Tiên thiên, Mười Hai Địa Chi là Thiên đạo Thiên thời, thay trời hành đạo. Hậu thiên, chúng cũng có thể thay thế cho Địa đạo, Địa lợi, Địa khí, thành tựu tài năng của Đất gọi là Địa tài. Địa Chi trong Tứ Tượng gồm: Dần, Mão là Thiếu Dương Mộc khí; Tỵ, Ngọ là Thái Dương Hỏa khí; Thân, Dậu là Thiếu Âm Kim khí; Hợi, Tý là Thái Âm Thủy khí; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Thổ là Trọc khí (khí vẩn đục).

Thiên Can là khí lưu hành, nên nói, hành ư thiên (lưu hành trên trời). Địa Chi là thứ tự của thời lệnh, nên nói, hành ư địa (lưu hành dưới đất). Địa Chi trong Thiên thời đại diện cho Năm, Tháng, Ngày, Giờ, thống quản Tiết khí, vận động lưu chuyển không ngừng. Dùng Ngũ Hành trong Địa Chi để định sự suy vượng bốn mùa của vạn vật; các trạng thái Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử của vạn vật; chủ quản lịch trình sinh tử hậu thiên của Mười Thiên Can. Địa Chi trong Bát Quái được bố trí ở tám phương, để định phương vị. Địa Chi trong Hà Lạc xác định sự sinh thành của Ngũ Hành, trong Tứ thời xác định sự nghi kỵ (nên và không nên) của vạn vật, trong Nhân đạo xác định thời gian cát hung!

Quan hệ tác dụng của Địa Chi bao gồm: Hợp, Xung, Hình, Hại, Phá, Tuyệt, Sinh, Khắc, và tuân theo nguyên tắc tác dụng: “Suy giả xung vượng vượng giả phát, vượng giả xung suy suy giả bạt” (Kẻ yếu xung kẻ vượng thì kẻ vượng phát, kẻ vượng xung kẻ suy thì kẻ suy bị nhổ bật gốc). Quy tắc này chính là quy tắc được nói đến trogn ” Trích Thiên Tủy “, anh em hãy mở ra ngâm cứu kỹ nhé, tuyệt đối không xem chú giải mà chỉ xem nguyên tác hán việt rồi ngẫm nghĩ thì may ra mới có cơ hội hiểu được ý chân thư. Huyền Học không giành cho số đông, thông linh ý tứ Trời Đất xưa này vốn chỉ nằm trong tay số ít.

Trở lại với nội dung chính, tương tác giữa các Địa Chi là tác dụng Hình với Hình, không phải tác dụng với Thiên Can, cũng không phải tác dụng với Nhân nguyên (tàng Can). Trong tác dụng của Địa Chi, lực tác dụng cùng giới tính (Âm-Âm, Dương-Dương) lớn, lực tác dụng khác giới tính (Âm-Dương) nhỏ. Địa Chi gặp Sinh trước gặp Khắc, thì không luận Khắc, mà luận theo tương sinh liên tục, tức là có Sinh thì luận Sinh trước, không có Sinh mới luận Khắc. Thứ tự ưu tiên tác dụng Âm Dương của Địa Chi vận hành theo quy tắc sau: 1. Hợp, 2. Xung, 3. Hình, 4. Hại, 5. Phá, 6. Tuyệt, 7. Sinh, 8. Khắc.

Đây là lý do tại sao hợp giải xung, sinh giải khắc, hợp xung luôn luôn đứng đầu trong các loại quan hệ tác dụng, như người với người đều là thích hợp trước, thích tìm tới nơi chốn theo đúng sở thích cá nhân, tìm không được mới bỏ đi, theo không được mới tìm cách đạp ( xung), không được nữa thì dùng thủ đoạn ( hình hợp hại phá) để đạt được mục tiêu. Quan hệ tác dụng địa chi chính là dùng để mô tả sự việc xoay quanh đời người, đối tượng nghiên cứu Thuật Mệnh Lý Tử Bính cũng chính là xoay quanh con người.


1. Địa Chi Tương Hợp (Lục Hợp)

Địa Chi Lục Hợp gồm: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi.

Sách «Lễ Hải Tập» viết: “Lục Hợp Địa Chi của nhà Âm Dương là, Nhật Nguyệt hội tại Tý thì Đẩu kiến Sửu, Nhật Nguyệt hội tại Sửu thì Đẩu kiến Tý, nên Tý với Sửu hợp; Nhật Nguyệt hội tại Dần thì Đẩu kiến Hợi, Nhật Nguyệt hội tại Hợi thì Đẩu kiến Dần, nên Dần với Hợi hợp; Nhật Nguyệt hội tại Mão thì Đẩu kiến Tuất, Nhật Nguyệt hội tại Tuất thì Đẩu kiến Mão, nên Mão với Tuất hợp; Nhật Nguyệt hội tại Thìn thì Đẩu kiến Dậu, Nhật Nguyệt hội tại Dậu thì Đẩu kiến Thìn, nên Thìn với Dậu hợp; Nhật Nguyệt hội tại Tỵ thì Đẩu kiến Thân, Nhật Nguyệt hội tại Thân thì Đẩu kiến Tỵ, nên Tỵ với Thân hợp; Nhật Nguyệt hội tại Ngọ thì Đẩu kiến Mùi, Nhật Nguyệt hội tại Mùi thì Đẩu kiến Ngọ, nên Ngọ với Mùi hợp”. Địa Chi Lục Hợp là sự kết hợp chặt chẽ nhất giữa các Địa Chi, tượng trưng cho kết thân, thân cận, hòa hảo, cũng có ý nghĩa ràng buộc. Trong Lục Hợp, không có cái nào là chính hợp (hợp ngay thẳng), sự hợp đều sinh ra từ lợi ích. Thời xưa giao chiến, quần hùng tranh bá, có kẻ hợp binh cùng đánh, có kẻ cắt đất cầu hòa, có kẻ gả em gái cho địch, có kẻ bỏ vua theo hầu, có kẻ chia đất nước hai chế độ mà không xâm phạm nhau, có kẻ nuốt lãnh thổ mà dung nạp dân chúng của họ.

2. Địa Chi Tương Xung (Lục Xung)

Địa Chi Lục Xung gồm: Tý Ngọ, Mão Dậu, Dần Thân, Tỵ Hợi, Thìn Tuất, Sửu Mùi. Tương xung là sự đối kháng, xung kích chính diện, khi không chống đỡ nổi đối phương thì có thể chạy mất, nên xung còn có ý nghĩa là xung đi mất.

3. Địa Chi Tương Hình (Lục Hình)

Địa Chi Lục Hình gồm: Tý Mão, Ngọ Dậu, Dần Tỵ, Tỵ Thân, Thìn Mùi, Sửu Tuất. Bản nghĩa của Hình là chế ước, hình phạt. Tương Hình là do Thiên Can ẩn tàng trong Địa Chi không thể tương dung, do đó có ý nghĩa tương hỗ thương hại, động hình.

4. Địa Chi Tương Hại (Lục Hại)

Địa Chi Lục Hại gồm: Tý Mùi, Sửu Ngọ, Dần Tỵ, Mão Thìn, Thân Hợi, Dậu Tuất. Tương Hại do Tương Hợp mà ra, xung Hợp thần của tôi nên gọi là Hại. Ví dụ: Tý hợp Sửu mà Mùi xung Sửu, nên Tý hại Mùi; Ngọ hợp Mùi mà Sửu xung Mùi, nên Sửu hại Ngọ; Dần hợp Hợi mà Tỵ xung Hợi, nên Dần hại Tỵ; Mão hợp Tuất mà Thìn xung Tuất, nên Mão hại Thìn; Thân hợp Tỵ mà Hợi xung Tỵ, nên Thân hại Hợi; Dậu hợp Thìn mà Tuất xung Thìn, nên Dậu hại Tuất. Lục Hại còn có tên là “Lục Xuyên” (Sáu sự xuyên thủng). Hại là ý làm hại người khác; Xuyên là ý xuyên ruột thủng bụng, mũi tên nhọn xuyên tim, đẩy người vào chỗ chết. Địa Chi Tương Hại, tuy không phải xung đột trực tiếp, nhưng còn độc ác hơn xung đột trực tiếp. Tục ngữ có câu: “Minh thương dị đóa, ám tiễn nan phòng” (Thương công khai dễ tránh, tên ngầm khó phòng). Nếu ví Xung là thương công khai, thì Xuyên Hại chính là tên ngầm. Biểu hiện tuy là ẩn hình, nhưng loại thương tổn này âm độc nhất, là mối hận chôn giấu đáy lòng.

5. Địa Chi Tương Phá (Lục Phá)

Địa Chi Lục Phá gồm: Tý Dậu, Mão Ngọ, Thìn Sửu, Mùi Tuất, Dần Hợi, Tỵ Thân. Hàm nghĩa của Phá là quan hệ phá liệt (tan vỡ), chỉ hiện tượng hai Chi không thể dung hợp, thẩm thấu lẫn nhau mà sinh ra sự bài xích. Ngoài ra còn có hàm nghĩa vô tình, phá hoại, phế bỏ, phá hao (tổn thất).

6. Địa Chi Tương Tuyệt (Tứ Tuyệt)

Địa Chi Tứ Tuyệt gồm: Tý Tỵ, Ngọ Hợi, Dần Dậu, Mão Thân. Thực chất của Tương Tuyệt là quan hệ tác dụng giữa động tinh (sao động) và tĩnh tinh (sao tĩnh). Tương Tuyệt có ý tượng và hàm nghĩa là không có, đánh mất, tuyệt liệt (cắt đứt), phân khai, giải tán. Đồng thời, cũng có nghĩa là sự việc kết thúc một giai đoạn, hoặc sự việc không thành, tình yêu chia tay, gia đình phân ly tình thân ly tán.

7. Địa Chi Tương Sinh

Có sinh khác giới tính Âm Dương (Âm sinh Dương, Dương sinh Âm) và sinh cùng giới tính Âm Dương (Dương Dương sinh, Âm Âm sinh).

8. Địa Chi Tương Khắc

Có khắc khác giới tính Âm Dương (Âm khắc Dương, Dương khắc Âm) và khắc cùng giới tính Âm Dương (Dương Dương khắc, Âm Âm khắc).

Lưu ý: Địa Chi Tam Hội, Tam Hình, v.v., không phù hợp với quan hệ tác dụng Âm Dương trong hiện thực, nên loại bỏ hoàn toàn. Đặc biệt nhắc nhở người mới học: Nguyệt Lệnh không phải là Nguyệt Chi, mà là khí phân dã của Nhân nguyên (tàng Can) ẩn tàng trong Nguyệt Chi. Anh em cố gắng phân biệt, đừng để đến lúc đầu bạc mà vẫn nhầm lẫn không biết Nguyệt Lệnh là gì!


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc