Phần mở đầu của 《Trích Thiên Tủy》 và 《Tử Bình Chân Thuyên》 thực sự đã hàm chứa toàn bộ bí mật của Can Chi, thế nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra được “bộ mặt thật của núi Lư Sơn” này.
《Tử Bình Chân Thuyên》 có viết:
“Có Tứ Tượng này, mà Ngũ Hành đã đầy đủ trong đó. Thủy là Thái Âm, Hỏa là Thái Dương; Mộc là Thiếu Dương, Kim là Thiếu Âm. Thổ là nơi chân khí của Âm Dương lúc thịnh suy giao hòa, là nơi Mộc Hỏa Kim Thủy ngưng tụ lại.
Đã có Ngũ Hành, tại sao lại có Thập Can và Thập Nhị Địa Chi? Ấy là vì có Âm Dương, từ Âm Dương sinh ra Ngũ Hành, rồi trong từng Ngũ Hành lại hàm chứa Âm Dương, Thập Can sinh ra từ đó.”
Lấy Mộc làm ví dụ: Giáp Ất chính là Âm Dương của Mộc. Giáp là sinh khí của Ất, Ất là hình chất của Giáp. Ở trên Trời, Mộc là sinh khí; sinh khí đó lưu hành trong vạn vật thì gọi là Giáp. Ở dưới Đất là vạn vật, vạn vật tiếp nhận sinh khí ấy thì gọi là Ất.
Cổ hiền đã nhận thức rất rõ ràng rằng Mười Thiên Can bản chất là Khí, chứ không phải Hình. Ngay cụm từ “Thiên Can” (Can của Trời) cũng đã nói rõ thuộc tính này, há không phải vậy sao! Sự phân biệt căn bản luôn là giữa Thiên Khí (Dương) và Địa Khí (Âm). Mong rằng các đồng môn đừng để đến “bạc đầu” mà vẫn ngây thơ luận rằng Giáp là cây đại thụ. Tuy nhiên, nếu nói cây đại thụ là một trong những hình tượng của Giáp thì còn có thể tạm chấp nhận.
Phân chia tỉ mỉ hơn:
Sinh khí lan tỏa, bay xa, không ngừng lưu chuyển thì là Giáp của Giáp.
Sinh khí ấy sau khi ngưng tụ thành hình thì gọi là Ất của Giáp (điều này thể hiện tính chất cho đi, phát tán của Dương).
Vạn Mộc sở dĩ có cành lá là Giáp của Ất.
Mà cành lá của vạn Mộc chính là Ất của Ất (điều này thể hiện công năng hấp thụ, thu nhận của Âm).
Cần phải hiểu rằng, cổ hiền dùng Giáp Ất không phải để luận về cây cối đơn thuần, mà là đang luận về Thiên Khí và Địa Khí của Mười Can tác động lên vạn vật, hòa hợp Khí để tạo sự cân bằng – tức là sự giao thoa của Khí với Khí.
Khi nó là Giáp, Khí của Ất đã sẵn sàng; đến khi nó là Ất, Chất của Giáp mới trở nên vững chắc. (Điều này thể hiện sâu sắc nguyên lý trong Âm có Dương, trong Dương có Âm). Cổ hiền đã dụng tâm vô cùng khổ cực, khảo chứng lặp đi lặp lại để khẳng định Mười Thiên Can là sự biến hóa Âm Dương của Khí, hoàn toàn không phải sự biến hóa Âm Dương của Hình. Đây như một “đòn mạnh” giáng vào nhận định của những ai khăng khăng cho rằng Giáp là cây lớn, Ất là hoa cỏ. Mong các đồng môn hãy tự vấn để có thể tỉnh ngộ, từ đó nhận thức và xem xét lại bản chất của Thiên Can một cách tinh tường hơn.
Cổ thánh qua việc “Ngẩng xem Thiên văn, cúi xét Địa lý”, đã dùng Khí Âm Dương của Thiên Can để tiết lộ nguyên nhân hình thành vạn vật, còn Địa Chi thì biểu thị kết quả của vạn vật. Từ đó mới có những cao luận tinh túy như:
Thiên Quang giáng xuống, Địa Đức nâng đỡ.
Trời dựa vào Hình, Đất bám vào Khí.
Khí đi theo Hình, Hình dừng Khí tụ.
Nơi Trời chiếu đến là nơi Địa Chi thịnh vượng.
Lấy Khí Mộc của Giáp Ất để giải đọc, chúng ta có thể tương tự suy ra sự vận động của Khí Hỏa, Khí Kim, Khí Thủy, Khí Thổ lưu hành trên Trời.
《Tử Bình Chân Thuyên》 khi luận về Địa Chi cũng đã nói:
“Địa Chi là thứ tự lưu hành của bốn mùa. Địa Chi đại diện cho thứ tự thời gian, phương vị, hình thể của năm tháng ngày giờ và vạn vật. Thiên Can không có thứ tự lưu hành bốn mùa; Thiên Can chỉ đơn giản là lưu chuyển không ngừng nghỉ, không thể xác định, nên mới dùng Địa Chi để đối chiếu xuống mặt Đất làm công cụ cho chúng ta sử dụng.”
Tại sao lại có Dần Mão? Bởi vì đã có Khí Âm Dương Ngũ Hành của Giáp Ất, tất yếu phải có Hình Âm Dương tương ứng để biểu thị, đó mới chính là đạo lý Âm Dương của Trời Đất. Dần Mão, cũng như Giáp Ất, dùng để phân định Âm Dương của Trời Đất.
Những tâm ý được trình bày ở trên là mong muốn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai còn chưa phân biệt rõ ràng Trời Đất, chưa thấu tỏ mối quan hệ giữa chúng. Rằng Trời không thể sinh Đất, Đất không thể sinh Trời, Can Chi không thể tương sinh trực tiếp cho nhau theo cách hiểu thông thường, cũng như nước không thể sinh lửa. Vậy, liệu thuyết Âm Dương tương sinh có phải đã bị hiểu sai lệch?
Thực ra, Trời Đất Nước Lửa Gió vốn là một thể hỗn nhiên, nhưng trong đó mỗi yếu tố lại có những đặc tính riêng biệt, không thể lẫn lộn. Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, biểu thị Âm Dương cùng sinh cùng tồn tại. Nói một cách chính xác, Âm Dương tương y (nương tựa vào nhau) thì đúng, còn nói tương sinh theo nghĩa một chiều thì hoàn toàn không phải. Sai một chữ, lý có thể đi xa cả ngàn dặm.
Can Chi, bản thân chúng hoàn toàn không có tác dụng sinh khắc trực tiếp. Can không sinh Chi, Chi không sinh Can; Can không khắc Chi, Chi không khắc Can. Bởi vì: Trời dựa Hình, Đất bám Khí – Can là Khí, Chi là Hình.
Lấy Giáp Ất để phân Âm Dương, thì Giáp là Dương, Ất là Âm; đó là Khí của hành Mộc ở trên Trời mà thành Âm Dương.
Lấy Dần Mão để phân Âm Dương, thì Dần là Dương, Mão là Âm; đó là Thể của hành Mộc tồn tại ở dưới Đất mà thành Âm Dương.
Khi thống nhất Giáp Ất Dần Mão để phân định Âm Dương, ta thấy: Giáp Ất (Thiên Can) thuộc Dương (Khí), Dần Mão (Địa Chi) thuộc Âm (Hình). Một vật từ xưa đến nay luôn là một Thái Cực, và Thái Cực lớn lại diễn sinh ra vô số Thái Cực nhỏ. Gốc của vấn đề nằm ở chỗ: trên Trời thành tượng (Khí), dưới Đất thành hình (Chất). Can là Khí tượng, Chi là Hình tượng. Tất cả Mười Can và Mười Hai Chi đều tuân theo quy luật này. Khí của Trời vận hành và tác động xuống Đất, Hình của Đất (vạn vật) được hiển lộ dưới sự bao trùm của Trời.
Giáp Ất hành ở Trời, được xem như năng lượng Âm Dương của Thiên Quang (có thể hiểu nôm na là ảnh hưởng từ các thiên thể, vũ trụ), vận động trong không gian. Mà ở Đất, Dần Mão chính là biểu hiện cụ thể của việc tiếp nhận nguồn năng lượng Mộc đó. Vạn vật trên Trái Đất luôn không ngừng tiếp nhận Thiên Quang giáng xuống, trong đó có hai Khí Âm Dương của Mộc. Dần Mão tồn tại ở Đất, và đó là nơi Giáp Ất thi triển ảnh hưởng của mình. Cổ hiền, ngay cả trong tư duy logic về Can Chi, cũng dùng nguyên lý Âm Dương tương y (nương tựa, đi đôi) để biểu đạt, qua đó phản ánh mối quan hệ Hình (Địa Chi) luôn phải bám vào Khí (Thiên Can), và Khí (Thiên Can) luôn phải dựa vào Hình (Địa Chi) để biểu hiện.
Cho nên, có thể ví Giáp Ất như mệnh lệnh từ cấp trên (Trung ương), còn Dần Mão như các địa phương thực thi quản lý. Thiên Quang chiếu khắp, ban hành mệnh lệnh, nắm giữ quyền lực.
Từ đó có sự phân quản:
Giáp Ất quản hạt Dần Mão
Bính Đinh quản hạt Tị Ngọ
Mậu Kỷ quản hạt Thìn Tuất Sửu Mùi
Canh Tân quản hạt Thân Dậu
Nhâm Quý quản hạt Hợi Tý
Đây cũng chính là một trong những nguồn gốc của khái niệm “bản khí thông căn” mà người học Bát Tự sau này thường dùng.
Giáp có Lộc tại Dần, Ất có Lộc tại Mão. Điều này giống như quan phủ cai quản ở quận, quan huyện cai quản ở ấp. Mỗi Can trong Địa Chi nắm giữ quyền hành trong một số ngày nhất định của tháng, thực thi “quyền lực của Trời”. Ví dụ, trong Dần có Mậu (Thổ), Bính (Hỏa), Giáp (Mộc) là Nhân Nguyên (tàng Can) nắm quyền quản việc theo thời gian phân định. Mỗi thực thể, trong phạm vi quản hạt của mình, đều thi triển lý tưởng và phát huy công năng riêng, qua đó đạt được những giá trị và lợi ích nhất định.





Gửi phản hồi cho #05. Bốn mối quan hệ lớn của Âm Dương – Tử Bình Thuật Hủy trả lời