Ngũ Hành Vật Chủng Tạo Mệnh

Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ là gen nguồn gốc của bất kỳ vật chủng sinh mệnh nào trong vũ trụ. Cấu trúc tổ thành của gen này là khởi điểm về lượng ban đầu, vĩnh hằng bất biến. Chúng tạo thành mô hình nguyên tử sinh khắc dưới hình thức Ngũ Hành, tức là lượng ban đầu của sinh mệnh. Mỗi “nguyên tử” có chức năng hấp thụ và nhả ra, đồng thời vận động vô hạn, mỗi thời mỗi khắc đều xảy ra biến đổi tụ-tách, mới có sự tiêu trưởng và phát sinh của sinh mệnh.

Cát hung của bản thể sinh mệnh, hoàn toàn nằm ở sự tương hỗ thuận nghịch, dựa vào nhau và sự vận hành tuần hoàn lặp đi lặp lại của Ngũ Khí. Tế bào tạo thành gen của sinh mệnh hoàn toàn là sự tiêu trưởng trong vận hành của Ngũ Khí, từ đó có sự trao đổi chất. Ngũ Hành chi Khí khởi đầu từ Trời, sự tạo hóa Mệnh của vạn vật ở Trời, vì vậy năng lượng Ngũ Hành xưa nay không đổi, vĩnh viễn vận hành trên Trời, không lúc nào không có sinh mệnh ra đời. Vận hành thì sinh, động thì trưởng, trường sinh bất lão chính là bản năng của Ngũ Hành.

Trường sinh bất lão là năng lượng Ngũ Khí của vũ trụ, vô hình khả kiến, có năng lực không nhìn thấy được. Ngũ Khí vĩnh viễn cư ngụ trong cơ chế cốt lõi của sinh mệnh, động không ngừng, hành không nghỉ. Là Thiên Tâm, càng là Nhân Tâm. Thiên Quang của Tuyền Cơ Ngũ Khí giáng xuống, vĩnh viễn nhìn xuống bao quát mọi hệ thống sinh mệnh thuộc Thiên Hệ, bao gồm cả Trái Đất. Như Tuyền Cơ Ngũ Khí ở trung tâm của Hà Đồ Lạc Thư, thống lĩnh bốn phương tám hướng trên dưới. Dùng con mắt Ngũ Khí này quan sát Trái Đất, thì có bình minh một Dương sinh, hoàng hôn một Âm sinh, sự qua lại tiêu trưởng đối đãi của Nhật Nguyệt.

Thái Cực Âm Dương Dụng Thần Hậu Thiên của sinh mệnh cũng giống như lý lẽ một Âm một Dương sơ sinh của ngày đêm, cho đến khi hình thành Thái Âm Thái Dương làm nơi quay về. Sự hình thành của Thiên Nhãn chính là tinh hoa cốt lõi của Ngũ Khí, vận hành trong chúng sinh, tạo thành ánh sáng. Mệnh Nguyên của con người như Thiên Nhãn, ngẩng nhìn Trời, cúi xét Đất, ở giữa xem xét tự nhiên và xã hội. Lượng hạt nhân của Ngũ Khí Ngũ Hành, không phải cái nào cũng đồng lượng cùng vận hành, trong đó tất yếu phải có một lượng chủ đạo Tuyền Cơ, mới có thể tạo ra sự vận hành chuyển động. Như Ngũ Khí vật chủng của mệnh người, hay Ngũ Tinh của Hệ Mặt Trời. Chỉ khi Ngũ Hành Ngũ Khí có sự thiên lệch/đầy đủ, mới sản sinh ra sự ứng nghiệm cát hung cụ thể của vật thể. Tuyền Cơ Ngũ Khí là hạt nhân năng lượng khởi tạo để thành tựu “một vật một cực”, từ Vô Cực đến Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi Tứ Tượng. Mới có Đạo ngày đêm trong Hệ Từ Truyện, quy luật vận hành một Âm một Dương, lời nói “trăm họ dùng hàng ngày mà không biết”.

Tuyền Cơ vận động của Ngũ Khí, mới khiến Thánh hiền xưa phát minh ra Thái Cực Đồ, lý lẽ một vật một cực, tìm ra được đồ phổ vận động của một vật một cực, tức là nguồn gốc đường cong của Thái Cực Đồ và ba loại đồ phổ tồn tại của Thái Cực Đồ. Giải thích rằng tất cả vạn vật Thái Cực, đều tồn tại dưới ba dạng Thái Cực: Thái Cực kết cấu trên dưới trái phải (Tý Ngọ Mão Dậu), Thái Cực tự quay (Sửu Mùi), Thái Cực công chuyển (Thìn Tuất). Đây chính là sự diễn giải về việc Ngũ Hành thành tựu sinh mệnh vật chủng và sự sinh tồn.


Vật chủng lượng tử Dương Âm của mệnh chủ Mộc:
Giáp Dần, Giáp Tý, Giáp Thìn, Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất
Ất Mão, Ất Hợi, Ất Sửu, Ất Tỵ, Ất Dậu, Ất Mùi.

Vật chủng lượng tử Dương Âm của mệnh chủ Hỏa:
Bính Dần, Bính Tý, Bính Tuất, Bính Thân, Bính Ngọ, Bính Thìn
Đinh Mão, Đinh Sửu, Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Mùi, Đinh Tỵ.

Vật chủng lượng tử Dương Âm của mệnh chủ Kim:
Canh Dần, Canh Tý, Canh Thìn, Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất
Tân Mão, Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu, Tân Mùi, Tân Tỵ.

Vật chủng lượng tử Dương Âm của mệnh chủ Thủy:
Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhâm Tuất, Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhâm Thìn
Quý Mão, Quý Sửu, Quý Hợi, Quý Dậu, Quý Mùi, Quý Tỵ.

Vật chủng lượng tử Dương Âm của mệnh chủ Thổ:
Mậu Dần, Mậu Tý, Mậu Tuất, Mậu Thân, Mậu Ngọ, Mậu Thìn
Kỷ Mão, Kỷ Sửu, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Mùi, Kỷ Tỵ.


Từ sự biến đổi của Ngũ Hành vật chủng trên mà xét, Thủy và Hỏa là Khí là chất lỏng khá đặc biệt, trong Sáu Mươi Hoa Giáp không có tổ hợp Bính Tỵ với Đinh Ngọ hay Nhâm Hợi với Quý Tý tương hỗ thành một thể. Không thể giống như Kim có Canh Thân và Tân Dậu, Mộc có Giáp Dần và Ất Mão, Thổ có Mậu Thìn Mậu Tuất và Kỷ Sửu Kỷ Mùi dựa vào khí thế của bản thể chân thực mà tương hỗ tổ hợp thành một thể. Chỉ có thể hình thành Hỏa có Bính Ngọ và Đinh Tỵ, Thủy có Nhâm Tý và Quý Hợi. Sự cùng khí cấu thành lẫn nhau và sự khác thế tìm đến nhau của Ngũ Hành vật chủng đã hình thành nên sự tuần hoàn tiêu trưởng vô hạn vô cùng của Thái Lượng (năng lượng lớn). Có những tổ hợp Can Chi mà Khí của Thể Dụng tương đồng, và những tổ hợp mà Khí Thế của Thể Dụng khác nhau, càng có sự tương hỗ, đối đầu, chuyển hóa giữa Khí dựa vào Thế và Thế mang theo Khí. Chức năng vận hành trong đó, đều tham chiếu Ngũ Hành mà đối đãi, theo Ngũ Vận mà hóa biến.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc