1. Sự khác biệt giữa Hình và Khí

Âm Dương hai Khí là năng lượng, thường gọi là Âm Khí và Dương Khí. Khí thì vô hình, vô tượng, không thể thấy, không thể chạm, chỉ có thể thông qua Hình; có Hình sẽ có tượng để quan sát mức độ hòa hợp của Khí, từ đó phán đoán trạng thái bản thể Thái Cực, đưa ra kết quả giàu sang nghèo hèn, tuổi thọ cát hung. Thái Cực pháp thực chất là phương pháp kết hợp giữa Hình và Khí; rời bỏ Hình mà nói Khí là nói trong không trung, nghe hay nhưng không thực tế.

Hình là Can Chi, Thập Thần, Cung Vị có Hình có tượng, chính là vạn sự vạn vật mà chúng ta có thể nhìn thấy. Tuy năng lượng nhỏ nhưng là vật mang của Âm Dương trên đường nhân đạo. Mỗi Hình bình thường đều mang Âm Dương Khí của trời đất, nên tuyệt đối không được coi nhẹ tác dụng của Hình. Có Hình mới có thể mang Khí, vô Hình thì không thể hiện Khí, nên luận mệnh phải nhờ vào Hình, Hình của Can Chi, Thập Thần, Ngũ Hành, Cung Vị. Nếu không có Can Chi, Thập Thần, Cung Vị thì không thể luận Khí.

Khí đều phụ thuộc vào Hình của Can Chi. Luận Khí là phải thông qua sinh khắc của Can Chi để sắp xếp và dự đoán chiều hướng của Khí, xem là Âm Khí hay Dương Khí. Âm Dương được tạo thành bởi Ngũ Hành; cơ bản thì Mộc Hỏa là Dương và Kim Thủy là Âm, Thổ có đặc tính trung dung.

Luận Khí trước hết phải biết độ tự do của Khí; Khí tự do mới có tác dụng, nếu Khí đều chết, bị ức chế thì vô dụng. Hình của Can Chi bản thân đã mang Âm Dương Khí, động lực của nó là Khí Ngũ Hành. Tính chủ động của Hình phải xem Khí; Hình có Khí mới có thể động, Hình Khí chết thì không thể tự động tác dụng. Như xem Khí của Mộc có tự do không, có thực hiện bởi Giáp Ất Dần Mão Mộc không. Khí tự do, Hình sẽ có khả năng sinh khắc. Khí chết, Hình hầu như không sinh khắc; dù là Giáp Kỷ hợp khắc, tác dụng cũng không lớn lắm.

Do Âm Dương là mối quan hệ đối lập, sẽ xuất hiện hiện tượng một tăng một giảm, tức là quan hệ tiêu trưởng. Một mạnh thì một yếu, một tiêu thì một trưởng, một sống thì một chết; như vậy mới có bốn thời Vượng, Tướng, Hưu, Tù, Tử và Mười Hai Cung. Âm Khí dài, Dương Khí tiêu, mới có thể đạt được cân bằng Âm Dương; nếu Âm Dương cùng tăng hoặc cùng giảm thì không thể cân bằng.

Giả dụ thông qua quan hệ tiêu trưởng của Âm Dương, lấy Mộc là ví dụ: khi Mộc Khí vượng, Thổ Khí chắc chắn bị ức chế và không tự do. Khi Thổ Khí vượng, Thủy Khí chắc chắn bị kiểm soát, và lúc này Khí đối của Thủy là Hỏa Khí sẽ xuất hiện.

Khi Kim Khí rất vượng, Mộc Khí chắc chắn bị ức chế. Khi Mộc Khí bị ức chế, Thổ Khí sẽ xuất hiện, và Thổ sẽ khắc Thủy. Khi Thủy Khí bị kiểm soát, Hỏa Khí sẽ xuất hiện. Đấy chính là từ hư đoán thực và từ thực xét hư, tương đồng với tính ‘ Không ‘ trong giáo lý nhà Phật: Không – không phải là không có, chỉ là không nhìn thấy nhưng vẫn tồn tại.

Như Canh Kim khắc Giáp Mộc dẫn ra Đinh; sau khi Kim khắc Mộc, Thổ Khí xuất hiện, Thủy Khí bị ức chế, Hỏa Khí tự nhiên xuất hiện. Sau khi Canh Kim khắc Giáp Mộc, bất kể trong Bát Tự có Đinh Hỏa hay không, trong Bát Tự đã có Hỏa Khí tự do. Đây là nói về Khí. Giống như con người, Mộc vượng gặp Kim thì đầu óc mới thông suốt. Khi Âm vượng xuất hiện Hỏa Khí, điều này đại diện cho ý nghĩ đúng đắn, cũng đại diện cho đầu óc thông suốt.

Phải rõ ràng rằng Khí không phải là Hình. Trước đây khi học phương pháp cân bằng vượng suy, mình từng nghĩ rằng sau khi Kim khắc Mộc, Mộc không thể sinh Hỏa, Hỏa không phải đã chết rồi sao? Dù nghĩ thế nào cũng không hiểu nổi. Mình tin rằng rất nhiều bạn cũng có chung thắc mắc như mình, bởi đơn giản lý thuyết chúng ta tiếp cận có phần khập khiễng, vì ở cấp độ Hình thì chúng ta hoàn toàn không thể nhìn thấy Khí.

2. Mối quan hệ giữa Hình và Khí

Luận Khí là nói về Hình và Khí. Khí vô Hình nên không thể thấy; cái chúng ta có thể thấy là Hình của Can Chi. Vì vậy, để so sánh sự cân bằng giữa hai Khí Âm Dương, phải biết thông qua Hình mà xét Ngũ Hành Khí. Trong Bát Tự được thực hiện chính là Thập Can, Thập Nhị Địa Chi.

Khi chưa hiểu Âm Dương, tuyệt đối phải ghi nhớ Can Chi không thể đồng nghĩa với Ngũ Hành. Khi hiểu Âm Dương mới có thể đồng nghĩa, như Giáp Ất Mộc đều là Ngũ Hành Mộc. Can Chi là con cái, đại diện của Ngũ Hành. Khi chưa hiểu Âm Dương, nhầm lẫn Can Chi với Ngũ Hành; thực tế Can Chi và Ngũ Hành là hai khái niệm khác nhau.

Hình Can Chi là vật đạo nhân, được sinh ra từ Khí Ngũ Hành địa đạo. Ngũ Hành sinh ra hai Hình Can Chi, một nam một nữ, một mạnh một yếu. Giáp Mộc là Khí Can, Ất Mộc là Hình Can. Trước đây thường gọi Giáp Mộc là Dương Can, Ất Mộc là Âm Can; Âm Dương ở đây là đối lập giữa Hình và Khí. Ngũ Hành Hỏa địa đạo sinh ra Bính Đinh Hỏa. Can Chi và Ngũ Hành thực tế là quan hệ giữa Hình và Khí; Ngũ Hành là Khí, Can Chi là Hình. Vì vậy, khái niệm Hình Khí ở khắp nơi; học tốt mệnh lý ngoài con đường thông thạo Hình Khí thì tuyệt đối không có con đường thứ hai.

Ngũ Hành Khí là Dụng, Hình Can Chi là Thể. Thể là bản chất, mục tiêu, chủ yếu. Hình do Khí mà thành, do đó Khí quyết định tâm tính, phẩm chất của Hình, cũng quyết định quyền sinh khắc của Hình. Can Chi có Khí mới có thể sinh khắc, Khí chết thì không thể sinh khắc. Nếu một Bát Tự có Giáp Ất Mộc, nhưng Khí Mộc chết, Giáp Ất Mộc chỉ đại diện cho người có Hình thể Mộc, không tồn tại tính cách thư thái, phật tính, đạo tính mà Khí Mộc đại diện, trừ khi có cứu ứng. Khí Mộc chết thì không thích học, nhìn sách là đau đầu. Khí Mộc chết mà không có cứu ứng, không phải bản thân ngắn số thì là thân thuộc ngắn số. Khí Mộc chết cũng không thể ức chế Thổ Khí mà xuất Thủy Khí.

Hình Khí là quan hệ giữa Thể và Dụng, là mối quan hệ giữa Hình thể bên ngoài và bản chất, tinh thần bên trong. Khí Ngũ Hành sinh ra hai, một Hình Can, một Khí Can. Vì vậy, mỗi Hình Thập Can đều có thể xem như Khí Ngũ Hành. Khí Can là Khí mạnh của Ngũ Hành, Hình Can là Khí yếu của Ngũ Hành. Mộc sinh ra hai Thiên Can Giáp Ất Mộc: Giáp Mộc là Khí thiếu Dương mạnh; Ất Mộc là Hình thiếu Dương yếu. Khí Dương của Giáp Mộc mạnh hơn Ất Mộc, do đó phúc báo các mặt của Giáp Mộc lớn hơn Ất Mộc, có thể nổi bật, nhờ đầu óc mà làm người lãnh đạo nhỏ. Trong khi Hình của Ất Mộc mạnh hơn Giáp mộc thì thiên về kỹ thuật, thợ thủ công.

Kim khắc Mộc trong lúc Âm vượng sẽ xuất ra Thổ khắc Thủy, tức là Dương chế Âm, nhất định có cát lợi.

Nhưng trong lúc Dương vượng, xuất Thổ khắc Thủy nghĩa là Âm bị tổn thương, thì có tai họa.

Đây chính là nguyên nhân khiến người ta không nhìn rõ vận mệnh. Con người thường chỉ nhìn thấy những điều trực tiếp bề mặt mà không thấy được rằng sự việc này như là nguyên nhân dẫn đến những sự việc lớn hơn xảy ra, và sự việc tiếp theo mới là kết quả cuối cùng của sự việc đó. Vì vậy, trong cuộc sống, không thể chỉ cân nhắc bước hiện tại mà phải cân nhắc bước thứ hai, thậm chí bước thứ ba. Giống như người giỏi chơi cờ, họ có thể nhìn nhiều bước; người không giỏi chơi cờ chỉ nhìn được bước hiện tại mà thôi.


Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

7 bình luận cho “#06. Hình và Khí”

  1. […] Tư Duy Nhập Môn Bát Tự (Trích đoạn Lời giảng của Thầy) #06. Hình và Khí #13. Thập Thiên Can và sự toàn ảnh của Hệ […]

    Thích

  2. […] #06. Hình và Khí #03. Tư Duy Nhập Môn Bát Tự (Trích đoạn Lời giảng của Thầy) […]

    Thích

  3. […] Rượu bổ cho mùa thu #06. Hình và Khí #02. Khái niệm […]

    Thích

  4. […] Nhân sâm có thể là thuốc độc #06. Hình và Khí #07. Chân kinh Âm Dương Hình […]

    Thích

  5. […] #04. Triết Lý Về Khí #06. Hình và Khí […]

    Thích

  6. […] #06. Hình và Khí #04. Triết Lý Về Khí […]

    Thích

  7. […] #06. Hình và Khí #01. Suy Nghĩ Về Mệnh Học Hiện Đại […]

    Thích

Gửi phản hồi cho #09. Làm thế nào để học thuật xem mệnh? – Tử Bình Thuật Hủy trả lời

Thịnh hành

Khám phá thêm từ Tử Bình Thuật

Đăng ký ngay để tiếp tục đọc và truy cập kho lưu trữ đầy đủ.

Tiếp tục đọc