Cái gọi là Nhân Nguyên chính là Thiên Can ẩn tàng trong Mười Hai Địa Chi (Địa chi tàng Can). Đạo có ba loại: Thiên Đạo, Địa Đạo, Nhân Đạo. Mệnh có ba Nguyên: Thiên Nguyên, Địa Nguyên, Nhân Nguyên. Trong Bát Tự, Thiên Can là Thiên Nguyên, Địa Chi là Địa Nguyên, Can ẩn trong Chi là Nhân Nguyên.

(Một) Ý nghĩa của Địa chi tàng Can

Địa chi tàng Can, chỉ Nhân Nguyên ẩn tàng trong Địa Chi, ý nghĩa là sinh mệnh con người được nuôi dưỡng bởi Âm Khí của Đất, nhưng không phải chỉ riêng Âm Khí của Đất là đủ, mà phải nhận được Dương Khí của Trời mới có thể thành công. Đây chính là nguyên lý Địa Chi ẩn tàng Thiên Can. Nhân Nguyên là Khí ẩn chứa trong Địa Chi, bắt nguồn từ sự vận động có trật tự của các thiên thể, tinh tú, là Khí của Thiên Can giáng xuống hình thể của Địa Chi, hình thể Địa Chi thông qua việc hấp thụ và chuyển hóa mà hình thành nên Khí. Điều này được gọi là: “Thiên chi sở lâm, Địa chi sở thịnh, Ngoại khí hành hình, Nội khí chỉ sinh” – Trích Thanh Nang Kinh ( dịch – Nơi Trời giáng xuống, nơi Đất thịnh vượng, Khí bên ngoài lưu hành theo hình thể, Khí bên trong dừng lại mà sinh trưởng). Khí của Nhân Nguyên thực chất là năng lượng vũ trụ được Mặt Trăng hấp thụ và chuyển hóa một cách có trật tự rồi truyền đến Trái Đất, biểu hiện dưới hình thức là năng lượng của Địa Chi, nhưng bản chất thuộc về năng lượng Thiên Đạo giáng xuống Địa Đạo.

Trong quá trình luận giải Bát Tự, Địa chi tàng Can là một phần cực kỳ quan trọng, liên quan đến việc suy diễn đúng sai các vấn đề nhân sự, phải thuộc lòng ghi nhớ. Nếu nhầm lẫn Can tàng, thì mọi suy đoán đều sai.

(Hai) Địa chi tàng Can và Sắp xếp Nhân Nguyên

Khí của Nhân Nguyên bắt nguồn từ quy luật vận hành biến đổi tuần hoàn của Khí bốn mùa. Lấy năm làm chu kỳ lớn (Thái Cực), nửa năm làm chu kỳ trung bình (Âm Dương), bốn mùa làm chu kỳ nhỏ (Tứ Tượng), từ Dương đến Âm, Dương tiêu Âm trưởng, Âm tiêu Dương trưởng, Dương cực sinh Âm, Âm cực sinh Dương, không ngừng tuần hoàn lặp lại, luân chuyển không dứt. Nhân Nguyên ẩn tàng trong mỗi tháng chính là quỹ đạo vận hành của Khí bốn mùa trong tháng đó, nó có tính trình tự, phương hướng và chu kỳ nghiêm ngặt, tuân thủ chặt chẽ quy luật chuyển hóa Âm Dương của Khí. Chúng ta sắp xếp Địa chi tàng Can theo trình tự lưu hành của Khí bốn mùa, sẽ hình thành nên biểu đồ giao thoa vận hành bốn mùa của Khí Nhân Nguyên Tư Lệnh như sau:

Xuân

Dần : Mậu → Bính → Giáp

Mão : Giáp → Ất

Thìn : Ất → Quý → Mậu

Tiết khí: Lập Xuân, Vũ Thủy, Kinh Trập, Xuân Phân, Thanh Minh, Cốc Vũ

Hạ

Tỵ : Mậu → Canh → Bính

Ngọ : Bính → Kỷ → Đinh

Mùi : Đinh → Ất → Kỷ

Tiết khí: Lập Hạ, Tiểu Mãn, Mang Chủng, Hạ Chí, Tiểu Thử, Đại Thử

Thu

Thân : Mậu → Nhâm → Canh

Dậu : Canh → Tân

Tuất : Tân → Đinh → Mậu

Tiết khí: Lập Thu, Xử Thử, Bạch Lộ, Thu Phân, Hàn Lộ, Sương Giáng

Đông

Hợi : Mậu → Giáp → Nhâm

Tý : Nhâm → Quý

Sửu : Quý → Tân → Kỷ

Tiết khí: Lập Đông, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết, Đông Chí, Tiểu Hàn, Đại Hàn

Bài ca quyết Địa chi Nhân Nguyên tàng Can ( trích Uyên Hải Tử Bình)

Dần tàng Mậu Thổ cập Bính Giáp,

Mão trung đồng cư Giáp hòa Ất.

Thìn tàng Ất Mộc Quý Thủy Mậu,

Tỵ cung Mậu Thổ đồng Canh Bính.

Ngọ trung Bính Hỏa tịnh Kỷ Đinh,

Mùi cung tái cư Đinh Ất Kỷ.

Thân trung Mậu Thổ Nhâm Canh phùng,

Dậu cung đồng kiến Canh Tân long.

Tuất tàng Tân Kim hòa Đinh Mậu,

Hợi cung Mậu Giáp Nhâm đồng hộ.

Tý cung Nhâm Quý tại kỳ trung,

Sửu trung Quý Tân Kỷ Thổ đồng.

(Đây mới là khẩu quyết tàng Can chính tông nhất).


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc