Muộn nhất là từ thời nhà Thương (Ân Thương), bên Trung Quốc đã liên tục sử dụng cái mà hậu thế gọi là “phương pháp đếm ngày bằng Can Chi” (Can Chi kỷ nhật pháp). Nhưng thực tế, tên gọi sớm hơn của Thiên Can là “Thập Nhật” (Mười Mặt Trời), còn Địa Chi được gọi là “Thập Nhị Thần”.

Sách «Chu Lễ – Thu Quan Tư Khấu» viết: “Thích Thốc thị chưởng phúc yêu điểu chi sào, dĩ phương thư thập nhật chi hiệu, thập hữu nhị thần chi hiệu” (Quan Thích Thốc coi việc lật tổ chim non hại người, dùng phương thư viết tên của Mười Nhật, tên của Mười Hai Thần). Do cán sao Bắc Đẩu cũng quay quanh điểm Bắc Cực một vòng trời trong một năm, mỗi tháng chỉ về một phương vị nhất định, nếu Đẩu cán chỉ hướng Dần, thì tháng đó là tháng Dần, nếu Đẩu cán chỉ hướng Mão, thì là tháng Mão, từ đó đã hình thành nên 12 tháng trong 1 năm. nên người xưa đã chuyển Mười Hai Thần trên trời xuống mặt đất, dùng để chỉ mười hai phương vị trên mặt đất, đó chính là Mười Hai Địa Chi sau này.

Thiên Can (Thiên đạo): Có mười cái, lần lượt là: Giáp (甲), Ất (乙), Bính (丙), Đinh (丁), Mậu (戊), Kỷ (己), Canh (庚), Tân (辛), Nhâm (壬), Quý (癸). Trong đó Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là Dương Can; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là Âm Can.

Dễ hiểu nhất xem Ngũ Hành chính là tiến hóa sao chép toàn ảnh theo quy luật Âm Dương, mỗi Hành trong Ngũ Hành đều có phân Âm Dương, ví dụ Kim khí phân thành Dương khí và Âm khí, sau khi phân chia thì có Âm Dương của Kim, Âm Dương của Mộc, Âm Dương của Thủy, Âm Dương của Hỏa, Âm Dương của Thổ, như vậy hình thành Mười Thiên Can.

Người xưa dùng Mười Thiên Can để biểu thị sự vận hành của Ngũ Hành Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Đây chính là sau khi người xưa phân Ngũ Hành thành Âm Dương, thì xuất hiện Thập hàng (Mười hàng). Mười hàng này dùng Mười Thiên Can đại diện, tại sao Mười Thiên Can sau đó lại không thể tiếp tục phát sinh nữa? Bởi vì Ngũ Hành biến thành Thập hàng, năng lượng Âm Dương của mỗi hàng trong Ngũ Hành, vừa vặn dùng số lượng biểu thị là hệ thập phân (mười chữ số). Từ mười bắt đầu là mười một, lại tuần hoàn một vòng, sau đó thêm Thiên Can nữa thì không có ý nghĩa, sẽ lặp lại. Cho nên người xưa quy nạp toàn bộ quy luật trời đất thành mười số, chúng ta gọi nó là Mười Mặt Trời. Tại sao gọi là Mười Mặt Trời? Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là Thái Dương, Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là Thái Âm, tức là Mười Thiên Can có 5 Thái Dương và 5 Thái Âm.


Như vậy đã cấu thành quy luật mỗi hàng đều chứa Âm Dương và mối quan hệ Thái Âm Thái Dương. Sau khi chúng ta hiểu rõ những điều này, sẽ biết được sự loại suy (tương đồng) của chúng. Năng lượng của mỗi vật chất Ngũ Hành cũng chính là Thái Lượng, trên cơ sở này, nó không thể tiếp tục sinh sôi nảy nở xuống dưới nữa. Ví dụ Giáp nó chỉ có thể là Giáp khí và Giáp hình, nó không thể phân Âm Dương nữa, Ngũ Hành đều như vậy. Phương pháp biểu thị của nó cần chú ý, phương pháp biểu thị ở đây chỉ cá thể đơn lẻ, không phải là “công chuyển xã hội” của Mười Thiên Can ( Thập Thần), điều này rất quan trọng. Điều này liên quan đến mối quan hệ thông căn, đắc thế trong Bát Tự.

🕊️ Thiên can ứng với thời gian, không gian, cơ thể người

  • Thiên can ứng với phương vị: Giáp Ất phương Đông, Bính Đinh phương Nam, Mậu Kỷ trung ương, Canh Tân phương Tây, Nhâm Quý phương Bắc.
  • Thiên can ứng với thời gian: Giáp Ất mùa xuân, Bính Đinh mùa hạ, Mậu Kỷ tháng cuối mỗi mùa, Canh Tân mùa thu, Nhâm Quý mùa đông.
  • Thiên can ứng với cơ thể người: Giáp là đầu, Ất là vai, Bính là trán, Đinh là răng, lưỡi, Mậu là mặt, mũi, ngoài ra Mậu còn là xương sườn, Kỷ là bụng, Canh là gân cốt, Tân là ngực, Nhâm là kinh mạch, Quý là chân.
  • Thiên can ứng với nội tạng: Giáp là mật, Ất là gan, Bính là tiểu tràng, Đinh là tim, Mậu là dạ dày, Kỷ là tỳ, Canh là đại tràng, Tân là phổi, Nhâm là bàng quang, Quý là thận.
  • Thiên can ứng với đời người: Giáp là sinh ra, Ất là thời kỳ bú mớm, Bính là thiếu niên, Đinh là thanh niên, Mậu là tráng niên, Kỷ là trung niên, Canh là già lão, Tân là văn niên, Nhâm là tử vong, Quý là mục rữa.

🕊️ Địa chi ứng với phương vị, sinh tiêu, cơ thể người

  • Địa chi ứng với phương vị: Dần Mão phương Đông, Tỵ Ngọ phương Nam, Thân Dậu phương Tây, Hợi Tý phương Bắc, Thìn Tuất Sửu Mùi trung cung.
  • Địa chi ứng với bốn mùa: Dần Mão Thìn mùa xuân, Tỵ Ngọ Mùi mùa hạ, Thân Dậu Tuất mùa thu, Hợi Tý Sửu mùa đông.
  • Địa chi ứng với sinh tiêu (con giáp): Tý chuột, Sửu trâu, Dần hổ, Mão mèo (thỏ), Thìn rồng, Tỵ rắn, Ngọ ngựa, Mùi dê, Thân khỉ, Dậu gà, Tuất chó, Hợi lợn.
  • Địa chi ứng với cơ thể người: Tý là tai, Sửu là bụng chân, Dần là tay, tóc, Mão là ngón tay, Thìn là vai, ngực, Tỵ là mặt, răng, họng, Ngọ là mắt, Mùi là đầu gối, Thân là kinh lạc, Dậu là máu, Tuất là mệnh môn và đùi, Hợi là đầu.
  • Địa chi ứng với phủ tạng: Tý là bàng quang và tam tiêu, Sửu tỳ, Dần mật, Mão gan, Thìn dạ dày, Tỵ tim, Ngọ tiểu tràng, Mùi lá lách, Thân đại tràng, Dậu phổi, Tuất dạ dày, Hợi thận và tâm bào.

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Đừng ngại đóng góp ý kiến của bạn nhé.

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc