1. Thiên Can thành hình ở Đất là Địa Chi
Chúng ta xem tất cả Thiên Can là Khí, thì nó bắt buộc phải có hình thể. Ở Trời thành tượng, ở Đất thành hình, chúng ta phải đối ứng Thiên Can với Địa Chi.
(Ghép cặp Khí (Can) -> Hình (Chi):)
- Giáp -> Dần
- Bính -> Tỵ
- Mậu -> Tuất
- Canh -> Thân
- Nhâm -> Hợi
- Quý -> Tý
- Tân -> Dậu
- Kỷ -> Sửu
- Đinh -> Ngọ
- Ất -> Mão
«Sơ đồ Chân Thể» chỉ sự hóa thành của mỗi vật thể, chứ không phải sự vận động của mỗi vật thể, và chúng là một thể thống nhất trên dưới tương hỗ. Thực tế, Mười Thiên Can chỉ Tượng, Tượng chính là ý nghĩa của Khí, tinh thần diện mạo; Mười Hai Địa Chi chỉ hình thể.
Cách tổ hợp Thiên Can Địa Chi trong «Sơ đồ Chân Thể» là vận động đơn lẻ. Tại sao «Sơ đồ Chân Thể» lại thiếu Thìn và Mùi? Bởi vì «Sơ đồ Chân Thể» Mười Thiên Can đối ứng với Mười Địa Chi, bên trong nó không có khuyết khẩu (chỗ hở).
Giáp Dần đến Quý Tý vận hành một vòng là kết thúc, phải thêm hai Địa Chi mới có thể tiếp tục vận hành. Nguyên nhân nào tạo ra điều này? Có Mặt Trăng mới thêm hai Địa Chi là Thìn và Mùi. Bởi vì trong Thiên đạo chỉ có Táo (khô) và Hàn (lạnh), trong Địa đạo lại có Hàn (lạnh), Thử (nóng), Táo (khô), Thấp (ẩm). Trong Thiên đạo, Mậu Thổ đối ứng với Tuất chính là Táo, Kỷ Thổ đối ứng với Sửu là Hàn. Trái Đất trong Thập Đại Thiên Hệ nhiệt độ rất thấp, bên trong nó không có thể sống. Mậu Tuất ở đây cũng rất khô, không có thể sống, không thích hợp cho con người và các thể sống khác trên Trái Đất sinh tồn. Điều kiện thích hợp cho con người và các sinh mệnh khác sinh tồn cần phải có nhiệt độ và độ ẩm, mà nhiệt độ và độ ẩm trên Trái Đất là do Mặt Trăng tạo thành. Mặt Trăng trong hệ thống trời biểu thị là Tân Dậu.
2. Nguồn gốc tinh tượng của Mười Hai Địa Chi
Ông Lục Tinh Nguyên đã tiến hành khảo sát hệ thống đối với Mười Hai Địa Chi. Thông qua việc phục dựng bản đồ sao, ông Lục cho rằng tự hình (hình dạng chữ viết) của Mười Hai Địa Chi đều bắt nguồn từ tinh tượng (hình ảnh các chòm sao) cách đây 2000 năm.
Căn cứ vào thiên văn lịch pháp, thứ tự của Thập Nhị Thứ (12 cung hoàng đạo/trạm sao Mộc) dựa trên quỹ đạo chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong một năm, còn thứ tự của Thập Nhị Thần (ở đây chỉ Địa Chi) thì được thiết lập dựa trên thứ tự xoay một vòng trời của cán sao Bắc Đẩu (Bắc – Đông – Nam – Tây). Thập Nhị Thứ là ngưỡng quan ư thiên (quan sát nhìn lên trời), còn Thập Nhị Thần là phủ sát ư địa (quan sát nhìn xuống đất), do đó Thập Nhị Thần có thể ứng dụng vào phương vị trên mặt đất, gọi là Thập Nhị Chi, sau này lại phối hợp với thời gian, gọi là Thập Nhị Thời Thần (12 canh giờ). Chính vì Thập Nhị Thần và phương vị trên mặt đất có thể phối hợp chặt chẽ, chúng mới được ứng dụng từ trên trời xuống mặt đất, trở thành Mười Hai Địa Chi.





Gửi phản hồi cho #23. “Lục Thập Hoa Giáp” và “Chân Thể Đồ” – Tử Bình Thuật Hủy trả lời