổn hại thân thể, thậm chí mất mạng.

Nguồn: Tổng Hợp


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

2 bình luận cho “#44, Nghĩa Tượng của Tổ Hợp Thập Thần – Phần 1”

  1. […] #44, Nghĩa Tượng của Tổ Hợp Thập Thần – Phần 1 #45. Nghĩa Tượng của Tổ Hợp Thập Thần – Phần 2 […]

    Thích

  2. […] Tác Dụng của Tài Tinh (财星的作用 – Sao Tài) #44, Nghĩa Tượng của Tổ Hợp Thập Thần – Phần 1 #41. Quan hệ sinh tồn giữa vật chủng và […]

    Thích

Gửi phản hồi cho #57, Thuộc tính mười thiên can – Tử Bình Thuật Hủy trả lời

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc